1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo: Dấu hiệu ô nhiễm biển pps

28 239 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Màu sắc gây nên bởi các tạp chất trong nước thường là do nên ấn tượng tâm lý cho người sử dụng.Độ màu thường được so sánh với dung dịch chuẩn trong ống Nessler, thường dùng

Trang 1

Dấu hiêêu

trực quan

Các chỉ tiêu vâêt lí, hoá học

Trang 2

Dấu hiêêu trực quan

Màu và mùi

Rác thải nổi

trên măêt nước

Xác chết của sinh vâêt

nổi trên măêt nước

Hiên tượng thuỷ triều đo

Hiêên tượng tràn dầu

Trang 3

Xác chết của sinh vâât nổi

trên măât nước

Xác chết của sinh

vâêt nổi trên măêt

nước

Trang 4

Rác thải nổi trên măêt nước

Trang 5

Biển có màu đen, bốc mùi hôi thối

Ồng thải của

các nhà máy

đưa ra biển

Ống cống thải

nước sinh

hoạt ra biển

Trang 6

Xuất hiêên thuỷ triều đo

Là hiêân tượng bùng nổ sốlượng tảo biển , có khi làm biển màu đỏ, màu xanh, Màu xám hoăâc như màu cám hoa gạo…

Trang 7

Hiêên tương tràn dầu

Ở Đại Liên – Trung Quốc Ở Đà Nẵng

Trang 8

I.Các chỉ tiêu vật lý

1 Độ pH

2 Nhiệt độ

3 Màu sắc

4 Độ đục

5 Tổng hàm lượng chất rắn (TS)

6 Tổng hàm lượng chất rắn lơ lững (SS)

7 Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (DS)

8 Tổng hàm lượng các chất dễ bay hơi (VS)

II.Các chỉ tiêu hóa học

1 Độ kiềm toàn phần

2 Độ cứng của nước

3 Hàm lượng oxigen hòa tan (DO)

4 Nhu cầu oxigen hóa học (COD)

5 Nhu cầu oxigen sinh hóa (BOD)

6 Một số chỉ tiêu hóa học khác trong nước

Trang 9

I CHỈ TIÊU VÂêT LÍ

ĐÔê pH

pH chỉ có định nghĩa về mặt toán học :

pH = -log[H+]

pH là một chỉ tiêu cần được xác định để đánh giá

chất lượng nguồn nước Sự thay đổi pH dẫn tới

sự thay đổi thành phần hóa học của nước (sự kết

tủa, sự hòa tan, cân bằng carbonat…), các quá

trình sinh học trong nước Giá trị pH của nguồn

nước góp phần quyết định phương pháp xử lý nước

pH được xác định bằng máy đo pH hoặc bằng

phương pháp chuẩn độ.

Trang 10

định tại chỗ (tại nơi lấy mẫu)

Trang 11

MÀU SẮC

Nước nguyên chất không có màu Màu sắc gây nên bởi các tạp chất trong nước (thường là do nên ấn tượng tâm lý cho người sử dụng.Độ màu thường được so sánh với dung dịch chuẩn trong ống Nessler, thường dùng là dung dịch K2PtCl6 + CaCl2 (1 mg K2PtCl6 tương đương với 1 đơn vị

chuẩn màu) Độ màu của mẫu nước nghiên cứu

được so sánh với dãy dung dịch chuẩn bằng

phương pháp trắc quang

Trang 12

ĐÔê ĐỤC

Độ đục gây nên bởi các hạt rắn lơ lửng trong nước Các chất lơ lửng trong nước có thể có nguồn gốc vô cơ, hữu cơ hoặc các vi sinh vật, thủy sinh vật có kích thước thông thường từ 0,1 – 10 m Độ đục

làm giảm khả năng truyền sáng của nước, ảnh hưởng tới quá trình quang hợp.1 đơn vị độ đục là sự cản

quang gây ra bởi 1 mg SiO2 hòa trong 1 lít nước cất

Độ đục được đo bằng máy đo độ đục (đục kế –

turbidimeter) Đơn vị đo độ đục theo các máy do Mỹ sản xuất là NTU (Nephelometric Turbidity Unit).

Trang 13

TỔNG HÀM LƯỢNG CHẤT RẮN TS

Các chất rắn trong nước có thể là những chất tan hoặc không tan Các chất này bao gồm

cả những chất vô cơ lẫn các chất hữu cơ Tổng

hàm lượng các chất rắn (TS : Total Solids) là

lượng khô tính bằng mg của phần còn lại sau

khi làm bay hơi 1 lít mẫu nước trên nồi cách

thủy rồi sấy khô ở 105oC cho tới khi khối lượng

không đổi (đơn vị tính bằng mg/L).

Trang 14

TỔNG HÀM LƯỢNG CHẤT RẮN

LƠ LỬNG SS

Các chất rắn lơ lửng (các chất huyền phù) là những chất rắn không tan trong nước Hàm lượng các chất lơ lửng (SS : Suspended Solids) là lượng khô của phần chất rắn còn lại trên giấy lọc sợi thủy tinh khi lọc 1 lít nước mẫu qua phễu lọc rồi sấy khô ở 105oC cho tới khi khối lượng không đổi Đơn vị tính là mg/L.

Trang 15

TỔNG HÀM LƯỢNG CHẤT RẮN

HOÀ TAN (DS)

Các chất rắn hòa tan là những chất tan được trong nước, bao gồm cả chất vô cơ lẫn chất hữu cơ Hàm lượng các chất hòa tan DS (Dissolved Solids) là lượng khô của phần dung dịch qua lọc khi lọc 1 lít nước mẫu qua phễu l ọc có giấy lọc sợi thủy tinh rồi sấy khô ở 105oC cho tới khi khối lượng không đổi Đơn vị tính là mg/L.DS = TS – SS

Trang 16

TỔNG HÀM LƯỢNG CÁC CHẤT

BI BAY HƠI

Để đánh giá hàm lượng các chất hữu cơ có trong mẫu nước, người ta còn sử dụng các khái niệm tổng hàm lượng các chất không tan dễ bay hơi (VSS : Volatile

Suspended Solids), tổng hàm lượng các chất hòa tan dễ bay hơi (VDS : Volatile Dissolved Solids).Hàm lượng các chất rắn lơ lửng dễ bay hơi VSS là lượng mất đi khi nung lượng chất rắn huyền phù (SS) ở 550oC cho đến khi khối lượng không đổi (thường được qui định trong một khoảng thời gian nhất định) Hàm lượng các chất rắn hòa tan dễ bay hơi VDS là lượng mất đi khi nung lượng chất rắn hòa tan DS) ở 550oC cho đến khi khối lượng không đổi (thường

được qui định trong một khoảng thời gian nhất định)

Trang 17

II CHỈ SỐ HOÁ HỌC ĐÔê KIỀM TOÀN PHẦN

Độ kiềm toàn phần (Alkalinity) là tổng hàm lượng các , CO32-, OH- có trong nước Độ kiềm trong nước tự nhiên thường gây nên bởi các muối của acid yếu, đặc biệt là các muối carbonat và bicarbonat Độ kiềm cũng có thể gây nên bởi sự hiện diện của các ion silicat, borat, phosphat… và một số acid hoặc baz hữu cơ trong nước, nhưng hàm lượng của những ion này thường rất ít so với các ion HCO3-, CO32-, OH- nên thường được

bo qua.Khái niệm về độ kiềm (alkalinity – khả năng trung hòa acid) và độ acid (acidity – khả năng trung hòa baz) là những chỉ tiêu quan trọng để

đánh giá động thái hóa học của một nguồn nước vốn luôn luôn chứa

carbon dioxid và các muối carbonat.Xét một dung dịch chỉ chứa các ion carbonat HCO3- và CO32- Ở các giá trị pH khác nhau, hàm lượng carbonat

sẽ nằm cân bằng với hàm lượng CO2 (cân bằng carbonat) vì trong nước luôn diễn ra quá trình :

2HCO3- < >CO32- + H2O + CO2 CO32- + H2O < > 2OH- + CO2

Giả sử ngoài H+ ion dương có hàm lượng nhiều nhất là Na+ thì ta

Trang 18

Độ kiềm được định nghĩa là lượng acid mạnh cần để trung hòa để đưa tất cả các dạng carbonat trong mẫu nước về dạng H2CO3.Như vậy ta có các biểu thức :

[Alk] = [Na+ ]

Hoặc [Alk] = [HCO3- ] + 2[CO32- ] + [OH- ] + [H+ ]

Người ta còn phân biệt độ kiềm carbonat (còn gọi là độ kiềm m hay độ kiềm tổng cộng T vì phải dùng metyl cam làm chất chỉ thị chuẩn độ đến pH = 4,5; liên quan đến hàm lượng các ion OH-, HCO3- và CO32-) với độ kiềm phi carbonat (còn gọi là độ kiềm p vì phải dùng phenolphtalein làm chất chỉ thị chuẩn độ đến

pH = 8,3; liên quan đến ion OH-) Hiệu số giữa độ kiềm tổng m và độ kiềm p được gọi là độ kiềm bicarbonat

Trên sơ đồ cân bằng carbonat trong nước cho thất, ở pH = 6,3, nồng độ CO2 hòa tan trong nước và nồng độ ion HCO3- bằng nhau, còn ở pH = 10,3 thì

nồng độ các ion HCO3- và CO32- sẽ bằng nhau Ở pH < 6,3 các ion carbonat chuyển sang dạng CO2 hòa tan, ở pH > 10,3 dạng tồn tại chủ yếu là dạng

CO32-, còn trong khoảng 6,3 < pH < 10,3 dạng tồn tại chủ yếu là HCO3-

Trang 19

ĐÔê CỨNG CỦA NƯỚC

Độ cứng của nước gây nên bởi các ion đa hóa trị có mặt

trong nước Chúng phản ứng với một số anion tạo thành kết tủa Các ion hóa trị 1 không gây nên độ cứng của nước Trên thực tế vì các ion Ca2+ và Mg2+ chiếm hàm lượng

chủ yếu trong các ion đa hóa trị nên độ cứng của nước

xem như là tổng hàm lượng của các ion Ca2+ và Mg2+

Trang 20

HÀM LƯỢNG OXI HOÀ TAN

Oxigen hòa tan trong nước (DO : Dissolved Oxygen) không tác dụng với nước về mặt hóa học Hàm lượng DO trong nước phụ thuộc nhiều yếu tố như áp suất, nhiệt độ, thành phần hóa học của nguồn nước, số lượng vi sinh, thủy sinh vật…Hàm lượng oxigen hòa tan là một chỉ số đánh giá “tình trạng sức khoe” của nguồn nước Mọi nguồn nước đều có khả năng tự làm sạch nếu như nguồn nước đó còn đủ một lượng DO nhất định Khi DO xuống đến khoảng 4 – 5 mg/L, số sinh vật có thể sống được

trong nước giảm mạnh Nếu hàm lượng DO quá thấp, thậm

chí không còn, nước sẽ có mùi và trở nên đen do trong nước lúc này diễn ra chủ yếu là các quá trình phân hủy yếm khí,

các sinh vật không thể sống được trong nước này nữa

Trang 21

NHU CẦU OXI HOÁ HỌC

Nhu cầu oxigen hóa học (COD : Chemical Oxygen Demand) là lượng oxigen cần thiết (cung cấp bởi các chất hóa học) để oxid hóa các chất hữu cơ trong nước Chất oxid hóa thường dùng là KMnO4 hoặc K2Cr2O7 và khi tính toán được qui đổi về lượng oxigen tương ứng ( 1 mg KMnO4 ứng với 0,253 mgO2)

Các chất hữu cơ trong nước có hoạt tính hóa học khác nhau Khi bị oxid hóa không phải tất cả các chất hữu cơ đều chuyển hóa thành nước và CO2 nên giá trị COD thu được khi xác định bằng phương pháp KMnO4 hoặc K2Cr2O7 thường nhỏ hơn giá trị COD lý thuyết nếu tính toán từ các phản ứng hóa học đầy đủ Mặt khác, trong nước cung có thể tồn tại một số chất vô cơ có tính khử (như S2-, NO2-, Fe2+ …) cung có thể phản ứng được với KMnO4 hoặc K2Cr2O7 làm sai lạc kết quả xác định COD

Như vậy, COD giúp phần nào đánh giá được lượng chất hữu cơ trong nước có thể bị oxid hóa bằng các chất hóa học (tức là đánh giá mức độ ô nhiễm của nước) Việc xác định COD có ưu điểm là cho kết quả nhanh (chỉ sau

khoảng 2 giờ nếu dùng phương pháp bicromat hoặc 10 phút nếu dùng

Trang 22

NHU CẦU OXI SINH HOÁ

Nhu cầu oxigen sinh hóa (BOD : Biochemical Oxygen Demand) là lượng oxigen cần thiết để vi khuẩn có trong nước phân hủy các chất hữu cơ Tương tự như COD, BOD cung là một chỉ tiêu dùng để xác định mức độ nhiễm bẩn của nước (đơn vị tính cung là mgO2/L) Trong môi trường nước, khi quá trình oxid hóa sinh học xảy ra thì các vi khuẩn sử dụng oxigen hòa tan để oxid hóa các chất hữu cơ và chuyển hóa chúng thành các sản phẩm vô cơ bền như CO2, CO32-, SO42-, PO43- và cả NO3-

Trang 23

Do hoạt đôâng

du lich và nuôi

trồng thuỷ sản

Dotrình đôâ dân trí thấp

Do tăng dân số

Thể chế và chính sách quản lí

Trang 24

DO HOẠT ĐÔêNG DU LỊCH VÀ NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

- Trước đây, người dân thường chỉ nuôi quảng canh,

ít sử dụng thức ăn và hoá chất

độc hại Gần đây, phần lớn

cơ sở đã đi vào nuôi trên quy

mô công nghiệp dẫn tới các

nơi cư trú sinh vật, bãi đẻ, bãi

giống bị huỷ diệt, dịch bệnh x

uất hiện tràn lan Hơn nữa, tình

trạng ONMT còn do các

địa phương khai thác, sử dụng

không hợp lý các vùng đất

cát ven biển dẫn tới việc thiếu

nước ngọt, xói lở, sa bồi bờ

biển với mức độ ngày càng

DO HOẠT ĐÔêNG DU LỊCH VÀ NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

Trang 25

Việc khai thác bằng đánh mìn, sử dụng hoá chất độc hại làm cạn kiệt

nhanh chóng nguồn lợi thuỷ sản và gây

hậu quả nặng nề cho các vùng sinh thái

biển Các hoạt động du lịch có ảnh hưởng

không nhỏ đến môi trường sinh thái, cảnh

quan tự nhiên của biển

VD : Điển hình là Vườn quốc gia Cát Bà với 5.400ha mặt nước, được coi là

khu bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam với

nhiều khu dự trữ tài nguyên sinh thái biển

lớn Nhưng từ một hòn đảo khá đẹp và

trong lành, Cát Bà đã bị biến thành một

hòn đảo “tạp” kể từ khi được đưa vào khai

thác du lịch và nuôi trồng thủy sản Những

khu du lịch, những khu nuôi cá lồng bè,

khu đánh bắt cá tất cả đều được quy

hoạch “bám” ra mặt biển.Theo thống kê,

mỗi ngày có hàng nghìn tấn rác được đổ

Trang 26

DO TĂNG DÂN SỐ

Biển và vùng bờ là nơi giàu có và đa dạng các loại hình tài nguyên, cũng như chứa đựng tiềm năng phát triển kinh tế đa Dạng Tỷ lệ tăng dân số ở vùng này cũng thường cao hơn trung bình cả nước Nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên và hình thành thói quen tiêu thụ tài nguyên lãng phí Kết quả đã gây sức

ép rất lớn đến môi trường đô thị, khu dân cư ven biển, làm suy giảm và suy thoái tài nguyên biển và vùng ven bờ.

Trang 27

TRÌNH ĐÔê DÂN TRÍ THẤP

Tư duy người vạn chài hết sức giản đơn, xem sản vật bắt được là sự ban tặng của biển trời Cứ thế, khái niệm bảo vệ nguồn lợi và môi trường biển dường như vẫn còn xa vời với họ

Thực tế quản lý cho thấy, không thay đổi nhận thức của người dân, không cải thiện sinh kế cho họ, không lôi cuốn được họ tham gia vào quá trình quản lý, thì tài nguyên và môi trường biển tiếp tục bị khai thác huỷ diệt

Trang 28

THỂ CHẾ VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LY

Theo cách quản lý này, các ngành thường chú trọng nhiều hơn đến mục tiêu phát triển kinh tế, các mục tiêu xã hội và môi trường

ít được ưu tiên, tính toàn vẹn và tính liên kết của các hệ thống tự

nhiên vùng bờ nói trên bị chia cắt, mâu thuẫn lợi ích trong sử dụng tài nguyên vùng này ngày càng tăng, ảnh hưởng đến tính bền vững của các hoạt động phát triển ở đây

Liên quan đến quản lý biển và vùng bờ có nhiều cơ quan quản

lý khác nhau, nhưng vẫn còn chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ, trong khi có những mảng trống bị bỏ ngỏ không ai có trách nhiệm giảiquyết

Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào tiến trình quản lý hoàn toàn thụ động và không thường xuyên, do còn thiếu các quy định

Ngày đăng: 31/07/2014, 05:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN