1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận Lý Thuyết Thống Kê pot

35 381 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Để thành công trong tương lai sinh viên cần gì
Tác giả Lê Thị Hiền, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Sa, Cao Thị Tình, Phùng Thị Thanh
Người hướng dẫn Th.s Nguyễn Đình Uông
Trường học Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - Khoa Kinh tế
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 305,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên khánhiếu sinh viên được đào tạo ở những môi trường như vậy khi ra trường lạikhông áp dụng được những kiến thức đã học vào thực tế, kém thích ứng vớimôi trường làm việc tạo nên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ LUẬT

Trang 2

Năm 2010

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam hiện nay đang trên đà phát triển mà lực lượng lao động là một yếu

tố quyết định không nhỏ Yêu cầu của sự phát triển đất nước đối với nguồnlao động hiện nay không chỉ là đảm bảo sổ lượng mà chất lượng còn phải cao.Nhưng theo đánh giá của nhiều nhà chuyên môn thì hiện nay, lực lượng laođộng Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu Trong khi doanh nghiệp cầnngười có đủ năng lực cụ thể, phù hợp với thực tế để làm việc thì hệ thống đàotạo của chúng ta chỉ chủ trọng đào tạo kiến thức Trong khi các cử nhân, kỹ sưtrẻ không tìm được việc thì các doanh nghiệp lại đau đầu vì không tuyển đượcnhân viên phù hợp Thị trường lao động vừa thừa vừa thiếu đang là một lãngphí lớn cho xã hội

Trong những năm gần đây, nước ta đã và đang chú trọng nhiều đến giáo dụcđào tạo lực lượng lao động có trình độ cao Các trường đại học, cao đẳng,trung cấp… không ngừng phát triển về qui mô và chất lượng Tuy nhiên khánhiếu sinh viên được đào tạo ở những môi trường như vậy khi ra trường lạikhông áp dụng được những kiến thức đã học vào thực tế, kém thích ứng vớimôi trường làm việc tạo nên tâm lý chán nản dẫn đến không trụ nổi lâu trongcông việc hoặc không mấy thành công

Nhu cầu lao động ở Việt Nam đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh đang rất lớnnhưng để tìm được một công việc như ý là một vấn đề không phải đơn giản

Cơ hội việc làm cũng đang là một vấn đề lo lắng của nhiều sinh viên, lo sợimình không hội tụ đầy đủ kiến thức và kỹ năng cũng như khả năng áp dụng

Trang 3

vào thực tế để có nhiều cơ hội việc làm trong tương lai cũng như để thànhcông trong công việc.

Xuất phát từ rất nhiều băn khoăn lo lắng của sinh viên và thực trạng hiện naycủa đất nước, đề tài “ Để thành công sinh viên cần gì” được hình thành

3

Trang 4

II Mục tiêu của đề tài

Đề tài được thực hiện với các mục tiêu nghiên cứu sau:

1 Khảo sát những người có kinh nghiệm, biết được những điều kiện cầnthiết để sinh viên có nhiều cơ hội việc làm trong tương lai

2 Biết được những khó khăn mà sinh viên gặp phải khi mới bắt đầu côngviệc cũng như những kỹ năng cần thiết để thích nghi và vượt qua những khókhăn đó

3 Khảo sát vai trò của các kỹ năng mềm cũng như trình độ chuyên môn đếnthu nhập và thăng tiến

4 Đề xuất một số giải pháp đối với sinh viên và nhà trường để sinh viên cóđược phương pháp học tập phù hợp với yêu cầu nghề nghiệp trong tương lai

III Ý nghĩa của đề tài

1 Đối với sinh viên

Giúp sinh viên biết được yêu cầu công việc trong tương lai và những khókhăn thường gặp phải từ đố rút ra được phương pháp học tập, rèn luyện, traodồi kiến thức chuyên môn và thực tiễn để có được mức thu nhập cao, cơ hộithăng tiến tốt trong tương lai

2 Đối với nhà trường

Biết được khó khăn mà sinh viên gặp phải khi ra trường, sinh viên cần cónhững điều kiện gì để hòa nhập vào môi trường mới và thành công trongtương lai Từ đó đưa ra những chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu củathị trường lao động

IV Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của đề tài là những người đi làm có trình độ trung cấp trở lên tại tpHCM có kinh nghiệm trên 1 năm

2 Phương pháp nghiên cứu

- Phân tích định tính:

Trang 5

+ Thiết kế bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu.

+ Tham khảo ý kiến của một số đối tượng để kiểm tra tính tương thích củabảng câu hỏi

1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài có tên là : “để thành công sinh viên cần gì” Đề tài nghiên cứu về tầmquan trọng của kiến thức chuyên môn và các kỹ năng mềm đến sự thành côngtrong công việc

Kiến thức chuyên môn mà đề tài muốn nói đến là học lực của sinh viên baogồm kiến thức chuyên ngành ở nhà trường, khả năng ngoại ngữ…

Về kỹ năng mềm, đề tài chỉ khảo sát những kỹ năng cơ bản như làm việcnhóm, giao tiếp, sự tự tin, khả năng quản lý thời gian…mà sinh viên có thể tựrèn luyện ngay lúc còn trên ghế nhà trường

2 Giới hạn vùng nghiên cứu

Đề tài tập trung khảo sát ở khu vực tp HCM Đây là khu vực thu hút lượng laođông đảo từ nhiều nơi trên đất nước với nhịp độ phát triển sôi động vì thếtầm ảnh hưởng của kiến thức chuyên môn và kỹ năng mềm ở đây được thểhiện rất rõ Đối tượng điều tra là những người đã có kinh nghiệm 1 năm trởlên để thu được nhiều thông tin hơn giúp ích cho đề tài

5

Trang 6

VI Cấu trúc nội dung đề tài

1 Chương I: Chương mở đầu

2 Chương II: Cơ sở lý luận của đề tài

3 Chương III: Tổng quan về sinh viên và việc làm

4 Chương IV: phân tích, đánh giá kết quả

5 Chương V: kết luận, các hạn chế của đề tài, kiến nghị

Trang 7

Chương 2: Cơ sở lý luận

1 Chương trình đào tạo

Một thực tế hiện nay ở Việt Nam là chương trình giảng dạy ở hầu hết cáctrường đại học, cao đẳng hay các trường trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghềcòn nặng về lý thuyết mà chưa chú trọng đầy đủ tới việc thực hành.bên cạnh

đó là lượng giảng viên còn quá ít và chưa có chất lượng vì vậy phần lớn sinhviên sau khi ra trường đều chưa thể áp dụng hết được kiến thức đã học vàocông việc thực tế

Khi ra trường để tìm kiếm được việc làm và làm được việc thì không chỉcần kiến thức chuyên môn mà còn cần rất nhiều đến những kỹ năng khác.Nhưng đáng buồn là còn rất nhiều trường chưa quan tâm tới việc rèn luyệncác kỹ năng cần có này Không chỉ ở hầu hết các trường tư thục mà 1 sốtrường công cũng chưa quan tâm đầy đủ

2 Tâm lý sinh viên

Trước mỗi mùa tuyển sinh, để thu hút sinh viên vào học trường mình thìhầu hết các trường đều đưa ra một đề mục khá hấp dẫn cho các độc giả Điểmnổi bật của đề mục khiến mọi người quan tâm hàng đầu là sau khi ra trườngbảo đảm sinh viên sẽ tìm được việc làm tốt, mức thu nhập cao… Việc nàykhông chỉ diễn ra ở những trường có tên tuổi, uy tín thực sự mà nó diễn ra ởhầu hết các trường kể cả những trường có đầu vào rất thấp Đây có thể nói làbước đầu tiên hình thành nên một tâm lý ỷ nại vào nhà trường của không ítsinh viên

7

Trang 8

Một số sinh viên khi đã phấn đấu hết mình để đậu được vào các trường códanh tiếng Nhưng khi đã đậu được vào các trường này thì họ lại không còn

cố gắng phấn đấu như trước

Và cũng không ít sinh viên quá chủ quan với khả năng tiếp thu của mìnhnên không chú tâm học tập mà chỉ đến khi thi mới lo học và cũng nhiều sinhviên chỉ mới đến năm cuối mới lo học tập và rèn luyện những kỹ năng cần có

Một số ít sinh viên còn mang tư tưởng học chạy theo thành tích chỉ chú ýhọc lý thuyết mà không quan tâm nhiều tới thực hành

3 Cơ sở vật chất

Hầu như các trường từ tư thục tới trường công đều chưa có đủ điều kiện

cơ sở, vất chất để cho sinh viên học tập và thực hành

4 Phía nhà tuyển dụng

Hiện nay không chỉ các doanh nghiệp nước ngoài quan tâm nhất là nănglực thực sự của sinh viên sau khi ra trường chứ không phải là các tấm bằng

mà sinh viên đó có được mà đó cũng là điều mà các danh nghiệp trong nước

quan tâm hàng đầu

Trang 10

Chương 3: Tổng quan về sinh viên và điều kiện việc làm1.Tình hình chung của sinh viên thành phố

Thành phố HCM là địa bàn tập trung sinh viên lớn nhất Việt Nam Với

số lương trường đào tạo trên đại học,đại học,cao đẳng,trung cấp,các trườngdạy nghề,các trung tâm đào tao kỹ năng…đáng kể, đáp ứng nhu cầu về laođộng có chất lương ngày càng cấp thiết của nền kinh tế

Sinh viên có tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 dễ thay đổi, chưa địnhhình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang đượcđào tạo chuyên môn Vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi

và sáng tạo Kế thừa những truyền thống tốt đẹp cùng với lý tưởng, hoài bảolớn , sinh viên là nền tảng quan trọng trong ổn định và phát triển kinh tế,vănhóa,xã hội… Sinh viên Việt Nam là những trí thức tương lai của đất nước,không ai hết mà chính họ sẽ là những người đóng vai trò chủ chốt trong côngcuộc CNH, HĐH đất nước Thế kỷ XXI là thế kỷ của văn minh trí tuệ, của sựphát triển KHKT, nên rất cần có những con người trẻ tuổi, có trình độ và nănglực sáng tạo cao, có khả năng tiếp nhận cái mới rất nhanh và biết thay đổi linhhoạt, thích nghi kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại, đạidiện cho một thế hệ tiên tiến mới

Hầu hết sinh viên luôn tích cực học tập ,trau dồi kĩ năng sống và làm việccho tương lai, mong muốn đáp ứng được đòi hỏi của nhà tuyển dụng và thuậnlợi cho phát triển bản thân

Hàng năm lượng sinh viên tốt nghiệp đạt 85%-90% sinh viên theo học

*.Về chất lượng sinh viên ra trường:

Trang 11

Nhìn chung sinh viên ra trường đã chuẩn bị được những yếu tố chuyênmôn và kĩ năng cơ bản để làm việc, thích nghi nhanh với môi trường, luônkhông ngừng học hỏi kinh nghiệm và nâng cao trình độ Có khả năng làmviệc linh hoạt, dù trái chuyên nghành đào tạo…

Bên cạnh đó còn có một số vấn đề tồn tại.Theo kết quả khảo sát từ đề tàitrọng điểm cấp Bộ do ĐH Sư phạm TP HCM thực hiện, các nhà tuyển dụngphải đào tạo lại cho hơn 50% sinh viên tốt nghiệp, vì không đáp ứng được yêucầu chuyên môn Số liệu trên do Bộ Giáo dục đào tạo công bố tại Hội nghịtoàn quốc chất lượng giáo dục ĐH, diễn ra ở TP HCM, ngày 5/1

Đơn cử trường hợp tuyển dụng của tập đoàn Intel Giám đốc kỹ thuậtMichael Lương cho biết, đầu năm 2007, tập đoàn này sử dụng bài test đối với2.000 sinh viên năm cuối tại 5 ĐH lớn ở TP HCM Kết quả, chỉ có 90 em đápứng trên 60% yêu cầu theo quy định tuyển dụng

"Chúng tôi cần ở sinh viên kỹ năng thực hành, tính sáng tạo, khả năng giaotiếp, khả năng làm việc linh hoạt độc lập, hoặc theo nhóm chứ không chỉnhững kiến thức lý thuyết", ông Michael Lương nói

Hầu hết ý kiến cho rằng, việc đánh giá các sản phẩm giáo dục như sinh viêntốt nghiệp, kết quả nghiên cứu khoa học, sẽ chỉ ra chính xác kết quả thực tếcủa các trường

Theo ông Thái Bá Cần, Hiệu trưởng ĐHSP Kỹ thuật TP HCM, đánh giá chấtlượng giáo dục ĐH phải dựa trên mục tiêu đào tạo của mỗi trường Mục tiêuđào tạo không rõ ràng sẽ kéo theo chất lượng đào tạo không hiệu quả

"Hầu hết sinh viên hiện nay, bước chân vào trường ĐH chỉ biết học và học,

mà không xác định được mình sẽ trợ thành người như thế nào, làm gì sau khitốt nghiệp Không ít giảng viên chưa hiểu hết mục tiêu đào tạo của nhà

11

Trang 12

trường, chỉ biết hoàn thành vai trò của mình trong phạm vi nhỏ của môn dạy"ông Cần phản ánh.

Còn thứ trưởng Bộ Giáo dục đào tạo Bành Tiến Long thừa nhận, nhiều ĐHthậm chí chưa xác định được mục tiêu đào tạo của đơn vị, hoặc xác địnhkhông phù hợp Kết quả kiểm định thí điểm của Bộ giáo dục tại 20 trường,vẫn có 4 ĐH hàng đầu chưa đáp ứng được các yêu cầu về việc xác định mụctiêu đào tạo

Tấm bằng Đại học cuối cùng chỉ là tấm vé vào đời, chỉ là điều kiện cầnnhưng chưa đủ Khi đã không đáp ứng được yêu cầu từ các doanh nghiệptuyển dụng, tân cử nhân rơi vào tình trạng thất nghiệp… Rất nhiều bạn ngồichờ thời cơ từ các nhà tuyển dụng khác, một số bạn chấp nhận làm trái ngànhnghề với mức lương tạm đủ sống, số khác học văn bằng 2 hoặc học lên Caohọc như một liệu pháp cho vấn đề việc làm

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đào tạoNguyễn Thiện Nhân yêu cầu tới 12/2008, các ĐH, CĐ phải công bố chuẩnđầu ra, và xây dựng được chương trình khung trong năm 2009 "Đối với cáctrường chưa công bố được chuẩn đầu ra, thì phải có chế tài tuyển sinh Sảnphẩm giáo dục chỉ được thừa nhận khi nó tương thích, phù hợp với đầu ra",Phó thủ tướng, nói

2.Tình hình kinh tế và nhu cầu lao động

a)Kinh tế TP HCM

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam.Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số của Việt Nam nhưng chiếmtới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự ánnước ngoài] Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động,

Trang 13

trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gialàm việc Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người ở thành phố đạt 2.100USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước, 730 USD/năm vào 2006

Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khaithác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch,tài chính Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%,ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nướcngoài Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phầncòn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp vàthủy sản chỉ chiếm 1,2%

Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Thànhphố Hồ Chí Minh đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án

có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉVND Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài với 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007.Riêng trong năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD]

Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm muasắm, siêu thị, chợ đa dạng Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thươngmại từ xa xưa của thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng Nhữngthập niên gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như SaigonTrade Centre, Diamond Plaza Mức tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minhcũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt Nam và gấp 1,5 lần thủ đô

Hà Nội Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch

là VN-Index, được thành lập vào tháng 7 năm 1998 Tính đến ngày 31 tháng

12 năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết,trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷ đồng

13

Trang 14

Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt vớinhiều khó khăn Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độcông nghệ hiện đại Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sởngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm,18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy có trình độ công nghệ, kỹthuật sản xuất tiên tiến Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giátiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp cũng gây khó khăn chonền kinh tế Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vựccao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn.

b)Nhu cầu lao động

Qúy 3 năm 2009.Theo phân loại của Trung tâm GTVL TPHCM, cácngành nghề như: marketing, dịch vụ, pháp lý, phục vụ có nhu cầu lao độngcao nhất, với 4.504 lao động; kế tiếp là tài chính, ngân hàng, giáo dục với3.656 lao động; quản lý, hành chính, vật tư cần 3.246 lao động Một số nhómngành nghề sử dụng nhiều lao động như dệt may, thủ công mỹ nghệ, điện -điện tử, bảo vệ được dự báo sẽ khó tuyển lao động

Hiện nay thành phố đang thiếu nguồn lao động chất lượng, có trình độcao, có tay nghề.Sau khủng hoảng kinh tế , theo nhận định của nhiều chuyêngia thì thị trường lao động Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục thiếu hụt và khan hiếmnguồn nhân lực cấp quản lý trở lên ví dụ như các chức danh giám đốc bánhàng, giám đốc tiếp thị, trưởng phòng đối ngoại… Theo một cuộc điều tratiến hành tại 630 doanh nghiệp trên hai vùng kinh tế trọng điểm là Hà Nội,

Tp HCM và các tỉnh lân cận của VCCI năm 2009 thì bức tranh về tình hìnhlao động vẫn không mấy thay đổi, thể hiện ở việc các doanh nghiệp thừa nhậnviệc tuyển dụng lao động chất lượng cao rất khó khăn

Trang 15

Chương 4 Phân tích mẫu khảo sát

1.Mô tả mẫu điều tra

Thu nhập hiện tại (VND):

Dưới 3 triệu : 16 % Từ 3-5 triệu : 48 %

Từ 10-15 triệu : 24 % Trên 15 triệu : 12 %

15

Trang 16

2.Phân tích mẫu khảo sát

Đầu tiên, nhận xét về đối tượng khảo sát: thời gian sau khi tốt nghiệp đến khi

có việc làm là bao lâu?

Trang 17

Thoi gian sau khi tot nghiep den khi co viec lam

Valid

Frequency Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Ta xét tiếp mức độ thay đổi công việc của các đối tượng được khảo sát

Theo kết quả mà chúng tôi khảo sát được thì có tới 74.7% số người đã từngthay đổi công việc trong đó số người đã thay đổi từ 1-3 lần chiếm 52% và 3-6lần là 22.7% chỉ có 25.3% là chưa thay đổi công việc lần nào Vậy khôngphải ai ra trường có việc làm ngay mà việc đó phù hợp với ý muốn của mình.Rất nhiều sinh viên sau khi ra trường phải chấp nhận công việc tạm thời đểtích lũy kinh nghiệm và chờ cơ hội

17

Ngày đăng: 30/07/2014, 19:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w