1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình bản đồ học part 9 ppt

22 392 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Bản Đồ Học Part 9 Ppt
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Bản Đồ Học
Thể loại Giáo Trình
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 566,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Theo kỹ thuật thành lập, phụ thuộc vào phương pháp chuyển vẽ hình ảnh từ bản đồ tài liệu lên bản đồ cần thành lập.. Phương pháp này chỉ áp dụng đối với bản đồ có mức độ phức tạp trung

Trang 1

6.4.1 Các phương pháp chính thành lập bản đồ gốc

Trong các sách vở bản đồ đều phân loại các phương pháp thành lập bản

đồ gốc theo 4 dấu hiệu sau:

- Theo mối liên quan của quá trình thành lập bản đồ với các quá trình tiếp theo chuẩn bị in bản đồ

- Theo kỹ thuật thành lập, phụ thuộc vào phương pháp chuyển vẽ hình ảnh từ bản đồ tài liệu lên bản đồ cần thành lập

Phân loại các phương pháp thành lập bản đồ:

1- Theo mối liên hệ giữa thành lập và chuẩn bị in bản đồ:

+ Thành lập bản gốc biên vẽ và bản gốc thanh vẽ riêng biệt

+ Đồng thời thành lập bản gốc biên vẽ và bản gốc thanh vẽ

+ Kết hợp bản gốc biên vẽ và thanh vẽ trên 1 bản

2- Theo tỷ lệ bản gốc:

+ Thành lập ở tỷ lệ của bản đồ sẽ in

+ Thành lập ở tỷ lệ lớn hơn tỷ lệ bản đồ tư liệu

+ Thành lập ở tỷ lệ nhỏ hơn

3- Theo kỹ thuật chuyển vẽ hình ảnh bản đồ:

+ Phương pháp quang cơ

Trang 2

+ Vẽ trên nền không trong suốt (giấy, màng khắc, )

+ Vẽ trên nền trong suốt (điamát)

+ Vẽ trên vật liệu ảnh bằng dụng cụ quang học

5- Vẽ trên khuôn in bằng tia lazer hoặc tia điện tử

a Phương pháp thành lập và chuẩn bị in bản đồ riêng biệt

Ở phương pháp này quá trình thành lập và chuẩn bị in được tiến hành trên các bản gốc khác nhau Các bản gốc này do những người có trình độ và tay nghề khác nhau thực hiện Chúng được thực hiện tuần tự theo công nghệ sản xuất chung (bản gốc biên vẽ  bản gốc thanh vẽ) Người thành lập bản đồ làm

ra bản gốc biên vẽ (là hình mẫu bản đồ cần lập) Để in ấn xuất bản đồ phải làm bản gốc thanh vẽ

Phương pháp này thường áp dụng cho đa số các loại bản đồ có nội dung phức tạp đòi hỏi phải sử dụng nhiều nguồn tài liệu và phải xử lý chúng

b Phương pháp đồng thời thành lập và chuẩn bị in trên một bản gốc

Ở phương pháp này thường thành lập bản gốc biên vẽ và thanh vẽ là một

và thường vẽ trên điamát hay màng khắc

Trên bản gốc này, nét vẽ, chữ số, ký hiệu phải đáp ứng yêu cầu của quy phạm, thời gian sản xuất, tiết kiệm Nhưng để thực hiện phương pháp này đòi hỏi ngưòi thành lập phải có trình độ tay nghề cao (kiến thức, khả năng vẽ, đồ hoạ tốt) Phương pháp này chỉ áp dụng đối với bản đồ có mức độ phức tạp trung bình về nội dung, các tài liệu, tư liệu bản đồ phải đồng nhất về tỷ lệ và gần với tỷ lệ của bản đồ Đôi khi trong phương pháp này, các nhà bản đồ thành

Trang 3

lập bản đồ trên bản copy tài liệu bản đồ, sau đó các thợ vẽ, công nhân kỹ thuật

vẽ lại trên bản gốc thanh vẽ với chất lượng đồ hoạ tốt hơn

c Phương pháp kết hợp thành lập và chuẩn bị in bản đồ

Ở phương pháp này, nội dung phức tạp khó khăn thì thành lập trên bản gốc biên vẽ, phần đơn giản hơn thì thành lập trên bản gốc thanh vẽ Phương pháp này cũng rút ngắn được thời gian sản xuất, sử dụng đồng thời các cán bộ, nhân viên có trình độ tay nghề khác nhau Để thực hiện phương pháp này có 2 phương án:

- Phương án 1: Các kỹ sư bản đồ thực hiện công việc tổng quát hoá nội dung bản đồ bằng bút chì Sau đó vẽ theo đó, thực hiện vẽ trên màng khắc, giấy hay điamát

- Phương án 2: Thực hiện phức tạp hơn Khi đó, từ bản gốc can ghép người ta làm bản copy (bản lam) Trên bản này tiến hành thành lập các đối tượng nội dung cần tổng hợp hoá hình ảnh

Một trong những phương án của phương pháp kết hợp là thành lập bản gốc trên copy 2 mặt của nền nhựa trong điamát Phương pháp này áp dụng khi

tỷ lệ bản đồ tài liệu chính bằng hay gần bằng tỷ lệ bản đồ cần lập

Để thực hiện công việc theo phương pháp này, từ các bản gốc can ghép của bản đồ tài liệu chính, người ta tiến hành làm copy 2 màu lên 2 mặt của bản nhựa trong điamát Trên một mặt là copy màu lam, trên mặt kia là copy màu nâu hoặc đen

Trên diện tích cần chọn lọc đối tượng hay khái quát hình ảnh đối tượng (sửa chữa hình ảnh), người ta xoá bỏ hình ảnh trên copy màu đen, còn trên copy màu lam tiến hành vẽ thành lập đối tượng theo tài liệu Ở những chỗ không có gì thay đổi thì tiến hành vẽ bình thường Kết quả trên bản gốc này là bản gốc biên vẽ, từ đó làm copy cho bản thanh vẽ

2 Các phương pháp thành lập phân loại theo tỷ lệ bản đồ cần lập

Trang 4

Theo tỷ lệ thì bản gốc biên vẽ có thể thành lập ở tỷ lệ bản đồ cần lập, hay lớn hơn hoặc nhỏ hơn

- Đa số các trường hợp bản gốc biên vẽ được thành lập ở tỷ lệ bản đồ cần lập vì nó cho chúng ta khái niệm tổng quan về tải trọng bản đồ và lượng các ký hiệu, kích thước ký hiệu cần thể hiện

Đối với bản đồ địa lý chung thì bản đồ tài liệu chính thường có tỷ lệ lớn hơn tỷ lệ bản đồ cần lập Đối với bản đồ chuyên đề thì sử dụng nền cơ sở địa lý

ở tỷ lệ hay gần với tỷ lệ bản đồ cần lập

- Thành lập bản đồ ở tỷ lệ khác biệt:

Trong trường hợp các bản đồ tài liệu có tỷ lệ lớn hơn nhiều lần tỷ lệ bản

đồ cần lập (4 lần) thì người ta thực hiện phương pháp này Khi tiến hành thành lập bản đồ ở tỷ lệ cần lập, bản đồ tài liệu chính ở các tỷ lệ khác biệt thì phải thực hiện chọn lọc, khái quát đối tượng có tính đến tỷ lệ bản đồ cần lập Khi đó các yếu tố nội dung được vẽ bằng các ký hiệu có kích thước lớn hơn để sau này còn thu nhỏ lại Từ các bản đồ tài liệu người ta làm bản copy và cắt dán lên khung bản đồ ở tỷ lệ cần lập Trên đó người ta tiến hành chính xác hoá việc chọn lọc, khái quát đối tượng, ghi chú, tô màu nền Kết quả ta thu được bản gốc biên vẽ ở tỷ lệ cần lập

- Thành lập ở tỷ lệ nhỏ hơn: Ít khi người ta sử dụng phương pháp này trong thành lập bản đồ:

Phương pháp này được sử dụng khi thành lập các bản đồ treo tường Những bản đồ này có tải trọng bản đồ không lớn, dùng để đọc và sử dụng từ xa, kích thước bản đồ lớn Điều này cho phép thành lập bản đồ ở tỷ lệ nhỏ hơn tỷ lệ bản đồ cần lập, từ đó rút bớt được khối lượng công việc thành lập và trình bày bản đồ Tải trọng của bản đồ trong các trường hợp này được thử nghiệm trên các bản mẫu, trích mảnh đóng với tỷ lệ bản đồ cần lập Kích thước ký hiệu được thu nhỏ tỷ lệ thuận với tỷ lệ bản gốc biên vẽ

3 Phân loại các phương pháp thành lập theo kỹ thuật thành lập và dạng nền

sử dụng

Trang 5

Theo kỹ thuật thành lập, phụ thuộc vào phương pháp chuyển vẽ từ bản

đồ tài liệu lên nền của bản đồ cần lập, người ta chia ra:

- Phương pháp quang cơ

có tỷ lệ lớn hơn, người ta chụp lại (trên máy ảnh chuyên dụng) thu về tỷ lệ bản

đồ cần lập Sau đó từ phim âm làm ra các bản lam Các bản lam được can ghép trên nền đế cứng không co giãn (nhôm, kẽm) Sau đó chuyển vẽ cơ sở toán học, lưới chiếu bản đồ lên Đây chính là nền bản đồ Theo các nét lam này người ta thành lập nội dung bản đồ bằng các màu mực đã quy định trong quy phạm cho

bản đồ (trên giấy) Thành công chính của phương pháp là không phải khái quát hình ảnh theo tỷ lệ bản đồ, dễ dàng tổng quát hoá nội dung Nó đảm bảo độ chính xác cần thiết, tăng năng suất lao động Phương pháp này chỉ áp dụng khi bản đồ tài liệu chính có tỷ lệ lớn hơn không quá 2 – 3 lần tỷ lệ bản đồ cần lập

- Phương pháp chiếu ảnh nhờ các thiết bị quang học chuyên dụng:

Hình ảnh bản đồ tài liệu được chiếu lên giấy Theo đó người ta tiến hành tổng quát hoá nội dung bằng nét chì và vẽ lại bằng mực luôn

Phương pháp này thực hiện khi thành lập bản đồ từ nguồn tài liệu khác nhau đòi hỏi đưa lên hình ảnh số lượng lớn các đặc trưng của đối tượng

Phương pháp này thường dùng để hiệu chỉnh bản đồ theo ảnh hàng

không Nhược điểm của phương pháp này là năng suất lao động không cao, sử dụng máy quang học đặt và cố định ảnh bằng tay Ưu điểm là cho khả năng nắn ảnh, biến đổi lưới chiếu bản đồ

b Phương pháp đồ thị (thu phóng đồng dạng, kẻ lưới ô vuông)

Trang 6

Đây là phương pháp đơn giản có từ lâu đời Thành lập bản đồ theo

phương pháp này có thể biến đổi hình ảnh ở mọi hình dạng Phương pháp này thực hiện vất vả, chỉ áp dụng trong các trường hợp khi lưới chiếu bản đồ tài liệu và bản đồ cần lập khác nhau hoàn toàn Để áp dụng phương pháp này có

thể sử dụng thước thu phóng đồng dạng Pantograph hay theo cách kẻ lưới ô

vuông Phương pháp này cho độ chính xác không cao, năng suất lao động thấp, hiện nay ít sử dụng

c Phương pháp phân tích:

Được thực hiện trên cơ sở của tự động hoá thành lập bản đồ Phương pháp này có liên quan đến kỹ thuật điện tử, tin học, trang thiết bị sản xuất Nội dung của phương pháp này được xem xét kỹ trong môn học “Tự động hoá sản xuất bản đồ”

Đây là phương pháp đang được áp dụng, thử nghiệm trong sản xuất bản

đồ hiện nay

4 Các phương pháp vẽ hình ảnh bản đồ trên bản gốc biên vẽ

Các phương pháp thành lập bản đồ có thể được thực hiện trên các nguyên vật liệu khác nhau, tạo ra các bản gốc biên vẽ trên giấy, điamát, trên màng khắc, vật liệu ảnh (giấy ảnh, phim âm, phim dương), trên các băng đĩa,

từ

Để chuyển vẽ hình ảnh bản đồ lên nền bản đồ, có thể vẽ bằng bút chì, bút mực (vẽ bằng tay) hay vẽ bằng các công cụ chuyên dụng đơn giản trên điamát, khắc trên màng khắc hay vẽ trên máy vẽ ploter

6.4.2 Sơ đồ chung thành lập các bản đồ gốc từ các tư liệu bản đồ

Thành lập bản đồ là tập hợp các công việc có liên quan tương hỗ với nhau Nó bao gồm:

- Xây dựng cơ sở toán học cho bản đồ

- Chuyển vẽ hình ảnh bản đồ lên cơ sở toán học, từ bản đồ tài liệu đồng thời tổng quát hóa các hình ảnh đó Kết quả ta nhận được bản gốc biên vẽ

Trang 7

Bản gốc biên vẽ là phần cơ bản của sản phẩm bản đồ Bản gốc biên vẽ có thể một bản hay nhiều bản Số lượng bản gốc biên vẽ phụ thuộc vào mức độ phức tạp của nội dung bản đồ, công nghệ thành lập và đặc điểm bản đồ

1 Chuẩn bị tư liệu bản đồ và nền bản đồ:

Thành lập bản đồ bắt đầu từ chuẩn bị tư liệu, Đặc điểm công việc này phụ thuộc vào nguồn tư liệu bản đồ cần lập, vào công nghệ thành lập bản đồ Trên nền không biến dạng, người ta chuyển vẽ lưới trắc địa, lưới chiếu bản đồ (đối với bản đồ địa hình) Sau đó người ta can chắp các bản lam để theo đó chuyển vẽ hình ảnh bản đồ

Đối với bản đồ địa lý chung tỷ lệ nhỏ và các bản đồ chuyên đề, công việc chuẩn bị nền bản đồ gồm các việc:

- Tính toán toạ độ vuông góc của các điểm trên lưới chiếu bản đồ và các góc khung bản đồ, tính toán kích thước tờ bản đồ

- Chuyển lên nền không biến dạng các điểm đã được tính toán

- Biến đổi hình ảnh bản đồ tài liệu lên lưới chiếu bản đồ mới và làm copy màu lam

- Can chắp và nắn hình các bản copy lam theo góc khung và các điểm cố định định vị

Sau khi hoàn thành công việc, các biên tập viên tiến hành kiểm tra để trên nền này người ta tiến hành thành lập bản gốc biên vẽ

Trang 8

Thành lập bản đồ có thể thực hiện từ một nguồn tư liệu bản đồ hay nhiều nguồn khác nhau Những tư liệu bản đồ này có thể khác nhau về cơ sở toán học (Phép chiếu bản đồ, độ chính xác, hệ elipxoit), về hệ thống ký hiệu quy ước, về mức độ tổng quát hoá nội dung,

Để đưa lên bản gốc cần thành lập, người ta phải thực hiện các công việc chuyển đổi về một hệ thống nhất cho bản đồ cần lập: đơn vị đo, đơn vị diện tích, góc, hệ toạ độ, elipxoit được chọn,

Đối với các tư liệu phi bản đồ (văn bản, số liệu thống kê, ) người ta phải tiến hành xử lý sơ bộ và xác định cái gì cần cho bản đồ mới Trong quá trình thành lập bản đồ, bản đồ trực nhật có ý nghĩa rất lớn Nó cho ta biết thực trạng của các đối tượng bản đồ, sự thay đổi của thực tế so với bản đồ cũ

Quá trình thành lập bản đồ chuyên đề có những đặc điểm riêng Đó là phải chuyển đổi lưới chiếu, hệ thống ký hiệu quy ước, lựa chọn phương pháp thể hiện, đặt ra các nguyên tắc tổng quát hoá nội dung bản đồ Khi thành lập loại bản đồ này, người ta tiến hành qua 2 giai đoạn:

- Thành lập nền cơ sở địa lý Mức độ chi tiết, đầy đủ các yếu tố địa lý phụ thuộc vào ý nghĩa, đề tài bản đồ

- Thành lập các yếu tố nội dung chuyên đề theo mẫu thể hiện nội dung chuyên môn (thiết kế theo phương pháp thể hiện đã chọn)

Thứ tự thành lập từng yếu tố nội dung bản đồ phụ thuộc vào loại bản đồ cần lập và các nguồn tư liệu bản đồ dùng để thành lập

Việc đặt thứ tự thành lập các đối tượng nội dung nhằm đảm bảo thể hiện chính xác hơn, rõ ràng hơn các yếu tố, đối tượng bản đồ Từ đó xác định được tải trọng bản đồ, thể hiện chính xác các tính chất điển hình, đặc trưng của đối tượng bản đồ Khi thành lập từng yếu tố nội dung, các yếu tố chính quan trọng được thể hiện trước, sau đó đến các yếu tố phụ có liên quan Đối với bản đồ địa hình, thứ tự thành lập các yếu tố nội dung đã được quy định trong quy trình quy phạm

Trong sản xuất người ta thường sử dụng 2 phương án lập bản đồ:

Trang 9

- Phương án 1: Thành lập từng nội dung bản đồ trên toàn bộ tờ bản đồ Thành lập các nội dung chính trước sau đó đến các nội dung phụ

Trình tự thành lập bản đồ theo các yếu tố nội dung:

3- Hệ thống đường giao thông 6- Tên gọi, ghi chú

Trình tự thành lập bản đồ theo mức độ quan trọng của các yếu tố nội dung:

1- Các đối tượng chính của nội dung bản đồ

2- Các đối tượng chi tiết của nội dung bản đồ

- Phương án 2: Thành lập nội dung theo từng khu vực Thành lập hết tất

cả các nội dung ở khu vực này mới chuyển sang khu vực khác

Phương án 1 thực hiện khi các nội dung bản đồ nằm trên nhiều bản đồ tư liệu khác nhau

Phương án 2 thường áp dụng khi thành lập các bản đồ địa hình

Cũng có thể kết hợp cả 2 phương án trên

Bản gốc biên vẽ được hoàn thành ở dạng bản gốc có các hình vẽ nét và các yếu tố nội dung nền diện tích được tô màu bổ trợ (diện tích mặt nước, diện tích rừng, thực vật)

Chất lượng bản gốc biên vẽ được coi là tốt nếu nó được đảm bảo:

+ Thành lập bản đồ bằng các ký hiệu, màu sắc gần với bản đồ cần lập + Màu mực vẽ trên bản biên vẽ phải thuận tiện cho các công việc về ảnh

ở giai đoạn sau (Ví dụ: Để vẽ thuỷ hệ bằng màu xanh lá cây; mật độ quang học của mực vẽ phải đảm bảo)

+ Màu tô cho các yếu tố nền phải khó hấp thụ trên phim ảnh (Vídụ: Tô màu tím đỏ thay cho màu xanh lá cây ở các diện tích rừng)

+ Tuân thủ hình dạng, kích thước tất cả các ký hiệu chữ số ghi chú trên bản biên vẽ

Trang 10

Yếu tố quan trọng của bản biên vẽ là trình bày Nó bao gồm: Sơ đồ bố cục, phân bố bảng chú giải, đồ thị, tên gọi đầu đề, khung bản đồ

Bản biên vẽ làm ra phải tương tự với các bản đồ đã xuất bản trước đó Đối với các bản đồ nhiều tờ như bản đồ địa hình hay một số bản đồ chuyên đề thì cần có sơ đồ ghép mảnh, có phần tiếp biên trên các tờ bản đồ

Từ bản gốc biên vẽ, người ta tiến hành làm bản thống kê chữ số (trên bảng này chỉ ra số lượng chữ số, kiểu chữ và kích thước chữ ) để tiến hành chụp chữ hay chế bản điện tử trên máy vi tính phục vụ cho giai đoạn trình bày

và chuẩn bị in

Toàn bộ quá trình thành lập bản đồ được ghi lại trong lý lịch bản đồ Kết quả của quá trình thành lập bản đồ gồm: Các bản gốc biên vẽ, các mẫu,

sơ đồ cho giai đoạn chuẩn bị in, mẫu màu, bảng thống kê chữ số, lý lịch bản đồ

6.5 Các thiết bị kỹ thuật được sử dụng trong sản xuất bản đồ

Trong quy trình sản xuất bản đồ có nhiều công đoạn chính Ở mỗi giai đoạn có những đặc thù công việc riêng, do đó khác với các quy trình sản xuất khác, quy trình sản xuất bản đồ chỉ có thể ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong một số công việc nhất định nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian sản xuất, thuận tiện cho việc lưu trữ, bảo quản sản phẩm,

Vấn đề đặt ra trong chương này chỉ cho chúng ta biết các khái quát chung, cụ thể chi tiết sẽ được xem xét trong môn học “Tin học ứng dụng” và

Trang 11

Sản phẩm dùng của giai đoạn này là kế hoạch biên tập và các phụ lục, chỉ dẫn kèm theo

Các tư liệu bản đồ dùng để thành lập bản đồ mới có thể ở dạng bản đồ tư liệu (hình ảnh bản đồ) hay ở dạng số liệu biểu bảng, văn bản, , để nhập vào máy tính điện tử cần phải qua quá trình số hoá tư liệu bản đồ

Số hoá tư liệu bản đồ thực chất là quá trình biến đổi các ngôn ngữ, hình ảnh thông thường sang dạng ngôn ngữ máy tính

Quá trình số hoá tư liệu bản đồ có thể được thực hiện bằng những phần mềm chuyên dụng mua của các hãng máy tính nước ngoài như: Autocad, Mapinfo, Intergraph, trên các máy tính điện tử hoặc có thể số hoá bằng các thiết bị thủ công (Bàn số hoá)

Tuỳ thuộc vào trang thiết bị của các cơ sở sản xuất, trình độ tay nghề cán

bộ công nhân viên, nguồn tư liệu bản đồ, yêu cầu kỹ thuật, độ chính xác của bản đồ cần thành lập, mối liên hệ với quy trình công nghệ sản xuất tiếp theo mà người ta lựa chọn phương pháp số hoá và các phần mềm dùng để số hoá Thí

dụ đối với các tư liệu bản đồ cũ có hình ảnh không rõ ràng thì số hoá bằng bàn

số hóa, các tư liệu ở dạng số, biểu bảng được nhập qua bàn phím, các tư liệu bản đồ cũng có thể được quét trên máy quét sau đó số hoá (vectơ hoá) trên máy tính bằng các phần mềm chuyên dụng

Theo đặc điểm và các tính năng kỹ thuật, các thiết bị số hoá có thể chia làm 2 nhóm chính:

1- Các thiết bị số hoá thủ công (bàn số hoá) được các hãng máy tính nước ngoài sản xuất (Mỹ, Anh, Đức, )

2 Các trang thiết bị số hoá bán tự động và tự động: Bao gồm các máy quét (scanner) đen trắng, màu với độ phân giải khác nhau, kích thước bản vẽ từ

A4  A0 Tư liệu bản đồ sau khi quét trên máy quét được đưa vào máy tính Bằng các phần mềm chuyên dụng, người ta tiến hành số hoá Tuỳ thuộc vào chất lượng hình ảnh đã quét và phần mềm sử dụng để số hoá, người ta tiến hành số hoá tự động hoặc bán tự động

Ngày đăng: 28/07/2014, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN