1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình bản đồ học part 8 ppt

22 510 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 556,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đển giải quyết nhiệm vụ này cần phải thống kê các yếu tố nội dung bản đồ và tiến hành phân loại chúng; lựa chọn các phương pháp thể hiện chúng; đặt các chỉ tiêu, định mức tổng quát hoá n

Trang 1

Hình 6.4 (T 93- GT TK và BTBĐ)

- Trong một số trường hợp do hình ảnh lãnh thổ người ta có thể phải xoay khung bản đồ theo hướng của lãnh thổ

Trang 2

Hình 6.5 (T94- GT TK và BTBĐ)

Để có sơ đồ bố cục bản đồ hợp lý, tối ưu khi thiết kế, người ta thường phải làm nhiều maket tương ứng với mỗi phương án, sau đó mới so sánh và lựa chọn ra sơ đồ bố cục tối ưu, hợp lý

* Sơ đồ bố cục đối với bản đồ nhiều tờ:

Khi vùng lãnh thổ được thể hiện ở tỷ lệ cho trước không thể đặt trên một

tờ giấy thì người ta phải chia bản đồ ra nhiều mảnh

Cách chia mảnh bản đồ có nhiều cách khác nhau, nhưng phổ biến nhất là chia mảnh theo hệ thống kinh độ, vĩ độ và chia vuông góc

Tuỳ thuộc vào diện tích lãnh thổ, bản đồ có thể chia ra vài mảnh nhưng cũng có thể là hàng trăm thậm chí hàng nghìn mảnh Thí dụ như với bản đồ địa hình của các quốc gia rộng lớn như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ,

Bố cục và trình bày của các tờ cho mỗi loại bản đồ lại có chuẩn khác nhau

Ví dụ đối với bản đồ thế giới tỷ lệ 1:25.000.000 có sơ đồ bố cục chuẩn cho các tờ theo hình 6.6

Đối với bản đồ treo tường nhiều tờ được dán, ghép với nhau thì chúng thường được chia vuông góc (dựa theo kích thước của tờ giấy in, của máy in ốp sét) sao cho số tờ ít nhất nhưng dễ dán, ghép

Trang 3

Hình 6.6 (T96_GT TK & BTBĐ) Nhiệm vụ chi mảnh bản đồ sẽ phức tạp hơn nếu bản đồ có 2 mục đích là: Treo tường và để bản khi làm việc trên từng tờ của bản đồ

Cùng một bản đồ cũng có thể có nhiều phương án thiết kế sơ đồ bố cục cho tiện sử dụng Thí dụ xem các hình dưới đây:

Hình 6.7 (T95_GT TKế) Đối với các tờ bản đồ nhiều tờ yêu cầu với phần tiếp biên không nhỏ hơn

10 cm với bản đồ hàng hải, 2 cm với bản đồ địa hình

* Đối với bản đồ nằm trong tập bản đồ, Alas:

Sơ đồ bố cục của chúng phải tuân thủ nằm trong giới hạn kích thước đã xác định của tập bản đồ, Alas

Khi thiết kế chúng phải tính đến:

- Hệ thống tỷ lệ đã xác định cho tập bản đồ;

- Nền cơ sở địa lý chung cho các bản đồ cùng loại (cho các bản đồ chuyên đề);

- Số lượng bản đồ trong Atlas, tập bản đồ;

- Yêu cầu kỹ thuật in ấn (với các bản đồ trên 1 trang, trên 2 trang)

Trang 4

Hình 6.8: Sự phân bố bản đồ trên 2 trang trong Alas (T96_ GT TKẾ)

3 Soạn thảo nội dung bản đồ

a Xác định các yếu tố nội dung bản đồ

Xác định các yếu tố nội dung bản đồ là công việc quan trọng của thiết kế Bản đồ Đển giải quyết nhiệm vụ này cần phải thống kê các yếu tố nội dung bản đồ và tiến hành phân loại chúng; lựa chọn các phương pháp thể hiện chúng; đặt các chỉ tiêu, định mức tổng quát hoá nội dung; thiết kế hệ thống ký hiệu tương ứng với nội dung bản đồ đã xác định; phân vùng địa lý, phân vùng lãnh thổ; tiến hành làm các thử nghiệm, mẫu bản đồ trên các vùng đặc trưng cho bản đồ

Ý tưởng chỉ đạo tạo ra nguyên tắc cơ bản của nội dung bản đồ là:

- Hiểu và coi bản đồ địa lý như các mô hình không gian thực tế và hệ thống dẫn giải nội dung của chúng bằng hình ảnh

- Nghiên cứu và tổng kết, thống kê từng phần của mô hình bản đồ để chỉ

ra các đặc trưng quan trọng nhất và mối liên hệ của chúng

Hệ thống dẫn giải xem xét các đối tượng nội dung bản đồ như hệ thống địa lý với mức độ phức tạp khác nhau và không gian của chúng được xác định trong từng hệ thống cụ thể Nó liên quan và được xác định theo mục đích của bản đồ Mỗi hệ thống nội dung có thể được thể hiện bằng các mô hình khác nhau Để đạt được hình ảnh tổng hợp đầy đủ của mô hình bản đồ người ta thực hiện việc chuyển về từng yếu tố của mô hình lên bản đồ

Thí dụ trên bản đồ cảnh quan có thể bao gồm các yếu tố nền địa chất, địa hình, nước, thổ nhưỡng, thực vật và một số yếu tố kinh tế xã hội khác Từ đây

ta có thể thấy rằng bản đồ cảnh quan tỷ lệ nhỏ thường được thành lập từ kết quả tổng hợp các bản đồ chuyên ngành, chuyên đề

Trang 5

Bản đồ mà nội dung của nó chỉ có độc nhất một yếu tố (địa hình hoặc thuỷ văn) là rất hiếm có

Thông thường nội dung của bản đồ bao gồm nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội Các yếu tố này có mối liên hệ mật thiết với nhau

Nội dung của bản đồ địa lý chung thường được khái quát và lấy làm nền

“Cơ sở địa lý” cho các bản đồ chuyên đề, chuyên môn

Các yếu tố nền cơ sở địa lý có ý nghĩa:

- Dùng để định vị, định hướng khi sử dụng bản đồ

- Làm cơ sở để dựa vào đó thành lập các nội dung chuyên đề

- Bổ trợ cho việc giải thích, làm rõ các quy luật phân bố, biến đổi các đối tượng, hiện tượng bản đồ

Đối với bản đồ chuyên đề, chuyên ngành đặc biệt cần có những nền cơ

sở khác để có thể tính được các đặc trưng của hiện tượng bản đồ và các đặc điểm vùng lãnh thổ

Để xác định một cách tối ưu các yếu tố nội dung bản đồ cần thực hiện phân tích một cách hệ thống các yếu tố nội dung đặc biệt quan trọng theo mục đích, ý nghĩa bản đồ

b Lựa chọn cách phân loại, các đặc điểm và chỉ số của nội dung bản đồ

Về nguyên tắc phân loại nội dung bản đồ được thực hiện theo nguyên tắc từ chung đến riêng, từ khái quát đến chi tiết

Ví dụ:

CÁC YẾU TỐ NỘI DUNG BẢN ĐỒ

HỆ THUỶ VĂN ĐỊA HÌNH DÂN CƯ RANH GIỚI HÀNH CHÍNH

Sông ngòi Ao hồ Bờ biển Quốc gia Tỉnh Huyện Xã

Sông Suối Ao Hồ

Trang 6

Sự phân loại các yếu tố nội dung tự nhiên, kinh tế xã hội còn phải tương ứng với nhiệm vụ của khoa học tự nhiên và xã hội Điều này càng quan trọng hơn đối với các bản đồ chuyên đề, chuyên ngành

Thông thường các đối tượng, yếu tố nội dung được phân loại theo nội dung Có nghĩa là dựa vào hình dạng, đặc điểm, tính chất, cấu trúc mà người ta nhóm các yếu tố gần giống nhau, có các đặc điểm chung vào một nhóm

Ví dụ: Nhóm lớp thuỷ văn gồm các đối tượng như: sông tự nhiên 1 nét; sông tự nhiên có nước theo mùa, đường mép nước, đường bờ biển, độ cao mực nước, Nhóm lớp địa hình gồm: đường bình độ cơ bản, đường bình độ phụ, chấm điểm độ cao, sườn đất dốc đứng, bãi cát phẳng,

Theo ý nghĩa khoa học và thực tế người ta nhóm các yếu tố nội dung theo điều kiện phát sinh, nguồn gốc hoặc quá trình hình thành và phát triển

Yếu tố chính xác định sự lựa chọn nguyên tắc phân loại là mục đích ý nghĩa bản đồ cần lập

Mức độ chi tiết của phân loại phụ thuộc vào mức độ tổng quát hoá bản

đồ (phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ) Nói chung, tỷ lệ bản đồ có liên quan chặt chẽ với mức độ phân loại hệ thống địa lý

Các bản đồ phân tích đôi khi chỉ thể hiện một vài tính chất, khía cạnh của hiện tượng nội dung bản đồ mà không cần quan tâm đến các mối liên hệ khác, với các đối tượng khác, thí dụ trên bản đồ khí hậu, thời tiết chỉ thể hiện nhiệt độ hoặc lượng mưa

Đặc điểm của bản đồ là các đặc điểm đặc trưng cho nội dung chính của bản đồ Nó xuất phát và được xác định từ tên gọi của bản đồ

Đồng thời với việc xác định trong kế hoạch biên tập các nội dung bản

đồ, người ta thường đặt ra các phương pháp thể hiện nội dung này Các phương pháp thể hiện nội dung có thể độc lập dùng cho từng loại nội dung nhưng cũng

có thể kết hợp nhiều phương pháp để thể hiện các nội dung phức tạp (mang cả

Trang 7

đặc tính số lượng và chất lượng) Việc lựa chọn phương pháp thể hiện nội dung cần tính đến:

+ Đặc điểm sử dụng bản đồ và các yêu cầu với nó

+ Đảm bảo cho bản đồ được thể hiện bằng các thông tin cho trước + Hài hoà, phù hợp với các nội dung khác của bản đồ và với các bản

đồ khác cùng loại

+ Đặc điểm phân bố các hiện tượng, đối tượng (dầy đặc, rải rác, định

vị theo đường, tuyến hay theo điểm, )

+ Dung lượng nội dung bản đồ (số lượng đối tượng, hiện tượng và các chỉ số của chúng)

+ Sự phân chia nội dung theo ý nghĩa của chúng (chính, phụ theo các chỉ số đặc trưng)

+ Theo khả năng in ấn bản đồ

Đối với các bản đồ có mục đích sử dụng khác nhau thì việc thiết kế trình bày màu sắc đồng thời có tính đến các đặc điểm sinh học và tâm sinh lý người sử dụng bản đồ Màu sắc dùng để in bản đồ có nhiều loại, nhiều đặc điểm cho khả năng kết hợp màu tạo ra các nền mầu bản đồ, mở ra khả năng thể hiện nội dung bản đồ bằng các màu sắc khác nhau (đặc biệt trên các bản đồ chuyên đề) Khi thiết kế bản đồ chuyên đề, những bản đồ được thành lập lần đầu, bước đầu tiên là soạn thảo nội dung bản đồ - đây là sự trình bày các khái niệm hiểu biết về chuyên đề, đề tài bản đồ Những khái niệm này được trình bày bởi sự kết hợp của các nhà chuyên môn chuyên ngành và các nhà bản đồ Trong trường hợp như vậy thường phải làm mẫu phác thảo, makét thử nghiệm, mẫu thiết kế trích mảnh

Khi thiết kế nội dung cho các bản đồ ở các dạng khác nhau (bản đồ địa hình, địa lý chung, chuyên đề, chuyên môn) thì cũng có các đặc điểm khác nhau riêng biệt Nội dung và trình bày bản đồ địa hình đã được xác định đầy đủ

và chi tiết Điều này có thể nhận thấy rõ ràng trong quy phạm và hệ thống ký

Trang 8

hiệu quy ước cho dùng bản đồ địa hình Khi thiết kế loại này cần chú ý tới đặc điểm địa lý vùng lãnh thổ và đặc điểm của các tư liệu bản đồ

Khi thiết kế bản đồ địa lý chung cần chú ý đến các yêu cầu: Trên các bản đồ này phải thể hiện toàn bộ các yếu tố địa lý và kinh tế xã hội Nhưng mức độ đầy đủ và chi tiết nội dung của các bản đồ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: mục đích, ý nghĩa, đề tài, tỷ lệ Để giải quyết nhiệm vụ này người ta đặt ra nguyên tắc chọn lọc và khái quát các đối tượng (xem phần tổng quát hoá nội dung bản đồ)

Khi thiết kế nội dung bản đồ chuyên đề, chuyên môn, sự xác định mức đầy đủ và chi tiết hình ảnh đối tượng, hiện tượng trên các bản đồ này là một trong những đặc tính, đặc trưng của thiết kế bản đồ chuyên đề Mức độ đầy đủ

và chi tiết nội dung các bản đồ này nhiều hay ít phụ thuộc vào đặc điểm của các đối tượng cần thể hiện, nguồn tư liệu bản đồ, phương pháp thể hiện và hệ thống

ký hiệu quy ước Trên các bản đồ này có đối tượng được thể hiện đầy đủ, chi tiết (theo đề tài), nhưng có đối tượng được thể hiện rất mờ nhạt hoặc không thể hiện Ví dụ khi thiết kế bản đồ hành chính – chính trị, đối tượng chính của nội dung bản đồ là đường vùng lãnh thổ Sau đó là các đối tượng thuỷ văn, giao thông với những nét chính Trên bản đồ kinh tế - xã hội (loại tra cứu), nội dung chính là các điểm dân cư, giao thông đường sá Hệ thuỷ văn và địa hình chỉ đóng vai trò nền cảnh quan chung Địa hình chỉ thể hiện bằng vờn bóng địa hình mà không thể hiện bằng các đường bình độ

Thiết kế bản đồ du lịch thì nội dung chính là các yếu tố, đối tượng về

du lịch Phụ thuộc vào thể loại bản đồ cụ thể mà các giai đoạn thiết kế bản đồ

có thể đơn giản hay khó khăn, chi tiết

Hiện nay các bản đồ có thể chia làm 2 nhóm:

1- Bản đồ khoa học - kỹ thuật (KHKT)

2- Bản đồ phổ thông (PT)

Bản đồ khoa học – kỹ thuật dùng để giải quyết công việc cụ thể trong một lĩnh vực khoa học kỹ thuật Đó là các bản đồ địa hình, các bản đồ chuyên đề

Trang 9

Bản đồ phổ thông dùng cho quảng đại quần chúng phục vụ cho mọi đối tượng sử dụng Các bản đồ này dùng để truyền đạt các thông tin chung nhất

về tự nhiên, kinh tế - xã hội

Xu hướng hiện nay, các bản đồ khoa học – kỹ thuật thường được thiết

kế và thành lập với sự sử dụng công nghệ thông tin tin học hiện đại để quản lý

và khai thác thông tin bản đồ nhanh chóng và chính xác

Đối với loại bản đồ phổ thông thì đòi hỏi về độ chính xác và mức độ đầy đủ, chi tiết kém hơn nhưng nó yêu cầu dễ xem, dễ đọc Khi xác định nội dung bản đồ cần tính đến các đặc điểm của đối tượng cần thể hiện Đó là các đặc điểm về cấu trúc đối tượng, tính lôgic không gian, chức năng của đối tượng

Khi thiết kế bản đồ là ta lập ra các mô hình bản đồ, do đó cần lựa chọn, xác định các thông số, đơn vị đo để thể hiện các đặc tính số lượng, chất lượng của đối tượng, hiện tượng bản đồ Sự lựa chọn này phụ thuộc vào các nhân tố như mục đích bản đồ, đề tài bản đồ, cấu trúc không gian và định vị của đối tượng, nguồn tư liệu dùng để thành lập bản đồ

Đặc tính số lượng thông tin bản đồ có thể thể hiện thông qua chỉ số tuyệt đối hay tương đối

Mục đích thiết kế bản đồ là: chọn ra phương pháp thể hiện bản đồ; thiết kế hệ thống ký hiệu quy ước và bảng chú giải bản đồ nhằm thể hiện tốt nhất nội dung bản đồ

c Chỉ dẫn tổng quát hoá nội dung bản đồ

Trong quá trình thành lập bản đồ, sự sáng tạo khoa học của nhà bản đồ được thể hiện rõ ràng, mạnh mẽ trong tổng quát hoá và soạn thảo hệ thống ký hiệu bản đồ

Nhiệm vụ tổng quát hoá bản đồ được thực hiện chủ yếu ở 2 giai đoạn:

- Ở giai đoạn thiết kế là soạn thảo ra các chỉ dẫn tổng quát hoá nội dung (phân loại đối tượng, đặt chỉ tiêu lựa chọn lấy bỏ, ); chỉ dẫn các phương pháp

Trang 10

- Ở giai đoạn thành lập là thực hiện các chỉ dẫn đã nêu trong thiết kế kỹ thuật bản đồ để đưa lên bản gốc các nội dung đã được tổng quát hoá

Nói chung trong chỉ dẫn thiết kế kỹ thuật thường bao gồm:

+ Chỉ ra các đối tượng, yếu tố nội dung phải thể hiện đầy đủ khi chuyển

vẽ bản đồ từ tư liệu

+ Trình bày các nguyên tắc chính chọn lựa, lấy bỏ các yếu tố nội dung còn lại tương ứng với độ lớn, ý nghĩa và mối quan hệ với đặc điểm địa lý lãnh thổ

+ Chỉ dẫn các yếu tố, đối tượng đặc biệt cần đưa lên bản đồ

+ Đặt ra mức độ chi tiết khi truyền đạt các đối tượng chính cho từng yếu

tố nội dung bản đồ

Chỉ dẫn tổng quát hoá, trong từng phần có liên quan đến nhiều chỉ số do đó trong bản thiết kế kỹ thuật bản đồ có thể có nhiều mức độ đầy đủ và chi tiết khác nhau

Theo truyền thống thì đối với bản đồ nội dung phong phú sẽ có nhiều mẫu, cách tổng quát nội dung, do đó việc sáng tạo trong tổng quát hoá phụ thuộc vào trình độ kinh nghiệm của nhà bản đồ Đôi khi, khi soạn thảo nội dung bản

đồ, người thiết kế bản đồ phải thiết kế, makét, mẫu tổng quát hoá cho các yếu tố nội dung theo ý đồ của mình Các makét này thường phải làm cho 1 vùng đặc trưng cho bản đồ Trong những trường hợp này người thành lập bản đồ chỉ theo các mẫu này để đưa lên bản gốc các nội dung đã được tổng quát hoá

Khi thành lập bản đồ tự động hoá cần có cơ sở toán học và thể hiện tất

cả các mặt trong quá trình tổng quát hoá nội dung bản đồ Đây là vấn đề rất khó khăn phức tạp của bản đồ học hiện đại

d Xác định các chỉ số tổng quát hoá

Khi phân tích bản đồ một cách hệ thống thông qua các ký hiệu và dấu hiệu của nó người ta có thể giải quyết được một số vấn đề về chỉ số tổng quát hoá:

Trang 11

- Đặt ra tải trọng đồ hoạ cho bản đồ cần thiết kế (giá trị lớn nhất và tối

ưu cho tải trọng bản đồ)

- Chỉ ra được mật độ của đối tượng trên thực địa và mức độ chọn lọc các đối tượng này cho phù hợp với đặc điểm địa lý lãnh thổ

- Xác định kích thước nhỏ nhất của đối tượng cho các yêu tố nội dung khác nhau của bản đồ

- Xác định mức độ chi tiết có thể cho các đường, đường viền đối tượng

và chỉ rõ các giá trị cụ thể

Việc lựa chọn các chỉ số tổng quát hoá còn bao gồm cả việc lựa chọn các thang tầng đặc trưng cho đặc tính chất lượng, số lượng của các yếu tố nội dung bản đồ

Sau khi đã lựa chọn được các định mức, tổng quát hoá, người ta thường phải tiến hành thành lập thử nghiệm trích mảnh của bản đồ (Đặc biệt là đối với các bản đồ mới lập lần đầu và có nội dung phức tạp)

Trên bản đồ trích mảnh thử nghiệm, người ta tiến hành kiểm tra mức độ, chất lượng tổng quát hoá và chất lượng trình bày nội dung bản đồ sau tổng quát hoá

Mục đích chính của việc làm trích mảnh thử nghiệm này là soạn thảo ra

Ví dụ, hình mẫu tổng quát hoá cho các vùng đặc trưng trên bản đồ Từ các hình mẫu, trích mảnh này, các chỉ dẫn chọn lọc, lấy bỏ nội dung bản đồ được xác định

và áp dụng cho từng vùng lãnh thổ bản đồ

Trên các bản đồ chuẩn hoá, đã xuất bản nhiều lần thì trích mảnh bản đồ thử nghiệm không nhất thiết phải làm, nhưng các bản đồ gốc mới làm lần đầu, các tác phẩm bản đồ phức tạp, bản đồ tác giả thì bắt buộc phải có

6.3 Các công tác chuẩn bị và biên tập bản đồ

6.3.1 Khái niệm về biên tập bản đồ

Ngày đăng: 28/07/2014, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w