Trong phép chiếu của bản đồ địa hình, các kinh tuyến và vĩ tuyến được biểu thị thành đường cong, nhưng độ cong của các kinh tuyến rất nhỏ, do đó trên tất cả các bản đồ địa hình đều thể h
Trang 1đồ tỷ lệ nhỏ hơn
Các bản đồ địa hình tỷ lệ 1:2000 và 1:5000 thường được dùng để: thiết kế mặt bằng các thành phố và các điểm dân cư khác; lập thiết kế kỹ thuật các xí nghiệp công nghiệp và các trạm phát điện; tiến hành các công tác thăm dò và tìm kiếm, thăm dò chi tiết và tính toán trữ lượng các khoáng sản có ích, dùng trong các công tác quy hoạch và cải tạo ruộng đồng
Các bản đồ địa hình tỷ lệ 1:10.000 và 1:25.000 thường có những tác dụng sau đây: dùng trong công tác quy hoạch ruộng đất và làm cơ sở để đo vẽ thổ nhưỡng, thực vật; dùng để thiết kế các công trình thuỷ nông, dùng trong công tác quản lý ruộng đất, dùng để chọn nơi xây dựng các trạm thuỷ điện, dùng trong công tác thăm dò địa chất chi tiết, dùng để chọn các tuyến đường sắt và đường ô tô, dùng trong công tác quy hoạch và cải tạo riêng, dùng để khảo sát các phương án xây dựng thành phố,
Các bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 và 1:100.000 được sử dụng trong nhiều ngành kinh tế quốc dân Chúng thường có những tác dụng sau: dùng trong công tác quy hoạch và tổ chức các vùng kinh tế; dùng để chọn sơ bộ các tuyến đường sắt, đường ô tô và kênh đào giao thông; dùng để nghiên cứu các vùng về mặt địa chất, thuỷ văn Các bản đồ tỷ lệ 1:100.000 là cơ sở địa lý để thành lập các bản đồ
Trang 2chuyên đề tỷ lệ lớn và trung bình như bản đồ địa chất, bản đồ thổ nhưỡng và một
số bản đồ khác
b Những yêu cầu cơ bản đối với bản đồ địa hình
- Bản đồ phải rõ ràng, dễ đọc, cho phép định hướng nhanh chóng ở thực địa
- Các yếu tố biểu thị trên bản đồ cần phải đầy đủ, chính xác Mức độ tỉ mỉ của nội dung phải phù hợp với mục đích sử dụng bản đồ và đặc điểm khu vực
5.1.2 Cơ sở toán học của bản đồ địa hình
Cơ sở toán học của bản đồ địa hình bao gồm các yếu tố: tỷ lệ, hệ thống toạ
độ, phép chiếu, sự phân mảnh
- Hệ thống tỷ lệ: Theo quy phạm bản đồ địa hình trước năm 2000, nước ta dùng dãy tỷ lệ như hầu hết các nước khác trên thế giới, gồm các tỷ lệ: 1:2000, 1:5000, 1:25.000, 1:50.000 và 1:100.000 Sau năm 2000, hệ thống tỷ lệ bản đồ địa hình nước ta theo quy phạm mới còn có thêm các tỷ lệ: 1:500 và 1:1000
- Hệ thống toạ độ và phép chiếu:
Bản đồ nước ta trước năm 2000 đều sử dụng múi chiếu Gauss, trong hệ thống múi 6o đốivới các bản đồ có tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:25000, trong hệ thống múi 3o đốivới các bản đồ có tỷ lệ 10.000
Từ tháng 7 năm 2000, Tổng cục Địa chính đã công bố và đưa vào sử dụng hệ quy chiếu và hệ toạ độ quốc gia VN-2000 – được áp dụng thống nhất để xây dựng
hệ thống bản đồ địa hình và áp dụng trong việc triển khai các dự án (hoặc luận chứng kinh tế kỹ thuật) về đo vẽ bản đồ điạ hình với lưới chiếu toạ độ phẳng cơ bản
là lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc UTM quốc tế Lưới chiếu bản đồ được quy định như sau:
+ Sử dụng lưới chiếu hình nón đồng góc với 2 vĩ tuyến chuẩn 11o và 21o để thể hiện các bản đồ địa hình cơ bản ở tỷ lệ 1:1.000.000
Trang 3+ Sử dụng lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc với múi chiếu 6o có hệ số điều chỉnh tỷ lệ biến dạng chiều dài k0 = 0,9996 để thể hiện các bản đồ địa hình cơ bản
tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:25.000
+ Sử dụng lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc với múi chiếu 3o có hệ số điều chỉnh tỷ lệ biến dạng chiều dài k0 = 0,9999 để thể hiện các bản đồ địa hình cơ bản
tỷ lệ từ 1:10.000 đến 1:2.000
- Sự phân mảnh: Để tiện sử dụng các bản đồ địa hình người ta phải thiết lập
hệ thống phân mảnh và danh pháp chặt chẽ, trên cơ sở phân mảnh và danh pháp của bản đồ tỷ lệ 1:100.000 như đã trình bày ở mục 2.3 chương 2
Trong phép chiếu của bản đồ địa hình, các kinh tuyến và vĩ tuyến được biểu thị thành đường cong, nhưng độ cong của các kinh tuyến rất nhỏ, do đó trên tất cả các bản đồ địa hình đều thể hiện thành đường thẳng Các đường vĩ tuyến trên các bản đồ tỷ lệ 1:50.000 được thể hiện như những đường thẳng còn trên các bản đồ
tỷ lệ 1:100.000 được thể hiện là đường cong
5.1.3 Nội dung của bản đồ địa hình
Các yếu tố cơ bản của nội dung bản đồ địa hình là: Thuỷ hệ, các điểm dân cư; các đối tượng công nghiệp, nông nghiệp và văn hoá; mạnh lưới các đường giao thông; dáng đất, lớp phủ thực vật và thổ nhưỡng; các đường ranh giới Tất cả các đối tượng nói trên được thể hiện trên bản đồ địa hình với độ chi tiết cao và được ghi chú các đặc trưng chất lượng và số lượng Khi sử dụng bản đồ địa hình thì việc định hướng có ý nghĩa quan trọng, do vậy các vật định hướng cũng là yếu tố tất yếu của nội dung bản đồ địa hình
1- Địa vật định hướng:
Trang 4Đó là những đối tượng của khu vực, nó cho phép ta xác định vị trí nhanh chóng và chính xác trên bản đồ (ví dụ: các toà nhà cao, nhà thờ, cột cây số, ) Các địa vật định hướng cũng còn bao gồm cả một số địa vật không nhô cao so với mặt đất nhưng dễ dàng nhận biết (ví dụ như: ngã 3, ngã 4 đường sá, các giếng ở ngoài vùng dân cư )
2- Thuỷ hệ:
Các yếu tố thuỷ hệ được biểu thị tỉ mỉ trên bản đồ địa hình Trên bản đồ biểu thị các đường bờ biển, bờ hồ, bờ của các con sông lớn được vẽ bằng 2 nét Các đường bờ nước được thể hiện trên bản đồ theo đúng đặc điểm của từng kiểu đường bờ
Trên bản đồ biểu thị tất cả các con sông có chiều dài từ 1cm trở lên Ngoài
ra còn thể hiện các kênh đào, mương mán, các nguồn nước tự nhiên và nhân tạo Đồng thời còn phải thể hiện các thiết bị thuộc thuỷ hệ (như các bến cảng, cầu cống, trạm thủy điện, đập, )
Sự biểu thị các yếu tố thuỷ hệ còn được bổ sung bằng các đặc trưng chất lượng và số lượng (độ mặn của nước, đặc điểm và độ cao của đường bờ, độ sâu và
độ rộng của sông, tốc độ nước chảy)
Trên bản đồ, sông được thể hiện bằng một nét hay hai nét là phụ thuộc vào
độ rộng của nó ở thực địa và tỷ lệ của bản đồ (bảng 5.1)
Trang 5- 2 nét thể hiện đúng độ
rộng của sông > 6 > 15 > 30 > 60
3- Các điểm dân cư:
Các điểm dân cư là một trong những yếu tố quan trọng nhất của bản đồ địa hình Các điểm dân cư được đặc trưng bởi kiểu cư trú, số người và ý nghĩa hành chính – chính trị của nó Theo kiểu cư trú, phân ra thành các nhóm: các thành phố, các điểm dân cư kiểu thành phố (khu công nhân, khu phố ven đường sắt, nơi nghỉ mát), các điểm dân cư nông thôn (thôn, ấp, nhà độc lập, ) Kiểu điểm dân cư được thể hiện trên bản đồ địa hình bằng kiểu chữ ghi chú tên của nó
Khi thể hiện các điểm dân cư trên bản đồ địa hình thì phải giữ được đặc trưng của chúng về quy hoạch, cấu trúc
Trên các bản đồ tỷ lệ 1:5000 có thể biểu thị được tất cả các vật kiến trúc theo kích thước của chúng, đồng thời thể hiện đặc trưng của vật liệu xây dựng, độ rộng của các đường phố cũng được thể hiện theo tỷ lệ bản đồ
Trên bản đồ tỷ lệ 1:10.000 các điểm dân cư được biểu thị bằng ký hiệu quy ước các ngôi nhà và các vật kiến trúc riêng biệt nhưng trong đó đã có sự lựa chọn nhất định Trong một số trường hợp phải thay đổi kích thước mặt bằng và độ rộng của đường phố
Trên các bản đồ tỷ lệ từ 1:25.000 đến 1:100.000 thì sự biểu thị không phải chủ yếu là các vật kiến trúc riêng biệt mà là các ô phố, trong đó đặc trưng chất lượng của chúng cũng được khái quát Trên bản đồ tỷ lệ 1:100.000 thì các ngôi nhà trong các ô phố không được thể hiện; sự biểu thị các đường phố với độ rộng quy định (0.5 – 0.8mm) có ảnh hưởng làm giảm diện tích của các ô phố trên bản đồ
Trang 6Cần phải nhớ rằng, trên các bản đồ tỷ lệ 1:100.000 và lớn hơn biểu thị tất cả các điểm dân cư
4- Mạng lưới đường sá giao thông và đường dây liên lạc:
Trên các bản đồ địa hình thì mạng lưới đường sá được thể hiện tỉ mỉ về khả năng giao thông và trạng thái của đường Mạng lưới đường sá được thể hiện chi tiết hoặc khái lược là tuỳ thuộc vào tỷ lệ của bản đồ Cần phải phản ánh đúng đắn mật độ của lưới đường sá, hướng và vị trí của các con đường, chất lượng của chúng
Đường sá được phân ra thành: đường sắt, đường rải mặt và đường đất Các đường sắt được phân chia theo độ rộng của đường ray, theo số đường ray, trạng thái của đường, dạng đầu máy xe lửa, Trên đường sắt phải biểu thị các nhà ga, các vật kiến trúc và các trang thiết bị khác thuộc đường sắt (tháp nước, trạm canh, các con đường ngầm, các đoạn đường đắp cao, cầu, cống, )
Các đường không ray được phân ra thành:
- Các đường ôtô trục
- Các đường rải nhựa tốt
- Các đường nhựa thường
Trang 7Khi lựa chọn phải xem xét đến ý nghĩa của đường sá Phải biểu thị những con đường đảm bảo mối liên hệ giữa các điểm dân cư với nhau, với các ga xe lửa, các bến tàu, sân bay và những con đường dẫn đến các nguồn nước
5- Dáng đất:
Dáng đất trên bản đồ địa hình được biểu thị bằng các đường bình độ Những yếu
tố dáng đất mà đường bình độ không thể hiện được thì được biểu thị bằng các ký hiệu riêng (Ví dụ: vách đứng) Ngoài ra, trên bản đồ địa hình còn ghi chú độ cao
Khoảng cao đều của các đường bình độ trên bản đồ được quy định như (bảng 5.2)
Khoảng cao đều (m) Nhỏ
nhất
Trung bình
Lớn nhất
Nhỏ nhất
Trung bình
Lớn nhất
Trang 8Trước khi biên vẽ dáng đất thì phải xác định rõ những đặc điểm chung và những dạng địa hình cơ bản và đặc trưng của nó
Trên các bản đồ địa hình cần phải thể hiện chính xác và rõ ràng các dạng địa hình có liên quan đến sự hình thành tự nhiên của dáng đất như các dãy núi, các đỉnh núi, yên núi, thung lũng, các vách nứt, rãnh sói, đất trượt và các dạng có liên quan với
sự hình thành nhân tạo như chỗ đắp cao, chỗ đào sâu, Sử dụng bản đồ có thể thu nhận được những số liệu về độ cao, về độ dốc với độ chính xác cao, đồng thời phải đảm bảo phản ánh đúng đắn sự cắt xẻ ngang và cắt xẻ đứng của bề mặt
Tổng quát hoá dáng đất tức là loại trừ các chi tiết nhỏ không quan trọng, đồng thời cho phép cường điệu các dạng địa hình đặc trưng do không phản ánh được đầy đủ khi chuyển từ khoảng cao đều của bản đồ tài liệu sang khoảng cao đều của bản đồ thành lập
6- Lớp phủ thực vật và đất:
Trên các bản đồ địa hình biểu thị các loại rừng, bụi cây, vườn cây, đồn điền, ruộng, đồng cỏ, cát, đất mặn đầm lầy, Ranh giới của các khu thực phủ và của các loại đất thì được biểu thị bằng các đường chấm; ở diện tích bên trong đường viền thì vẽ các ký hiệu quy ước đặc trưng cho từng loại thực vật hoặc đất Ranh giới của các loại thực vật và đất cần được thể hiện chính xác về phương diện đồ hoạ; thể hiện rõ ràng những chỗ ngoặt có ý nghĩa định hướng Các đầm lầy được phân biệt biểu thị các đầm lầy qua được, các đầm lầy khó qua và các đầm lầy không qua được, ngoài ra còn ghi độ sâu của đầm lầy Rừng được phân biệt biểu thị: Rừng già, rừng non, rừng rậm, rừng thưa, rừng bị cháy, rừng bị đốn, ghi rõ độ cao trung bình của cây, đường kính trung bình và loại cây
Khi biên vẽ thực vật và loại đất thì phải tiến hành lựa chọn và khái quát Việc chọn lọc thường dựa theo tiêu chuẩn kích thước diện tích nhỏ nhất của các
Trang 9đường viền được thể hiện lên bản đồ Ở những nơi tập trung nhiều đường viền có diện tích nhỏ hơn tiêu chuẩn thì không được loại bỏ, mà phải thể hiện bằng cách kết hợp với các loại (đất hoặc thực vật) khác, hoặc gộp vào một đường viền chung, hoặc dùng ký hiệu quy ước không cần đường viền
7- Ranh giới phân chia hành chính – chính trị:
Ngoài đường biên giới quốc gia, trên các bản đồ địa hình còn phải biểu thị các địa giới của các cấp hành chính Cụ thể là trên các bản đồ có tỷ lệ 1:50.000 và lớn hơn thì biểu thị từ địa giới xã trở lên, trên bản đồ tỷ lệ 1:100.000 thì không biểu thị địa giới xã Các đường ranh giới phân chia hành chính – chính trị đòi hỏi phải thể hiện rõ ràng, chính xác
5.1.4 Thành lập các bản đồ địa hình trên cơ sở các tư liệu ảnh hàng không
Thành lập các bản đồ địa hình có thể thực hiện bằng hai phương pháp: phương pháp đo vẽ và phương pháp nội nghiệp dựa trên các bản đồ có tỷ lệ lớn hơn
Trong đo vẽ bản đồ địa hình có 2 phương pháp cơ bản là: Đo vẽ ảnh hàng không
và đo vẽ bằng bàn đạc Trong một số trường hợp người ta còn ứng dụng phương pháp
đo đạc chụp ảnh mặt đất
Thành lập bản đồ địa hình bằng đo ảnh hàng không có 2 phương pháp:
phương pháp đo ảnh lập thể và phương pháp phối hợp
BĐĐH
Phương pháp
đo vẽ
Phương pháp nội nghiệp
Đo vẽ ảnh hàng không
Đo vẽ bằng
bàn đạc
Đo đạc chụp ảnh mặt đất
Đo ảnh lập thể
Phương pháp phối hợp
Trang 10Hình 5.1: Mô hình các phương pháp thành lập bản đồ địa hình
Dưới đây chỉ giới thiệu khái lược về nội dung của từng phương pháp đo ảnh đó
1 Phương pháp đo ảnh lập thể: Bao gồm các quá trình sau:
- Chụp ảnh hàng không
- Đo đạc khống chế và đoán đọc ảnh ở thực địa
- Đo vẽ các đường viền và dáng đất bằng phương pháp nội nghiệp
Khối lượng các công tác thực địa trong phương pháp đo ảnh lập thể bao gồm: đo đạc khống chế của mạng lưới đo ảnh và đoán đọc ảnh ở thực địa hoặc là kiểm tra các kết quả đoán đọc ảnh ở trong phòng
Việc đoán đọc ảnh ở trong phòng thì có thể tiến hành trên các ảnh hàng không, các sơ đồ hoặc bình đồ ảnh Việc đoán đọc hoàn toàn ở thực địa thì chỉ tiến hành đối với những khu vực có vô số các đối tượng có ý nghĩa quan trọng Để đoán đọc các điểm dân cư lớn và các thành phố, người ta dùng các tấm ảnh được chụp ở
Trang 11vẽ ở thực địa bằng phương pháp bàn đạc Việc đo vẽ dáng đất được tiến hành trên bản chụp lại của bình đồ ảnh
Phương pháp phối hợp gồm các quá trình sau:
- Tiến hành chụp ảnh hàng không
- Đo đạc khống chế ở thực địa
- Nắn ảnh và lập bản đồ ảnh
- Đo vẽ dáng đất và điều vẽ các đường viền trên bản đồ ảnh
5.1.5 Thành lập các bản đồ địa hình bằng phương pháp trong phòng từ các bản đồ địa hình có tỷ lệ lớn hơn
Quá trình thành lập các bản đồ địa hình trên cơ sở các bản đồ địa hình có tỷ
lệ lớn hơn thì bao gồm các giai đoạn chính sau đây:
- Công tác chuẩn bị biên tập
- Xây dựng bản gốc biên vẽ
- Chuẩn bị bản đồ để in
1 Công tác chuẩn bị biên tập bản đồ: Bao gồm:
- Thu thập và nghiên cứu các tư liệu bản đồ
- Nghiên cứu khu vực lập bản đồ
Trang 12để xác định vị trí của tất cả các yếu tố nội dung bản đồ Khi thành lập các bản đồ khái quát thì các điểm khống chế được dùng để kiểm tra sự phân bố các tài liệu bản
đồ địa hình gốc hoặc là để liên kết chúng với nhau
+ Các tư liệu ở dạng bản đồ bao gồm: Các bản đồ in, các bản chụp từ các bản gốc biên vẽ và các bản đồ gốc in Đồng thời các ảnh chụp hàng không và các
sơ đồ ảnh cũng thường được sử dụng
+ Các tài liệu viết được dùng để thành lập bản đồ bao gồm: Những bản mô
tả địa lý, những sách tra cứu (về phân chia các đơn vị hành chính, ), quy phạm và
ký hiệu quy ước cùng những tài liệu khác
Việc phân tích và đánh giá các tài liệu cần phải được tiến hành tỉ mỉ Trên cơ
sở phân tích đánh giá, phân các tài liệu ra thành các tài liệu cơ bản, các tài liệu phụ
và các tài liệu bổ sung:
Các tài liệu cơ bản là các tài liệu mà từ đó thu nhận được tất cả các yếu tố nội dung cơ bản để chuyển sang bản đồ cần thành lập Tài liệu cơ bản thường là các bản đồ địa hình có tỷ lệ lớn hơn
Các tài liệu phụ là những tài liệu dùng để kiểm tra, chính xác hoá hoặc để bổ sung một số yếu tố nội dung
Các tài liệu bổ sung là các tài liệu để người biên tập sử dụng nghiên cứu lãnh thổ, chính xác hoá bảng phân loại các yếu tố riêng biệt và thu nhận những đặc trưng số lượng và chất lượng Nó có thể là phần cơ bản hoặc phần phụ trợ
Thông thường trong các xí nghiệp bản đồ có bộ phận tư liệu bản đồ làm nhiệm vụ thu thập các nguồn tư liệu bản đồ một cách có hệ thống và phù hợp với
kế hoạch chuyên môn của xí nghiệp Bộ phận tư liệu đồng thời còn phải tiến hành các công tác trực nhật bản đồ, tức là phải ghi lại trên các bản đồ trực nhật những sự thay đổi trên thực địa về sự phân chia hành chính, các điểm dân cư, thuỷ hệ, dáng
Trang 13đất, đường sá giao thông, lớp phủ thực vật và đất Các bản đồ trực nhật là tài liệu quan trọng để thành lập bản đồ mới và hiệu chỉnh bản đồ
Trước khi đưa vào sử dụng để thành lập bản đồ thì các tài liệu cần phải được kiểm tra xử lý
Đồng thời với việc thu thập, phân tích đánh giá các tư liệu bản đồ, cần phải tiến hành nghiên cứu khu vực lập bản đồ:
Mục đích của việc nghiên cứu này là chỉ ra được những đặc điểm đặc trưng của khu vực cần phải thể hiện đúng trên bản đồ cần thành lập Trước hết phải tìm hiểu khu vực từ các tài liệu địa lý và các bản đồ tỷ lệ nhỏ, sau đó nghiên cứu các tư liệu bản đồ Quá trình nghiên cứu khu vực và quá trình phân tích tư liệu bản đồ có liên quan và bổ sung lẫn nhau, do đó cần phải tiến hành phân vùng lãnh thổ nhằm chỉ ra những phần có những cảnh quan địa lý khác nhau để quyết định phương pháp tiến hành tổng quát hoá khi biên vẽ chúng
Trong giai đoạn cuối của công tác chuẩn bị biên tập, nguời biên tập phải
lập kế hoạch biên tập, bao gồm những nội dung cơ bản như: mục đích bản đồ, tỷ
lệ, số mảnh, những đòi hỏi mà bản đồ cần thoả mãn, liệt kê những tài liệu và chỉ dẫn việc sử dụng các tài liệu đó; chỉ dẫn tổng quát hoá các yếu tố nội dung, công nghệ thành lập bản đồ
Kèm theo kế hoạch biên tập còn có sơ đồ sử dụng tài liệu, sơ đồ bố cục, sơ
đồ lựa chọn nội dung, bản ký hiệu quy ước và mẫu biên vẽ bản đồ
2 Xây dựng bản đồ gốc biên vẽ và công tác biên tập kiểm tra:
a Xây dựng bản gốc biên vẽ:
Để xây dựng bản gốc biên vẽ thì phải dựa vào bản thiết kế cuả bản đồ cần lập,
hay nói cách khác là dựa vào kế hoạch biên tập Bản gốc biên vẽ phải thoả mãn những đòi hỏi sau:
Trang 14- Phải thể hiện tất cả các yếu tố của nội dung bản đồ thật đầy đủ và phù hợp với kế hoạch biên tập
- Phải được xây dựng ở tỷ lệ của bản đồ cần thành lập
- Phải được xây dựng trên phép chiếu đã quy định
- Phải đảm bảo độ chính xác phù hợp với các quy định về ghi chú cũng như các quy ước
Trên bản biên vẽ thì các diện tích nền màu thường không thể hiện, trừ việc
tô màu lam để thể hiện mặt nước Những yếu tố mà trên bản đồ xuất bản được in bằng màu lam hoặc tím thì trên bản biên vẽ được vẽ bằng màu khác
Để tránh biến dạng thì bản đồ gốc phải được vẽ trên loại giấy tránh được sự
co dãn
Các bước xây dựng bản đồ gốc biên vẽ:
- Tính toán cơ sở toán học
- Dựng cơ sở toán học
- Chuẩn bị tài liệu bản đồ để biên vẽ
- Tiến hành vẽ các yếu tố nội dung
Dưới đây sẽ trình bày cụ thể về các bước xây dựng bản biên vẽ của bản đồ địa hình:
1- Tính toán cơ sở toán học:
Các bản đồ địa hình của nước ta hiện nay được lập trong hệ VN-2000 với lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc UTM trong hệ thống múi 6o đối với bản đồ có
tỷ lệ từ 1:10.000 đến 1:2000 và trong hệ thống múi 3o đối với bản đồ có tỷ lệ 1:500.000 đến 1:25.000
Để xây dựng cơ sở toán học của bản đồ địa hình, trước hết cần phải tra bảng toạ
độ Gauss- Kruger để xác định toạ độ của các điểm góc khung Đối với các bản đồ tỷ lệ
Trang 151:10.000 và nhỏ hơn thì ngoài 4 điểm góc khung còn cần một số điểm trung gian trên khung bắc và khung nam bản đồ
3- Các phương pháp kỹ thuật xây dựng bản biên vẽ:
Ngày nay, để xây dựng bản biên vẽ, người ta dùng các phương pháp sau đây:
- Chụp ảnh bản đồ tài liệu theo tỷ lệ cần thiết và nhận được âm bản chụp Trước khi chụp ảnh phải xử lý các bản đồ tài liệu gốc và xác định chính xác kích thước chụp ảnh
- Từ âm bản chụp chế ra các bản in lam trên giấy vẽ Kích thước bản in lam không được sai quá 0.2 – 0.3 mm so với kích thước tính toán
Trang 16- Chọn bản lam có kích thước và chất lượng đạt yêu cầu để dán lên bản cơ sở toán học đã chuẩn bị sẵn trên nền cứng Quá trình cắt dán dựa theo các điểm khung, khung bản đồ, lưới kilômét và các điểm khống chế Trên bản lam ở 1 số chỗ giao nhau của lưới km người ta trổ các lỗ hổng sao cho có thể nhìn thấy các đường của lưới km trên bản cơ sở Bản lam được cắt theo khung trong rồi dán lên bản cơ sở sao cho các điểm và các đường tương ứng trên bản lam và bản cơ sở trùng nhau Bản lam đã cắt dán phải đạt được những yêu cầu cao về mặt kỹ thuật,
độ sai lệch không vượt quá 0.2mm, bản lam phẳng, sạch, không bị bong Trong nhiều trường hợp, để đảm bảo cho độ sai lệch không vượt quá quy định, người ta phải cắt bản lam ra thành một số phần rồi mới tiến hành dán
Sau đó, người biên vẽ bản đồ tiến hành biên vẽ các yếu tố nội dung trên bản lam đó theo đúng những nguyên tắc và phương pháp tổng quát hoá đã chỉ rõ ở kế hoạch biên tập
Trong trường hợp phép chiếu của bản đồ tài liệu và phép chiếu của bản đồ cần thành lập khác nhau, để có thể ứng dụng được phương pháp cơ ảnh, người ta phải nắn hình biểu thị trên bản đồ tài liệu bằng các máy nắn, sau đó mới có được bản lam theo phép chiếu bản đồ cần thành lập
Phương pháp dùng máy chiếu quang học
Để xây dựng bản đồ gốc có thể dùng máy chiếu quang học Máy chiếu quang học có nhiều dạng khác nhau Để làm ví
dụ, ở đây chỉ giới thiệu sơ bộ máy chiếu phản
xạ (hình 5.2)
Máy chiếu phản xạ dùng để chiếu hình
ảnh từ nguyên bản không trong suốt lên màn
ảnh Theo sơ đồ ta có: bản đồ tài liệu 1 được
Hình 5.2
~H42_T116_BG