1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương - Phần 12 ppt

30 298 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương - Phần 12 ppt
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử dân tộc, Văn hóa dân tộc miền núi
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản Chưa rõ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 252,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ðặc biệt, tư duy Hébreu khi nói về các chân lý lớn cũng vậy; có những câu châm ngôn trong các Sách Thánh giáo mà ta có thể gặp lại, gần như là dịch nguyên văn trong Luật tục: "Dấm đối ră

Trang 1

Dam Bo

Miền đất huyền ảo

(Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương)

Hiện nay mới chỉ có bộ luật tục Êđê được sưu tầm và xuất bản đầy đủ

Một nghị định ban hành năm 1923 đã chính thức hóa bộ Biduê này:

"Việc xét xử được tiến hành theo tục lệ bản địa ở Ðaklak:

"do các trưởng làng và các po lan, chủ đất,

Trang 2

"do tòa án được thiết lập ở trụ sở tỉnh

"Việc xét xử tại các tòa án ở làng và tòa án tỉnh phải tuân theo: 1° pháp

chế của luật tục truyền miệng dưới hình thức gọi là Biduê; 2° các lối

vận dụng riêng của từng tộc người "

Luật tục Srê, hay Nri, đã được sưu tầm và nay mai sẽ được xuất bản

Ðối với các tộc người khác, công việc mới chỉ còn ở giai đoạn mầm mống Nên việc nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung chủ yếu vào bộ

Biduê và bộ Nri, mà chúng tôi sẽ phân tích và so sánh, nhận ra ở đấy

kết quả của một tư duy chung, chung cho những người Tây Nguyên, chung cho nhiều dân tộc khi họ còn ở giai đoạn đầu này trong lịch sử của họ Ðặc biệt, tư duy Hébreu khi nói về các chân lý lớn cũng vậy; có những câu châm ngôn trong các Sách Thánh giáo mà ta có thể gặp lại, gần như là dịch nguyên văn trong Luật tục:

"Dấm đối răng và khói đối với cọn mắt thế nào, thì kẻ lười biếng đối

với người gửi nó đến cũng hệt thế." (Cách ngôn 10)

"Người đầu tiên nói trong vụ kiện của anh ta có vẻ đúng; rồi đến lượt

phe đối lập và người ta sẽ xem xét." (Cng 18)

"Cũng như lửa làm cho cục sắt trở thành bén, một kẻ này kích động sự

tức giận của kẻ khác." (Cng.27) - "Kẻ nói nhẹ nhàng làm ta bị thương

Trang 3

như một mũi kiếm; nhưng lời nói của người hiền lại chữa cho ta lành."

(Cng 12) (Biduê số 22) - "Kẻ đem đến một bằng chứng giả dối chẳng

khác gì một mũi tên." (Cng 25)

"Như con chim sổ lồng, như con én tung bay, lời nguyền rủa không có

nguyên nhân chẳng tác dụng gì." (Cng 26)

"Ðừng có sàn theo mọi hướng gió, và đừng có đi bất cứ con đường

nào; con người có cái lưỡi kép là như vậy đấy." (Hội thánh 5)

Ngay cả hình thức thơ cũng tuân theo những quy luật giống nhau, về nhịp điệu và vần thông

Truyền thống còn giữ được sinh động một hệ thống pháp lý chuẩn xác

và có tổ chức đến mức ta có thể nói đến một "Tập quán pháp", xác định cách ứng xử của mọi người và được mỗi người biết đến, bộ luật về những mỹ tục của cuộc sống ở Tây Nguyên, bộ luật truyền khẩu và chặt chẽ, di sản của tổ tiên và là tài sản của nhân dân Bộ Luật là một thứ "viên nén" về cuộc sống ở đây; đọc sưu tập bộ luật tục ấy, ta có thể dựng nên một bức tranh khá hoàn chỉnh về cuộc sống đó Vì yêu cầu của việc trình bày, chúng tôi đã nghiên cứu riêng phần luật pháp và phần tôn giáo, nhưng trong thực tế không hề có ngăn cách giữa các hiện tượng tôn giáo và các hiện tượng luật pháp

Trang 4

Chúng ta có thể có một ý niệm về tổng thể một kết cấu như vậy và tầm

rộng lớn của lĩnh vực mà nó bao quát, khi đọc mục lục của bộ Biduê Êđê, mà hầu hết các điều mục cũng thấy có ở bộ Nri:

" - Về các hình phạt, về các vụ tòng phạm, về những người vu khống ;

" - Về các tội ác và tội chống lại người thủ lĩnh (không tuân lệnh thủ

lĩnh, về những người bỏ làng ra đi mà không báo cho thủ lĩnh );

" - Về các tội ác và các tội do thủ lĩnh phạm (về người thủ lĩnh che dấu

dân của mình, về người thủ lĩnh áp bức dân của mình );

" - Về những tội ác và tội chống lại người khác (về những kẻ lang thang,

những người có bệnh truyền nhiểm, những kẻ gieo phù chú, những kẻ đốt nhà, những kẻ lười biếng );

" - Về việc cưới xin (lễ hỏi, hồi môn, luật thay thế, sự thủy chung,

không chịu động phòng, ngoại tình, hiếp dâm, loạn luân, bắt cóc, phá thai ;)

" - Về cha mẹ và con cái (trách nhiệm, sự không vâng lời);

" - Về các trọng tội (giết người, đầu độc, đánh đập và gây thương tích,

tai nạn; về những người điên, những người say rượu );

" - Về tài sản (thừa kế, mua và bán, vay mượn, lãi, ăn trộm, trộm ngũ

cốc, trộm súc vật);

Trang 5

" - Về gia súc (trâu chọi nhau, phá hoại mùa màng, bẫy );

" - Về chủ sở hữu đất đai, quyền hạn và bổn phận của người po lan

Toàn bộ cuộc sống công cọng và riêng tư đều được quy định ở đấy

Kết cấu của bộ Nri cũng gần giống như vậy; tuy nhiên các chương về

các thủ lĩnh (tội chống lại thủ lĩnh và bổn phận của thủ lĩnh) hạn chế hơn nhiều; điều về các tối chống lại người khác cũng rút gọn hơn Luật hôn nhân ở đây cũng được coi trọng như vậy; trái lại không có vấn đề

về cha mẹ và con cái; điều về các trong tội cũng phong phú như vậy; điều về tài sản càng rộng hơn, chiếm đến một phần ba các bản văn được đọc Ở vùng người Srê, phần lớn các vụ xử kiện là về việc tranh chấp tài sản, của cải Hầu hết các vụ khác là về chuyện nguyền rủa nhau

Mỗi điều là một bài thơ tượng trưng nhỏ có nhịp điệu Không thể nói là đối với mỗi trường hợp được nêu lên, vị quan tòa cứ máy móc đọc ra vài khổ thơ nào đó trong luật tục áp dụng trực tiếp vào trường hợp đó

Có những sáo ngữ có thể dùng ở mọi chỗ như: "vụ việc đã cũ như một

cái củ rỗng", những công thức chung cho nhiều vụ việc; lại phải soạn

ra, lấy ở chỗ này chỗ nọ những chuỗi kết hợp các hình ảnh chung thích hợp với trường hợp đưa ra Vị quan tòa, sau khi nghe các bên, tìm một

Trang 6

gung (con đường), nghĩa là sợi dây, cái chuỗi các câu nghi thức có nhịp

đáp ứng đúng đề tài của mình; đã tìm được cái ấy rồi và đã bắt đầu đọc,

là ông ta thao thao bất tuyệt, một hình ảnh này lại gọi hình ảnh kia do

kết hợp ý tứ và vần thông; tam tiip, "chúng gặp nhau", chính họ nói như

vậy [1] Sau khi đã nghe đọc luật tục, mọi bàn cãi đều là thừa - "từ ngàn

xưa đã như vậy rồi" - và sự vụ đã được giải quyết, những lời nói ngày

xưa có sức nặng đến thế đấy

Mỗi điều của Luật tục là một ẩn dụ được phát triển ra Hình như nói chung bao giờ chúng cũng đi bên cạnh đề tài và không bao giờ có vế thứ hai của cặp so sánh; ta không bao giờ thấy được ý tưởng muốn đi đến đâu, khi các hình ảnh táo bạo đến thế Rời bỏ lĩnh vực biểu tượng thuần túy, ý tưởng đột ngột tập trung vào trường hợp tranh chấp, vận dụng vào đó, bao gộp lấy nó và giải quyết vấn đề; thỉnh thoảng một ẩn

dụ nhắc lại chuổi hình ảnh cổ xưa Trừ một số ít ngoại lệ, việc tuyên án không nằm trong phần đọc luật tục

Bộ Biduê có phần nói đến vế thứ hai nhiều hơn và thường chỉ ra cả hai

vế của cặp so sánh; cứ trở đi trở lại kiểu: "Kẻ nào làm cũng giống

như ; nó có tội vì " Bộ Nri chủ yếu gồm những lý do được diễn đạt

một cách ẩn dụ, tới mức rất khó hiểu nếu ta không thật có thói quen và

Trang 7

nhiều khi có những câu chữ vẫn tối nghĩa đến gây lúng túng

Ở vùng Srê, có những cụ Già làng biết cách phân biệt trong bộ Nri

những jönau yal, những lý do biểu tượng, có nhịp điệu, được hát lên và không ngừng trở đi trở lại - jönau cah rönya, sự vận dụng vào vụ tranh chấp đang xử và việc xử có tội hay không; hai phần của một ddös nri (ngôn ngữ luật pháp cổ) -, và jönau dous, món tiền phạt phải trả để giải

quyết vụ việc, được nói bằng ngôn ngữ thông thường

Như vậy hình phạt là một bộ phận ở bên cạnh của bộ luật; nó đã được biết trước vì theo truyền thống nó đã gắn liền với việc vi phạm một tục

lệ nào đó Ðấy là món tiền người vi phạm phải trả cho người bị thiệt, giá trị sẽ từ một ché rượu, đến một con gà, một con lợn, một con trâu hay một chiếc chiêng, tùy theo mức độ phạm tội [2] và ở vùng Êđê thì tùy theo sự giàu có của con nợ [3]

Không có chuyện phạt tù; nhưng ta thấy có phạt làm nô lệ: phải sống một thời gian ở nhà người chủ nợ, và làm việc cho anh ta; nhưng nói chung không có chuyện đối xử xấu Tình trạng nô lệ có thể được chuộc bằng cách trả "giá thân thể": ở vùng Êđê là một chiếc chiêng bằng đường kính một khuỷu tay và một gang, ở vùng Srê là bảy chiêng, hay

bảy trâu, hay bảy tấm chăn (oui lang) Người Srê không biết đến tội tử

Trang 8

hình, nhưng luật tục Êđê có dự kiến tội này đối với bọn cướp và đốt

nhà, ngày nay được giảm thành tù chung thân "Người ta sẽ chém đầu

nó bằng một thanh gươm lớn, sẽ cắt cổ nó bằng con dao sắc, và người

ta sẽ vứt xác nó ra ngoài bãi cho kênh kênh và quạ, hay người ta dẫn

nó vào rừng sâu, treo cổ nó lên một cái cây, và bỏ mặc nó cho thú

dữ " (Biduê, 49)

Ở vùng Srê, tội bị phạt nặng nhất là loạn luân, ngày xưa rất ít, ngày nay không còn thấy Phải chuộc tội với các Thần linh bị xúc phạm và với dân làng Ngày chuộc tội, lễ chuộc tội, hiến sinh và bữa ăn phải tiến hành trên một bãi cỏ, giữa trời, để Thần Mặt Trời chứng giám Chất của vật hiến sinh phải đúng với chất của tội lỗi: loạn luân là sự đi lại của hai người giống nhau (về dòng máu), cho nên phải cúng những con vật giống nhau: bảy con gà trắng, bảy con dê trắng, bảy con lợn trắng, bảy con trâu trắng Hai người có tội phải đeo gông suốt trong ngày giải tội công cộng đó Thần Sấm trừng phạt những cuộc ghép đôi không phải phép; nhưng vì có sự ưa thích đối với tất cả những gì màu trắng, nên người ta cúng cho Thần những con vật màu trắng để Thần no đủ và cho con người được yên ổn

Trang 9

Ðôi khi hình phạt là một lễ hiến sinh tạ lỗi đối với vị Thần bị xúc phạm, như trong trường hợp tội nặng mà chúng tôi vừa kể, hoặc như trong các

trường hợp khác được nói đến trong Biduê: vì đã chôn cơm nguội trong

rẫy của người khác, cúng một con lợn cho vị thần đất bị xúc phạm; vì

đã xây một nấm mộ trong rẫy của người khác, cúng một con lợn trắng; người đàn bà góa đi lấy chồng trước khi bỏ mả phải cúng một con lợn cho hồn người chết; kẻ phạm tội hiếp dâm phải cúng một con trâu, v.v

(số 93, 117, 152 bộ Biduê)

Ðể có thể xem xét sự thống nhất về tinh thần đã chi phối Luật tục, được diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau, và sự độc đáo trong cách diễn

đạt ấy, chúng tôi xin dẫn ra song song sau đây, vài điều của bộ Biduê

và bộ Nri, những "chuỗi" các công thức biểu tượng được đọc bằng một

ngôn ngữ huyền bí:

Về người đàn bà không chịu tang trước khi bỏ mả chồng

"Mộ còn chưa đắp, nấm còn chưa xong, người ta còn chăm lo cho linh

hồn người chết - mộ mở ra, quan tài dựng dậy, vì người vợ không để tang cho đúng - vì bà không để tóc xõa rối bù, vì bà không chống tay vào cằm, vì bà không để tang cho đúng đối với người chồng đã chết,

Trang 10

mục nát như hạt thóc - Gói thuốc, bà đem chia đôi (một phần cho người chết, một phần cho người tình); bà ve vãn người ta, bà ngủ với các ông chồng, bà kéo họ vào rừng; - khi mộ vừa mới lấp xong, khi nấm còn phải chăm lo, khi người ta lo việc người chết chưa xong, khi cây chuối và khoai chưa kịp trồng (trên nấm), khi con gà con chưa được thả ra, khi chưa ai quên người chết; khi chưa bỏ mả

"Vì chuyện đó bà có tội và có vụ việc giữa gia đình người chết với bà -

Nếu gia đình người chết nghèo bà phải cúng một con trâu và trả một món đền - Nếu gia đình người chết giàu bà phải cúng một con trâu "

(Biduê, 116)

"Mộ còn chưa sập - nhà người chết còn chưa mọt - đất còn nhớ - vậy

mà mày đã chặt ngay cây cột (= mày không tôn trọng tục lệ) - mày bước qua trên ta - Mày coi khinh cái đầu ta như đầu một con cá nhỏ

(mày không sợ xúc phạm ta, giống như người ta không sợ vồ một con

cá vốn không có sừng để mà chống lại) - Nằm trên một tổ mối (để cho

nó đốt), lấy tay mà đập vào tổ kiến (nt) - như thế là có những quan hệ

bị cấm (= tức là có thể bị đòi nợ) - Trái cây rơi xuống người ta muốn

ăn - trái cây ta trồng, mày không được ăn (= không thể tái giá khi

Trang 11

nào mình muốn) (Nri, 30)

Về việc thông dâm trong nhà người khác

"Người đàn bà mang đất [vào trong nhà] đến đầu gối, mang bùn đến

háng, mang đất vào đầy nhà người khác; - những kẻ làm bẩn gối người khác, nhà người ta, nơi người ta đặt thuốc lá và trầu; - những kẻ bôi bẩn chiếu người khác, bôi cáu ghét lên chăn, giao hợp với nhau trong nhà người khác như lợn và như chó - bọn u mê và đi vào nhà riêng của người ta làm bẩn cả chiếc áo đỏ - những kẻ đó có tội và phải đền bù." (Biduê, 149)

"Ðất ở chân (đấy là chỗ của nó); mà mày lại bôi lên gối ta: đứa bé

phải bú mẹ nó, mày lại đặt nó vào vú ta (việc nào có chỗ của việc ấy).- Người ta tập họp trong nhà để ăn thịt cúng; mày đã làm bẩn chân ta và đứa bé bám vào vú mà khóc (= trật tự và phong tục bị đảo lộn) - Có một món nợ, phải buộc dây dắt chó lại (= phải trả một món chuộc) - phải lấy cái chăn của mình một làm dây dắt (trả món chuộc này bằng

chính của cải của mình) - Ðể xóa món nợ này, phải trả sáu chiêng."

(Nri, 37)

Trang 12

Về tội hiếp dâm

"Kẻ nào thấy muối muốn nếm, thấy ngựa hay trâu muốn cưỡi, thấy con

gái hay vợ người giàu, con gái hay vợ của người ta muốn hiếp chẳng

có duyên cớ; - nếu nó hiếp vợ người nghèo, đền một con lợn; - nếu nó hiếp vợ hay con gái người giàu, đền một con trâu." (Biduê, 152)

"Ði qua trên con chim börling, - đi qua trên con diều hâu đang ở dưới

đất - Tôi có một con ngựa cái đẹp, những kẻ quyền thế cưỡi nó; tôi có một con trâu cái đẹp, người ta lấy mất nó của tôi." (Nri, 34)

Về việc trộm ngũ cốc

"Kẻ nào giật khăn quấn đầu hay túi đeo vai người ta đang mang, kẻ

nào, như linh hồn người chết hay như các thần, theo đuổi người đang làm đồng; - kẻ nào trộm đầy tay hay đầy thúng kê hay thóc, trộm thóc của người giàu hay thóc của anh em; - kẻ nào ăn trộm như thế cũng có tội như kẻ giết người; - và vì chuyện đó hắn ta phạm tội rất nặng."

(Biduê, 203)

Trang 13

"Gỗ thường và gỗ rẽ nhánh (= có những sự vụ không quan trọng gì và

những vụ khác giống như những cây gỗ rẽ nhánh rất được quý để làm

các vật dụng nào đó) - có những con dế mèn nhỏ và những con dến mèn

khó chịu; - chiêng chẳng giá trị gì và chiêng cổ (= có những vụ trộm

Chúng ta sẽ tìm thấy một sự thống nhất về cảm hứng như vậy khi so sánh các điều song song, về việc đặt lại một vụ việc đã xử rồi, về việc cháy rừng, cháy nhà, về việc hủy bỏ hôn ước, về sự chung thủy vợ chồng, về những kẻ lười biếng không chịu làm việc cho vợ, về ngoại tình, về những người cưới nhau không báo cho thủ lĩnh, về việc lấy trộm con mồi mắc bẫy, về việc lấy cắp cá trong lờ của người khác, về những kẻ giết gia súc đi vào rẫy của mình (điều 5, 80, 82, 95, 109, 112,

114, 129, 199, 207, 208, 228 trong Biduê)

Vài ví dụ dẫn ra trên đây cho thấy rõ ở bộ Nri một xu hướng súc tích

Trang 14

tối đa trong cả một thác các ẩn dụ Bộ Biduê có dáng vẻ một bộ luật hơn

Tinh thần của pháp chế

Một cuộc xem xét các hiện tượng luật pháp truyền thống kể trên đã có thể cho phép ta nhận ra những quan niệm mà chúng thể hiện liên quan đến các lĩnh vực xã hội học, tâm lý học và đạo đức, và sự trôi trượt

không thể tránh đến tôn giáo, là cái, như chúng ta sẽ thấy, bao gộp tất

cả

Chúng ta đã nói đến tổ chức xã hội ở Tây Nguyên; luật tục vừa là nền tảng thiêng liêng vừa là sự biểu đạt giản lược, mang tính biểu tượng, huyền bí của nó Người Tây Nguyên có ý thức về một thiết chế vững vàng cho gia đình để tránh một sự chia xẻ con người và tài sản, sẽ là sự suy thoái của tộc người, sự sụp đổ của từng người và của tất cả, một sự bại hoại di sản tổ tiên Chúng ta thấy dấu vết của ý thức đó trong nhiều

điều của bộ Biduê hay Nri:

Sự tùy tiện của riêng một người không thể đủ để quyết định một cuộc hôn nhân (quan hệ giữa hai gia đình), một cuộc chia tay, một vụ bán tài

Trang 15

sản Phải họp hội đồng gia đình và nghe lới nói của người Già, của

người bác-chủ tịch của hội đồng đó: "Người bác không được báo trước,

ông không biết vì sao người ta đánh trống - người ta không nói chuyện

đó với người bác xa - người ta không đưa vòng cho người Chàm - Ðất

và Trời không nhất trí (= khi có hai phía, thì phải bàn bạc để đi đến

nhất trí) - khỉ và rùa không nhất trí - Một việc ta thích, nhưng mẹ lại có

thể cho là xấu (dịch nguyên văn: "tai ta nghe thuận, mà mẹ thì lại nghe

như bị bỏng") - chị có thể thấy là vô vị - cha có thể cho là đắng - thủ

lĩnh có thể cho là dai" (vậy thì phải xin họp hội đồng và báo cho những

người lớn biết) (Nri, 32, Biduê, 129)

Trong tinh thần của Hội đồng này, mối lo ưu tiên sẽ là bảo tồn gia đình, điều kiện bảo đảm tính bền vững của tài sản Luật tục Êđê biểu đạt và

cố định điều đó trong khái niệm truyền thống về sự thay thế: "Khi xà

nhà gãy, người ta thay thế chúng, khi sàn nhà hỏng người ta sửa lại, khi một người chết người ta thay thế họ bằng một người khác - Ðiều

đó là để giữ mầm mống của căn nhà tranh - để bảo tồn mầm mống (của

giống nòi) được truyền lại từ xa xưa - Phải giữ gìn nó như ta giữ đám

rẫy cũ, như ta giữ cây củi cũ, mầm mống của tổ tiên, của các bác, các

Ngày đăng: 27/07/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN