Dam Bo Miền đất huyền ảo Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương Phần XIII Chất thơ trong biểu đạt Luật tục mang tính tôn giáo, không thể chấp nhận việc thêm thắt, nhưng không phải là văn b
Trang 1Dam Bo
Miền đất huyền ảo
(Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương)
Phần XIII
Chất thơ trong biểu đạt
Luật tục mang tính tôn giáo, không thể chấp nhận việc thêm thắt,
nhưng không phải là văn bản chết, không phải chỉ vì nó được giữ gìn bằng lối truyền khẩu; nó tồn tại một cách sống động, nó chính là đời sống của dân tộc Tây Nguyên Và với tư cách đó, nó đầy chất thơ, hết thâm trầm lại vui tươi, nó là một giai điệu ca hát Người Tây Nguyên
biết hát tất cả những gì anh ta làm (ddos cirih yao)
Phân tích lối diễn đạt thơ của Luật tục, đương nhiên chúng ta sẽ gặp lại điều ta đã nói trên đây, về hình thức thẩm mỹ của các truyện cổ Tất cả những cái đó chỉ là một; do yêu cầu trình bày, chúng ta đã chia ra thành từng chương, do đó mà đã chia cắt cuộc sống thành từng lớp cắt giả tạo
Ngôn ngữ của Biduê, Nri và các bộ luật tục khác là ngôn ngữ thơ-huyền
Trang 2bí (ddös pöndik), ngôn ngữ vẫn lưu giữ tất cả những gì là truyền thống,
tính chất mờ tối gần như thiêng liêng bảo đảm một tính trung thành tôn giáo và nhịp điệu đều đặn của nó làm thành một thuật nhớ, tạo dễ dàng cho việc truyền nối vĩnh viễn
Các phương cách kết cấu của nghệ thuật thơ đặc biệt này bao giờ cũng giống nhau: hết sức tự do về từ vựng và cú pháp biểu hiện bằng sự lặp lại mỗi một từ ấy mà người ta thay đổi hai hay ba lần các nguyên âm, bằng lối đảo ngược táo bạo trật tự thông thường của câu đưa vị ngữ ra trước và chủ ngữ về cuối; bằng các lối tĩnh lược khiến người dịch đến phải tuyệt vọng, chưa kể chỉ bằng mỗi một từ mà ám chỉ đến một
truyền thuyết hay một phong tục mà cử tọa đều biết
Ta có thể dễ dàng xem xét những ví dụ sau đây:
Jat ea nyu knang hong cš
Múc nước nó dựa với núi
bš ea mao boh boh tao kli
ngăn sông có đá bằng
mao kddi arang nyu knang hong sah mdrong
có khác người khác nó dựa với thủ lĩnh giàu
Trang 3Có nghĩa là: "Khi ở giọt nước về và ta mệt, ta tựa vào bờ đất: Khi xây một cái đập, thì phải dùng đá bằng; Khi có một sự vụ, ta phải tìm sự
nương tựa ở người thủ lĩnh" (Biduê, 31)
Nyu dlang nyu hdeh
Nó có nó con
klong ka thao sang sang
đường mòn chưa biết hiểu
bang ka thao bit
lỗ chưa biết nơi
engit lan hong adie ka thao kral
xanh lơ đất với trời chưa biết nhận ra
Có nghĩa là: "Kẻ nào thấy một đứa bé còn ở tuổi chưa biết nhận ra đường đi, còn chưa biết cái lỗ (lỗ Adren, nơi từ đó người Êđê đã chui ra), và còn chưa phân biệt được màu xanh của trời với màu xanh của
chốn xa xăm " (Biduê)
Trang 4Ago röpu boê til
Không có trâu chữa lành dấu vết
"Khi không tìm được con trâu đã mất, thì chỉ nhìn thấy dấu chân của nó
cũng là một điều an ủi rồi." (Nri)
Bang pôrnae dôdm
Chặt chày phiến gỗ
"Muốn chặt chiếc chày giã gạo (đúng độ dài như ý) thì cần có phiến gỗ
làm chỗ tựa" = Muốn kết tội thì phải có bằng chứng (Nri, 28)
Kuo börling jak du tung
Bắt börling khéo trốn lông đuôi
"Khi muốn bắt con chim börling, nó rất khéo chạy trốn và chỉ để lại cái
lông đuôi" = Khó mà bắt quả tang được tên trộm; tưởng đã bắt được rồi
nhưng nó đã thoát mất (Nri, 63)
Chúng ta cũng nhận ra lối ghép vận đã biết: âm cuối câu vần với âm
Trang 5đầu câu tiếp theo; trong tiếng Êđê, gần như bao giờ cũng là vần giữa
âm cuối và âm thứ hai:
Kö dlong êdah ktu
kö gu êdah eh un
ddih kun kuê sa sung sa mô
(Biduê, 20)
Êa blung nyu kdat
êa khat nuy kplong
sah mdrong nyu gac
Trang 6Töm röpu ruh neh bah
töm röpu rah neh boe
loe kon kuny neh ras
(nt 5)
Bằng cách này hay cách khác, bao giờ một câu cũng gọi một câu khác được báo trước trong từ cuối được đọc lên; đấy là một lối ghi nhớ của
Trang 7người hát lễ
Các cách thức thơ đó gắn liền với sự cân đối của câu thơ về mặt trường
độ và sức mạnh của các thì, tạo nên cái nhịp điệu rất đỗi đặc trưng của tất cả giai điệu Tây Nguyên Ở xứ sở này, "điều luật" của Luật tục là một bài thơ, cũng như tất cả những gì nhắc nhớ đến cái cổ xưa
Bộ Nri đôi khi trình bày một hình thức văn học đặc biệt: các điều luật
được biểu hiện bằng một cuộc đối thoại giữa hai phía, một cuộc đối thoại hư cấu do người xử kiện hát một cách máy móc, hoặc là đối thoại thật khi những người bào chữa nắm vững Luật tục Ở điều về các điều buộc tội tùy tiện, ta gặp đoạn sau đây:
(Bị can) "Tôi đã làm gì đây mà phải bị phạt? - Tôi giống như một cái
dây leo con tươi và mới; - Việc gì đâu mà tôi phải bồi hoàn?
(Người kết tội) "Khi mẹ về muộn, đứa con phải đi tìm mẹ - mày không
đến trả món nợ của mày, thì ta phải đến tìm - Nín lại một cái rắm, thì lại sinh ra một chỗ sưng phồng (có những sự vụ không thể giữ lại mà
không gây ra thiệt hại) - Trộn lẫn những cái không thích hợp, sẽ bị
Thần Sấm phạt
Trang 8(Bị can) "Bực tức, tôi phá tan tất cả; - Bực tức, tôi đạp đổ căn chòi của
tôi ở ruộng Tôi không ăn muối, tôi không liếm cả một con cá khô Tôi có lấy gì đâu một phải chịu nợ? "
Các so sánh được lấy trong thiên nhiên, trong đời sống và thói quen của
các loài vật, là cách thức thường được dùng trong bộ Biduê:
"Kẻ không đứng về phía con gà, lại đứng về phía con chồn hạt dẻ " =
kẻ tự biến mình kẻ thù của những người thân của mình (47)
"Kẻ giống như con nhện giăng tơ, như con thỏ chạy trốn, giấu hết mọi
mối tranh chấp " (59)
"Nó sợ, giống như con hổ, mà không ai biết đến sức mạnh, như con thỏ
không ai biết âm mưu, như con lợn rừng hay con nai không ai biết được hang " (136)
"Con tê giác chết, người ta lấy sừng, con voi chết, người ta nhổ ngà " (Nri, 53; "về việc nối dòng")
Trang 9Bộ Nri thích những so sánh lấy từ đời sống quen thuộc:
"Tôi mất chiếc cuốc nhỏ, chưa tìm lại được thì tôi chẳng chịu dừng "
= Tôi đi tìm kẻ đã trốn khỏi làng (6)
"Tôi không thổi được lò rèn của tôi, tôi thuê một ai đó giúp tôi " = Tôi
cần một người bào chữa (7)
"Lúa chín đòi liềm" = tội thì phải phạt (10)
"Lửa đã tắt từ lâu, thuốc trong ống điếu hút hết, rừng đã đi qua hết "
= trở lại một vụ án đã xử rồi
(Biduê, 5)
Ðôi khi so sánh kéo dài thành một bài ngụ ngôn, như điều sau đây chứa đựng một nhận xét tâm lý tinh tế:
"Kẻ đi câu cá bơn đứng trên bờ; kẻ đánh cá bằng thúng đứng ở chỗ
những không sâu; kẻ đánh cá bằng lưới quăng tìm hố nước sâu " = kẻ
tìm cách tốt nhất để có được cá ăn là hình ảnh của kẻ can thiệp vào sự
vụ của người khác để kiếm được tiền (Nri, 61)
Như ta thấy, bộ Nri ít khi cung cấp vế thứ hai của cặp so sánh; đấy thật
sự là ẩn dụ, mà người Srê gọi là ddös pla Có một đôi ẩn dụ-chìa khóa
thường trở đi trở lại và cho phép ta hiểu ý nghĩa của cả điều luật, như:
"Phải cột dây dắt chó" = phải trả một món phạt
Trang 10"Nhiều tai nghe khác nhau, thì mệt" = khi người ta không đồng tình với
nhau, là sinh chuyện
"Ngoại tình trên đường, rìu dài" = (sự vụ quan trọng); ngọai tình khi
cùng đi lấy củi, rìu bằng chì (= chẳng đáng kể)
Kẻ làm ra vẻ nhân vật quan trọng thường được chỉ bằng câu nói vòng
này: "Dùng dao dài quá thì bị thương suốt" - "những kẻ cư xử như lưỡi
dao lại cứ muốn to hơn cái cán." (Biduê, 188)
Tính biểu tượng ấy toát ra một tinh thần phức tạp Ta nhận ra ở đây cái
óc quan sát, vốn là ưu thế của những người "Nguyên thủy" như chúng
ta đã nói: (" kẻ cứ bám quanh chân, như khói bên bếp lửa hay nước
dưới sông, để gây chuyện " Biduê, 217), một nhạy cảm tâm lý được
bọc dưới hình ảnh: ("kẻ giống như cỏ lại muốn cao hơn tre, như thú
rừng lại muốn nhảy lên cao hơn ngọn cây " Biduê, 6); một tính thơ
tinh tế: (" kẻ thấy một đứa bé không biết phân biệt màu xanh xa xăm
của những ngọn núi với màu xanh của bầu trời, kẻ giống như con chim
cu gáy tìm nắng ấm, như con vẹt mái để gió cuốn đi " Biduê, 137) Và
đằng sau tất cả những cái đó, không biểu đạt ra, nhưng thật sự là linh hồn của cơ thể đó, một ý thức tôn giáo sâu xa, nó giải thích tất cả Các Thần, những người tổ chức một vũ trụ có trật tự, đã sáng tạo ra tất
Trang 11cả thứ hạng sinh linh theo hình ảnh của nhau Gìn giữ Truyền thống, tuân theo phong tục, là bảo tồn sự hài hòa của tự nhiên và tình bằng hữu của các Thần; xa rời những cái đó, là phá hoại trật tự ấy, đập vỡ sự hài hòa đó, hứng lấy sự trừng phạt của các thần Ðiều đó cắt nghĩa cả lý
do lẫn quyết định của các điều khoản của Luật tục; hình phạt được đưa
ra không phải để trừng trị kẻ có tội mà là một sự sửa chữa đối với xã hội và nhất là đối với các Thần để, bằng quyền lực của các Thần hơn là bằng món phạt hay món bồi hoàn, lập lại Trật tự của thế giới do các Thần tạo nên
Chung quanh Luật tục
Các vụ việc ở Tây Nguyên thường khá phức tạp, rối rắm, xưa cũ; chính những người bào chữa đôi khi cũng chẳng hiểu rõ ra sao, và ai đã theo dõi sự vụ biết giải quyết cho đúng với Truyền thống và thỏa mãn cả hai phía là khó khăn đến chừng nào Tình trạng đó nói chung là do ở
phương Ðông người ta không có những khái niệm về chân lý giống như
ở phương Tây, các bên đối địch sẽ trình bày sự vụ theo cách của mình, với chỗ dựa mạnh mẽ của các lời thề, nhưng điều đó có thể đưa đến
Trang 12những cách giải thích hoàn toàn ngược nhau Những người bào chữa không nhất thiết có ý định đánh lừa; tục lệ là phải nói như vậy, và tâm tính họ vốn là thế Tuy nhiên muốn có cơ sở vững chắc cho việc xét xử
để có được một phán quyết công minh - bởi họ rất nhạy cảm với cái đúng và cái sai - hay ít ra được cả hai phía chấp nhận, họ phải dùng đến hai biện pháp: những người làm chứng và các chứng cớ, những hiện tượng cận-pháp lý mà chúng ta sẽ phân tích một cách vắn tắt
Bộ Biduê nói và nhắc đi nhắc lại rằng "không có vụ việc nào mà lại
không có người làm chứng" Một lời kết tội không có bằng chứng là
không có giá trị Người làm chứng đặc biệt quan trọng trong các điều
về trộm cắp, chửi rủa ("ai bắt đầu trước?"), về các quan hệ nam nữ
Người làm chứng có thể thuộc đủ loại: đấy là một người, là họ hàng
hay láng giềng, đã thấy, nghe hay "được nghe nói lại" Có khi những
người làm chứng như vậy, rất đông và hăng, kẻ thì đứng về phía bên này, người lại đứng về phía bên kia Ðôi cả một làng kéo đến làm
chứng cho một người làng mình Ðứng trước khó khăn đó, các cụ Già làng-xử kiện, vốn biết cách nhận ra tính trung thực trong các lời chứng như thế nào, bèn vận dụng đến các phương cách khác
Các vật chứng, dấu vết hay bằng cứ, cũng có thể dùng làm chứng Kẻ
Trang 13trộm có thể để lại dấu vết trên đường đi của y; người ta cố gắng tìm cho được một dấu vết đó; nếu kẻ trộm bị bắt quả tang, người ta cố giữ lấy
cái khăn quấn đầu của y: đấy sẽ là tang vật cho người xử kiện: "Nó đã
lấy cái khăn của mày, vậy tức là nó đã thấy mày phạm tội." (nếu không
thì nó đã không làm được thế)
Trong số các thứ có giá trị vật chứng, cái kha có một vị trí đặc biệt, nó
có hai hình thức: cây gậy-bằng chứng và chiếc thước khắc-bảo đảm mà chúng tôi đã nói đến Cây gậy-bằng chứng đến nay vẫn còn được dùng rất phổ biến; chẳng hạn một người đánh cá đã trổ một cái lỗ ở sông để bắt cá; để cho những người khác biết rõ quyền của anh ta trên vùng nước đó, anh ta cắm một cây cọc bên trên có một thanh ngang ven chỗ
nước ấy, cái kha ấy có nghĩa là: "nơi đánh cá riêng Kẻ nào đến lấy cá
ở đây phải đền một con trâu, sừng phải dài bằng thanh ngang trên chiếc cọc này" Nếu trong một vụ xử về chuyện này, người sở hữu có
thể đưa ra được cái kha của mình thì sẽ tránh được việc tranh chấp
Bằng chứng đó là bảo đảm phòng ngừa; nó biểu hiện, bảo đảm và bảo
vệ quyền của anh ta
Cái kha, thực hiện theo hình thức chiếc thước có khắc, ngược lại là một
bảo đảm về sau cho một quyết định, một thỏa ước, một vụ xét xử Nó
Trang 14tránh cho người ta trở lại một vụ việc đã xử xong rồi; hay, ít ra, lưu giữ dấu vết của việc xét xử đã qua, nó cho phép một sự hiệu chỉnh nhanh chóng Ðấy là người làm chứng trong tương lai Ngày nay nó có phần
bị bỏ xó, vì sau một vụ xét xử, người ta thích giữ một bản án viết đúng cách hơn Nhưng nó vẫn còn dấu vết trong tục lệ sau: sau khi đã kết thúc một vụ mua bán đất, nhất là một đám ruộng, người ta đào một cái
lỗ ở góc ruộng, dưới đáy đặt một chiếc bát, là dấu hiệu sở hữu, được đập vở thành số mảnh bằng số vật đem đổi (trâu, chăn, xuổng, cuốc,
dao ); một cục đá to, cũng gọi là kha, được đặt trên chiếc bát-bằng
chứng ấy; khi có tranh chấp, người ta dở cục đá ấy ra và đếm lại các mảnh bên dưới
Chỉ riêng đất thôi, cũng có thể dùng làm bằng chứng Một người nhặt một vật nào đó; người ta buộc tội anh ăn cắp vật ấy; anh ta lấy một ít đất ở chỗ anh đã tìm thấy vật và giữ nó trong bàn tay trong khi làm
phép thử; chỗ đất ấy sẽ nói lên sự thật Người ta nói đến u cöng,
"đất-bằng chứng"; và cũng nói: u ya, "đất kết tội" Những người làm chứng
không phải bao giờ cũng đủ để tìm ra sự thật, là điều kiện cho việc xét
xử công bằng; lúc này cần một biện pháp căn bản, có tính chất loại trừ Ðấy là việc thử, do người xét xử đề nghị và được hai phía ưng thuận, là
Trang 15sự phán xử của Thần linh Cãi nhau chán, mỗi bên đều bám chặt quan điểm của mình, đều nổi giận và chấp nhận một giải pháp hung bạo để cho dứt điểm tất Bên dưới vẻ bề ngoài của một cuộc tỉ thí sức mạnh, việc thử căn bản là một hành vi tôn giáo Nó là một cái cớ để viện đến Thần linh, trao quyền quyết định cho Thần linh, được hiển lộ qua việc thử
Cuộc thử bắt đầu bằng lời khấn các Thần, một ché rượu được dâng mời
và uống để tôn vinh các Thần; đôi khi còn có hiến sinh một con gà hay một con vịt cho Thần Nước hay Thần Lửa, nhằm xin các lực lượng thần linh soi tỏ công lý cho kẻ vô tội và làm cho bẽ mặt kẻ có tội Thử
bằng lửa - tam görchah - thực hiện bằng cách cầm những cục than hồng
trong bàn tay và nắm lại cho nó tắt đi; kẻ nào làm vậy mà không bị bỏng là người thằng trong vụ kiện; nếu cả hai không ai thắng, thì mỗi
người mời một ché rượu hòa giải Khi người Tây Nguyên nói "đặt tay
vào lửa" họ biết rõ là họ nói gì Cũng có tục lấy một đồ vật ra từ dưới
đáy một nồi nước đang sôi - sou daa - Người Tây Nguyên bảo rằng
các Thần không bao giờ để cho người chính trực bị bỏng
Người Chàm ngày xưa biết cách thử sau: " Khi có tranh chấp, họ ném một chiếc nhẫn vàng và những quả trứng gà vào nồi nước sôi; phải nhặt
Trang 16chúng ra Hoặc họ nung đỏ một sợi dây xích và buộc người ta phải cầm trên tay đi mười bước Bàn tay kẻ phạm tội sẽ bị lột hết da; kẻ vô tội không hề bị thương Hoặc người ta bắt hai người xuống nước Kẻ vô tội không bị chìm; kẻ có tội sẽ chìm nghỉm."
Thử nước, tam nyhöp, ít tàn bạo hơn, và người ta dễ dùng đến Người
ta lấy mỗi bên một người; cho họ lặn xuống nước; kẻ ngóc đầu lên trước sẽ thua kiện Trước đó đã có cúng để lôi kéo sự chú ý của các Thần Sau khi đã có phán quyết của thần linh như vậy thì không thể khiếu nại gì nữa
Phụ lục
Dam Kang xử kiện
Sáng nay, gần như cả làng B đều kéo đến tòa án Trước tiên là cái anh chàng Det đầy cáu ghét ấy, kéo theo tất cả người thân của anh ta, đi kêu kiện; và gia đình Tây Nguyên thì chẳng có giới hạn nào cả, nhất là khi
Trang 17người ta ghép cả bạn bè vào đấy Dam Kang, vị quan tòa bản địa, bị cả cái đám người ồn ào la hét nỗi bất bình chung của họ vây lấy Det
chẳng phải là giàu, nhưng anh ta có vài món quà nhỏ để mong được người xử kiện ưu ái: "Cầm lấy, đây là mấy quả trứng ngỗng; mới đẻ ra đêm qua đấy; đây là một bát thuốc lá thật ngon " Vị quan tòa đáng kính làm ra vẻ không nhìn thấy gì cả Một bài nói dài của Det và nhiều người, cùng nói một lúc, trình bày vụ việc lẽ ra chỉ cần có mấy lời: đêm qua người ta đã ăn trộm cá trong chiếc lờ của Det đặt Det ta buộc cho Dot chính là thủ phạm, vì anh ta đã nhặt được ở gần chỗ ấy cái xà gạc của Dot mà anh ta đặt trên chiếc chiếu bên cạnh vị quan tòa Ông này
đã hiểu, và cho đi tìm Dot
Dot đến, kéo theo cùng anh nửa phần làng còn lại Chẳng còn ai nghe được ai nữa Kẻ này muốn lấp miệng kẻ kia, vì ai cũng biết kẻ nào nói nhiều thì sẽ thắng Có một cụ già, hẳn là đã uống rượu đêm qua, tiếng nói khống chế được tình hình, dù giọng cụ hết sức trầm Nhân lúc ồn ào, Dot nói mấy câu với vị quan tòa Anh ta giàu và hẳn anh ta phải hứa với ông vật gì đó đẹp lắm, có thể là một cái chiêng cổ chẳng? Quả thật anh ta có nguy cơ phải đền một con trâu
Cuộc cãi vã hỗn loạn kéo dài suốt buổi sáng; một số mẫu câu nói nghe