Niên hiệu Gia Khánh, năm Mậu Thìn 1808, đỗ Hương khôi đầu bảng thi Hương; năm sau đến kinh ứng thí không đỗ, bèn hồi hương mở lớp dạy học, đồng thời nghiên cứu y học.. Ban ngày ông dạy h
Trang 1LÂM BỘI CẦM (1772 – 1839)
Lâm Bội Cầm, tự Vân Hòa, hiệu Hy
Đồng, ngươi đời Thanh, Đơn Dương
(nay là Giang Tô, Đơn Dương) Ông
là kẻ sĩ, sính văn chương thi phú
Niên hiệu Gia Khánh,
năm Mậu Thìn (1808), đỗ Hương
khôi (đầu bảng thi Hương); năm sau
đến kinh ứng thí không đỗ, bèn hồi
hương mở lớp dạy học, đồng thời
nghiên cứu y học Ban ngày ông dạy học, tối lại chong đèn nghiên cứu sách y, trải mấy mươi năm không biết mệt Các sách ‘Tố Vấn’, ‘Linh Khư', ‘Nạn kinh’, ‘Thương hàn’, và sách y của chư gia, không sách nào không tinh thông Tuy ông không coi nghề thầy thuốc là nghề chính, nhưng trị khỏi rất nhiều người, tích lũy được kinh nghiệm lâm sàng phong phú Tuổi già, ông yêu cầu người bệnh trả lại các đơn thuốc; ông chọn các đơn trọng yếu chép làm y án, biên thành sách ‘Loại
Chứng Trị Tài’ ‘Loại Chứng Trị Tài’ viết xong vào năm thứ 19, Niên hiệu Đạo Quang (1839), trọn bộ gồm 8 quyển, phân môn biệt loại,
luận thuật các loại chứng hậu Trong mỗi loại, trước 'hết là luận trị, kế
là mạch hậu, sau đó là phụ phương, rết hết là phụ liệt nghiệm án lâm sàng của mình Sách nhấn mạnh: trị bệnh trước phải biết chứng và biện chứng , lấy ‘Nội kinh’ làm gốc, chiếu theo kinh lập luận, lại tham khảo
Trang 2tinh luận của y gia các đời, chọn tài liệu phải thận trọng Thể lệ của sách theo ‘Thẩm Thị Tôn Sinh Thư' Đến ngày nay, sách vẫn có giá
trị nghiên cứu cao Con ông là Lâm Chi Bản, tự Quân Thạch, nối được nghiệp y của cha Để không phụ tấm lòng ‘tế thế’ của cha, Quân Thạch không nỡ giữ sách làm của gia truyền, cho nên vào năm đầu niên hiệu Hàm Phong (1851), đem ‘Loại Chứng Trì Tài’ khắc bản ấn hành
Trang 3LÂU ANH (1332 – 1400)
Lâu Anh, tự Kim Thiện, một tên
nữa là Công Sảng, người đời Minh,
ở Tiêu Sơn (nay là Chiết Giang, Tiêu
Sơn) ông là một y gia thời Minh sơ
Ông xuất thân nhà trí thức, bốn tuổi
đã bắt đầu học chữ, bảy tuổi đọc
‘Nội kinh’ Năm 13 tuổi, mẹ bệnh,
ông hết lòng nuôi bệnh, nếm trước
thang thuốc trước khi cho mẹ uống,
lòng hiếu thảo vang tiếng trong thôn
xóm Ông là bạn của Đái Tư Cung Trong khi mẹ ông mắc bệnh, Tư Cung vâng lệnh cha ba lần đến Tiêu Sơn chữa trị bệnh giảm dần, Lâu Anh cảm kích mười phần Ông thường thường thỉnh giáo với họ Đái về
y thuật Tư Cung khen ông ‘siêng năng hiếu học, sau ắt nên danh’ Tư Cung là đệ tử giỏi của Chu Đan Khê Lâu Anh cũng rất sùng bái Chu Đan Khê, tự cho là ‘người học lõm thầy Đan Khê’ Chu Đan Khê qua đời, Lâu Anh từng đến Nghĩa ó viếng điếu Tuổi trung niên, Lâu Anh nghiên cứu sâu các sách cổ điển ‘Tố Vấn’, ‘Nạn kinh’, y thuật càng thâm tinh thông Nhà Minh, niên hiệu Hồng Vũ năm thứ 10 (1877), ông vâng chiếu vào kinh trị bệnh cho Thái tổ Chu Nguyên Chương, được vua khen ngợi, phong chức Thái y Ông lấy cớ
tuổi cao, có bệnh, cố từ về quê nhà Tuổi già, Ông tập trung sách ‘Nội kinh’, các sách thuốc đời sau sách này, kết hợp với phần tâm đắc khi
Trang 4nghiên cứu y học và kinh nghiệm lâm sàng của mình biên soạn một sách ‘Y Học Cương Mục’
‘Y Học Cương Mục’ là một bộ sách thuốc gồm 40 quyển có tính cách tổng hợp, tư liệu phong phú, cương mục rõ ràng, tuyển luận các
phương thuốc tương đối có giá trị cao, được y gia đời sau xem trọng
Trang 5LÊ MẠNH DIỆM
Không rõ quê quán Soạn dịch bộ Tuệ Tĩnh Lãn Ông, gồm 2 quyển: Tuệ Tĩnh Lãn Ông Thuốc Nam Chữa Bệnh (Hà Nội 1940) và Tuệ Tĩnh Lãn Ông Dược Tính Thuốc Nam (Hà Nội 1939)
LÊ NGỌC VŨ
Không rõ quê quán Soạn sách Cấp Cứu Kỳ Phương (Hà Nội 1939), Hải Thượng Lãn Ông Nghề Làm Thuốc Việt Nam (Hà Nội 1944)