Nói chung, việc điều tra mức tiêu thụ lương thực thực phẩm đã được các tác giả thống nhất là nhằm các mục đích sau: - Nhận biết được các loại lương thực thực phẩm đang được sử dụng và xá
Trang 1§iỊu tra khÈu phÇn
§iỊu tra khÈu phÇn
Mơc tiªu
Mơc tiªu
Sau khi học xong bài này, sinh viên cĩ khả năng:
1 Trình bày được các phương pháp cơ bản của điều tra khẩu phần: ứng dụng, ưu điểm và nhược điểm
2 Cĩ khả năng áp dụng điều tra khẩu phần bằng phương pháp nhớ lại 24 giờ qua
và phương pháp hỏi ghi tần xuất tiêu thụ lương thực, thực phẩm
Néi dung
Néi dung
Các kết quả về tiêu thụ lương thực thực phẩm, giá trị dinh dưỡng của khẩu phần được sử dụng tùy thuộc vào các đối tượng và mục đích sử dụng khác nhau Chính phủ, các nhà tài trợ cần các thông tin số liệu để đưa ra các quyết định xây dựng kế hoạch và chính sách Chính quyền các cấp, các tổ chức phi chính phủ và các nhà chức trách của cộng đồng lại cần thông tin số liệu để xác định nhóm nguy cơ và các can thiệp thích hợp Nói chung, việc điều tra mức tiêu thụ lương thực thực phẩm đã được các tác giả thống nhất là nhằm các mục đích sau:
- Nhận biết được các loại lương thực thực phẩm đang được sử dụng và xác định số lượng lương thực thực phẩm tiêu thụ
- Xác định giá trị dinh dưỡng, tính cân đối của khẩu phần và mối liên quan với tình trạng kinh tế, văn hoá và xã hội
- Xem xét mối liên quan giữa chất dinh dưỡng ăn vào với sức khỏe và bệnh tật Sự khác nhau về nhu cầu số liệu sẽ yêu cầu các phương pháp thu thập số liệu khác nhau Có nhiều phương pháp để điều tra tiêu thụ lương thực thực phẩm Việc lựa chọn phương pháp thích hợp nào là tuỳ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu và các điều kiện để thực hiện nghiên cứu
1 Ph−¬ng ph¸p ®iỊu tra träng l−ỵng l−¬ng thùc thùc phÈm 1.1 Phương pháp điều tra tổng quát về tiêu thụ thực phẩm
1.1 Phương pháp điều tra tổng quát về tiêu thụ thực phẩm
Việc theo dõi sự cân bằng giữa khả năng đáp ứng và nhu cầu về tiêu thụ lương thực thực phẩm là công cụ chính để tính toán an ninh lương thực thực phẩm cho mỗi quốc gia Để đánh giá được nhu cầu và mức tiêu thụ lương thực thực phẩm cho một người trong một khoảng thời gian (có thể là một năm hay một ngày) cần căn cứ vào:
- Lượng lương thực thực phẩm có thể có từ các nguồn cung cấp: dự trữ, tồn, thực phẩm sản xuất ra, thực phẩm nhập khẩu;
Trang 2- Lượng lương thực thực phẩm dùng cho mục đích khác không phải cho ăn uống như: chăn nuôi, làm giống, công nghiệp nội địa, xuất khẩu;
- Dân số và cơ cấu dân số;
- Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho các loại đối tượng
Phương pháp này có thể sử dụng để theo dõi trên một mẫu lớn trong thời gian dài Nếu theo dõi tiến hành vào những thời điểm khác nhau trong năm có thể cho biết dao động theo mùa của tiêu thụ thực phẩm Tuy nhiên, phương pháp này không thể hiện được sự khác nhau ở những phạm vi chi tiết hơn, ví dụ như theo vùng, theo các quần thể dân cư khác nhau trong xã hội; do đó không cho thấy số người bị thiếu và thiếu ở đâu, cần loại giúp đỡ gì, không cho biết nguy cơ ban đầu của từng vùng, không phản ánh được khả năng tiếp cận và thường ước tính thấp các thực phẩm không có giá trị thương mại Để có được các số liệu thường xuyên đáng tin cậy, đòi hỏi bộ máy thống kê có chất lượng cao, các cán bộ cộng tác có trình độ chuyên môn
1.2 Phương pháp xác định lương thực thực phẩm theo trọng lượng (cân đong): 1.2 Phương pháp xác định lương thực thực phẩm theo trọng lượng (cân đong):
Phương pháp này chính xác, chất lượng cao, cho phép đánh giá lượng thức ăn và chất dinh dưỡng ăn vào thường ngày của đối tượng Có thể áp dụng cho cả nhà ăn tập thể, gia đình và cá nhân Phương pháp này đòi hỏi người điều tra cân đong tất cả các loại thực phẩm và đồ uống được tiêu thụ cho một người hay một nhóm đối tượng trong một thời gian nhất định Công việc này được coi là khó khăn, tiêu tốn nhiều thời gian và kinh phí Người điều tra cân các loại thức ăn mà gia đình sử dụng một cách chính xác ở 4 giai đoạn: trước khi làm sạch, sau khi làm sạch, sau khi nấu chín và lượng thức ăn còn lại sau khi ăn để tính được lượng lương thực thực phẩm thực tế đã ăn
Thời gian điều tra dài hay ngắn tuỳ thuộc vào chu kỳ của thực đơn, vòng quay của thực phẩm, thông thường là một tuần lễ và không ít hơn 3 ngày
2 Ph−¬ng ph¸p hái ghi:
2.1 Phương pháppháppháp ghighighi ssssổ vàvàvà kikikiểmmm kêkêkê
- Ứng dụng: Phương pháp này cĩ thể tiến hành ở cả bếp ăn tập thể và gia đình, địi hỏi người nghiên cứu phối hợp chặt chẽ với người quản lí hay người nội trợ trong gia đình
- C¸ch tiÕn hµnh: Cần ghi chép được số người ăn mỗi bữa cùng với các lương thực thực phẩm đã sử dụng vào mục đích ăn uống trong ngày để tính được lượng lương thực thực phẩm tiêu thụ cho một người/ngày
Trang 3ẹoỏi vụựi beỏp aờn taọp theồ, neỏu soồ saựch xuaỏt nhaọp haứng ngaứy khoõng ủaày ủuỷ maứ chổ coự soồ nhaọp xuaỏt tửứng ủụùt thỡ caàn tieỏn haứnh kieồm keõ soỏ lửụùng toàn kho ủeồ tớnh ra lửụùng lửụng thửùc thửùc phaồm ủaừ tieõu thuù Nờn lấy số liệu hàng thỏng, hàng quớ
ễÛ ủieàu kieọn gia ủỡnh, khi baột ủaàu vaứ khi keỏt thuực ủieàu tra caàn xem xeựt ủeỏn caực thửùc phaồm coứn toàn chửa sửỷ duùng hoaởc moọt soỏ thửùc phaồm sửỷ duùng cho muùc ủớch khaực nhử chaờn nuoõi, ủeồ gioỏng, baựn ủi hoaởc laứm quaứ taởng
2.2 Phương phỏp ghi chộp
Phương phỏp ghi chộp theo ngày (cũn gọi là nhật ký) yờu cầu đối tượng ghi lại cỏc đồ ăn, thức uống đó dựng trong một thời gian nhất định (thường từ
1-7 ngày) Ghi số lượng thực phẩm đó sử dụng càng chớnh xỏc càng tốt bằng cỏch cõn hay ước lượng Phương phỏp naứy đũi hỏi sự hợp tỏc cao của đối tượng và
cú sự hướng dẫn tỷ mỉ của điều tra viờn
2.3 Điều tra tần xuất tiờu thụ của LTTP
Mục đích: Phửụng phaựp ủieàu tra taàn xuaỏt tieõu thuù lửụng thửùc thửùc phaồm ủửụùc sửỷ duùng ủeồ thu thaọp caực thoõng tin veà chaỏt lửụùng khaồu phaàn, tỡm hiểu tính thường xuyên của các loại thực phẩm trong thời gian nghiên cứu, số bữa ăn, khoảng cách giữa các bữa ăn và giờ ăn Taàn xuaỏt tieõu thuù moọt thửùc phaồm naứo ủoự trửụực heỏt phaỷn aựnh sửù coự maởt cuỷa moọt chaỏt hay moọt nhoựm chaỏt dinh dửụừng tửụng ửựng coự maởt trong khaồu phaàn (sửù tieõu thuù rau laự xanh vaứ caứ roỏt vụựi taàn xuaỏt cao laứ bieồu hieọn sửù coự maởt cuỷa caroten…)
Keỏt quaỷ cuỷa phửụng phaựp naứy cho bieỏt: nhửừng thửực aờn phoồ bieỏn nhaỏt (nhieàu gia ủỡnh hoaởc nhieàu ngửụứi duứng nhaỏt), nhửừng thửực aờn coự soỏ laàn sửỷ duùng cao nhaỏt vaứ caỷ nhửừng dao ủoọng theo muứa Coự theồ lửụùng hoựa moọt phaàn khaồu phaàn cuỷa ủoỏi tửụùng qua ủoự coự theồ dửù baựo thieỏu nhửừng chaỏt dinh dửụừng quan troùng nhử protid, vitamin A, saột…
ệu ủieồm: nhanh, ớt toỏn keựm veà thụứi gian, kinh phớ, nhaõn lửùc vaứ ớt gaõy phieàn toaựi cho ủoỏi tửụùng Thửụứng ủửụùc sửỷ duùng ủeồ nghieõn cửựu moỏi lieõn quan giửừa taọp quaựn aờn uoỏng hoaởc khaỷ naờng tieõu thuù nhửừng loaùi thửùc phaồm ủaởc hieọu naứo ủoự theo ủieàu kieọn kinh teỏ cuỷa hoọ gia ủỡnh hoaởc coọng ủoàng vụựi nhửừng beọnh do thieỏu hoaởc thửứa moọt chaỏt hay nhoựm chaỏt dinh dửụừng coự lieõn quan
Haùn cheỏ: thửụứng chổ cho bieỏt taàn xuaỏt sửỷ duùng, mang yự nghúa ủũnh tớnh hụn laứ ủũnh lửụùng
Người ta cũn cú thể điều tra tần xuất bỏn định lượng (semiquantative food frequency) Với cỏch này, mức tiờu thụ thực phẩm và chất dinh dưỡng cần quan tõm
Trang 4được ước lượng dựa vào kích cỡ qui ước (nhỏ, trung bình, lớn) và tần xuất xuất hiện của thực phẩm
2.3 Phương pháp hỏi tiền sử dinh dưỡng
Ph−¬ng ph¸p nµy thường ®−ỵc áp dụng khi nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng trẻ em hay ở các tình trạng bệnh lý Có thể sắp xếp các câu hỏi về tiền sử dinh dưỡng theo 3 nội dung là tần xuất lương thực thực phẩm, thức ăn thích và không thích, tường thuật cách ăn 3 ngày gần nhất Ở trẻ em, phương pháp này thu thập các tài liệu về nuôi dưỡng trẻ em qua thời gian dài để đối chiếu với tài liệu phát triển về thể chất Phần chính của phương pháp này hỏi về các bữa ăn chính, các lương thực thực phẩm quan trọng nhất của từng thời kỳ Một số câu hỏi chéo được sử dụng để kiểm tra tính chân thực của câu trả lời Theo kinh nghiệm thì nên để người mẹ tự kể lại một cách thoải mái cách nuơi con của mình và người nghiên
cứu chỉ chi tiết hố câu hỏi khi cần thiết
2.4 Ph−¬ng ph¸p nhí l¹i 24 gi
2.4 Ph−¬ng ph¸p nhí l¹i 24 giê quă quă qua
Trong phương pháp này, đối tượng kể lại tỷ mỉ những gì đã ăn ngày hôm trước hoặc 24 giờ trước khi phỏng vấn Người phỏng vấn cần được huấn luyện kỹ để có thể thu được các thông tin chính xác về số lượng các thực phẩm (kể cả đồ uống) được đối tượng đã tiêu thụ Người phỏng vấn cần sử dụng những dụng cụ hỗ trợ (mÉu dơng cơ ®o l−êng, album ảnh món ăn, cân thực phẩm … ) để giúp đối tượng có thể dễ nhớ, dễ mô tả các kích cỡ thực phẩm đã được tiêu thụ và giúp cho qui đổi đơn vị đo lường của hộ gia đình ra gam
Ưu điểm
- Là một phương pháp rất thông dụng, có giá trị khi áp dụng cho số đông đối tượng
- Đơn giản, nhẹ nhàng đối với đối tượng nghiên cứu nên thường có sự hợp tác rất cao
- Nhanh, chi phí ít và có thể áp dụng rộng rãi ngay cả với những đối tượng trình độ văn hóa thấp hoặc mù chữ
Nhược điểm
- Phụ thuộc nhiều vào trí nhớ, thái độ cộng tác của đối tượng và cách gợi vấn đề của điều tra viên Hiện tượng trung bình hóa khẩu phần có thể xảy ra
- Không thể áp dụng cho người có trí nhớ kém
- Khó ước tính chính xác trọng lượng một số thực phẩm
Cách thu thập số liệu:
Trang 5- ẹoỏi vụựi ủieàu tra vieõn (ẹTV): trửụực khi tieỏn haứnh thu thaọp soỏ lieọu, caàn ủửụùc taọp huaỏn kyừ veà muùc ủớch, yự nghúa, taàm quan troùng cuỷa cuoọc ủieàu tra, ủaởc bieọt veà kyừ thuaọt vaứ kyừ naờng ủieàu tra Sau ủoự phaỷi ủửụùc ủieàu tra thửỷ (pretest) roài mụựi tham gia ủieàu tra chớnh thửực
- ẹoỏi tửụùng ủửụùc hoỷi:
+ Neỏu laứ ngửụứi lụựn: Hoỷi trửùc tieỏp ủoỏi tửụùng
+ Neỏu laứ treỷ em: Hoỷi ngửụứi trửùc tieỏp cho treỷ aờn trong thụứi gian caàn nghieõn cửựu
- Thụứi gian: coự 2 caựch aỏn ủũnh thụứi gian caàn thu thaọp thoõng tin:
+ Caựch 1: Hoỷi ghi taỏt caỷ caực thửùc phaồm (keồ caỷ ủoà uoỏng) ủửụùc ủoỏi tửụùng tieõu thuù trong 24 giụứ keồ tửứ luực ẹTV baột ủaàu phoỷng vaỏn trụỷ veà trửụực Vớ duù: Cuoọc phoỷng vaỏn baột ủaàu vaứo luực 10 giụứ ngaứy 20/9/2000 thỡ giai ủoaùn 24 giụứ ủửụùc tớnh tửứ 10 giụứ ngaứy 19/9/2000
+ Caựch 2: Hoỷi ghi taỏt caỷ caực thửùc phaồm (keồ caỷ ủoà uoỏng) ủửụùc ủoỏi tửụùng tieõu thuù trong 1 ngaứy hoõm trửụực (keồ tửứ luực nguỷ daọy buoồi saựng hoõm qua cho ủeỏn trửụực luực thửực daọy cuỷa saựng hoõm sau)
Chuự yự: trong moói cuoọc ủieàu tra caàn thoỏng nhaỏt caựch aỏn ủũnh thụứi gian trửụực khi tieỏn haứnh vaứ khoõng ủieàu tra nhửừng ngaứy coự sửù kieọn ủaởc bieọt nhử gioó, teỏt, lieõn hoan…
- Caực thoõng tin caàn thu thaọp:
+ Moọt soỏ thoõng tin veà ủoỏi tửụùng: hoù vaứ teõn, tuoồi, giụựi, tỡnh traùng sinh lyự
+ Soỏ bửừa aờn/ngaứy, chuự yự phaõn bieọt bửừa chớnh, bửừa phuù vaứ sửù phaõn boỏ bửừa aờn + Cụ caỏu bửừa aờn bao goàm: thu thaọp soỏ lửụùng caực lửụng thửùc thửùc phaồm (keồ caỷ ủoà uoỏng) ủửụùc ủoỏi tửụùng tieõu thuù trong khoaỷng thụứi gian 24 giụứ qua vaứ coự ghi chuự roừ laứ aờn taùi hoọ gia ủỡnh hay ngoaứi hoọ gia ủỡnh
- Caực duùng cuù hoó trụù: moói ẹTV caàn coự duùng cuù hoó trụù nhử caực mẫu thực phẩm, dụng cụ đo lường bằng nhựa, kim loại hoặc tranh màu, ảnh chụp để đối tượng
có thể dễ nhớ, dễ mô tả các kích cỡ thực phẩm đã sử dụng Ngoài ra, nên có thêm 1 chieỏc caõn nhoỷ giuựp cho qui ủoồi caực ủụn vũ ủo lửụứng cuỷa ủoỏi tửụùng ra ủụn vũ ủo lửụứng chung laứ gam
- Kyừ thuaọt:
+ Trửụực khi ủi vaứo phoỷng vaỏn, ẹTV phaỷi giaỷi thớch roừ muùc ủớch, yự nghúa vaứ taàm quan troùng cuỷa cuoọc ủieàu tra vụựi ủoỏi tửụùng ủửụùc ủieàu tra ủeồ hoù hieồu vaứ cuứng coọng taực nhaốm ủaỷm baỷo tớnh chaõn thửùc cuỷa soỏ lieọu
Trang 6+ Nếu áp dụng phương pháp này trong điều tra khẩu phần ăn của hộ gia đình thì ĐTV sẽ phỏng vấn người nội trợ của hộ gia đình về những LTTP mà hộ gia đình đã sử dụng ngày hôm qua tại hộ gia đình ĐTV cũng cần hỏi từng thành viên trong hộ gia đình về những thực phẩm mà họ đã sử dụng ngày hôm qua ngoài hộ gia đình và ghi chú rõ ràng để có thể tách riêng ra khi sử lý số liệu
Một ngày ăn của hộ gia đình cần được chia làm 6 khoảng thời gian khác nhau để giúp gợi lại trí nhớ của đối tượng, tránh bỏ sót các bữa ăn thêm nhất là đối với các cháu nhỏ:
1 Bữa sáng
2 Bữa giữa bữa sáng và bữa trưa
3 Bữa trưa
4 Bữa giữa bữa trưa và bữa tối
5 Bữa tối
6 Bữa giữa bữa tối cho đến trước khi thức dậy của ngày hôm sau
Qui định phân chia khoảng thời gian thành 6 bữa như vậy được tôn trọng tối đa để tránh bỏ sót (hỏi riêng từng bữa) Nên bắt đầu thu thập thông tin từ bữa
1 rồi hỏi tiếp tục diễn biến theo thời gian cho đến bữa cuối cùng của ngày điều tra Cần chấm cơm từng bữa trong ngày điều tra một cách cẩn thận, chính xác cho đối tượng nghiên cứu hoặc cho từng người trong hộ gia đình (kể cả khách mời): nếu có ăn thì đánh dấu “x”, nếu vắng mặt thì viết số “0” (tương ứng với tuổi, giới, tình trạng sinh lý đặc biệt của từng người) và ghi rõ là ăn tại hộ gia đình hay ăn ở ngoài
Tên thực phẩm mà đối tượng đã tiêu thụ cần được mô tả thật cụ thể, chính xác (ví dụ: rau muống, cá chép, thịt lợn nửa nạc nửa mỡ…) Đối với các thức ăn chín, chế biến sẵn, sản phẩm truyền thống của địa phương được nhiều đối tượng sử dụng mà không có trong “Bảng thành phần hóa học thức ăn Việt Nam” cần được qui về thức ăn sống riêng biệt của từng loại thực phẩm dùng để chế biến nên thức ăn đó
Số lượng thực phẩm đã tiêu thụ cần được đánh giá một cách chính xác bằng cách sử dụng các dụng cụ hỗ trợ hỏi ghi thích hợp kết hợp với quan sát, cân kiểm tra đối với các dụng cụ đo lường địa phương (bơ, bát, thìa…) để qui đổi ra gam Các lương thực thực phẩm sẵn có của hộ gia đình (trước hết là gạo) nên đề nghị hộ gia đình biểu diễn đong đo lại để cân trực tiếp Ngoài ra, thu thập giá tiền
Trang 7rất cần thiết (mớ rau, bìa đậu, cái bánh rán… giá bao nhiêu tiền?) Trên cơ sở đó, cán bộ phụ trách điều tra sẽ tiến hành quan sát giá cả tại chợ của địa phương, mua và cân kiểm tra để qui đổi ra đơn vị đo lường chung (gam)
Trong quá trình phỏng vấn những câu hỏi chi tiết luôn được đặt ra để kiểm tra độ chính xác của thông tin Mục đích cuối cùng là để ước lượng chính xác nhất tên và trọng lượng thực phẩm đã được đối tượng sử dụng trong thời gian nghiên cứu Ví dụ: đối với cơm: cơm gì? (cơm nếp hay cơm tẻ, cơm rang hay cơm nấu?), ăn bao nhiêu bát?, loại bát gì? (bát Hải Dương, bát Trung Quốc, bát to ), đơm (xới) như thế nào (nửa bát, lưng bát, miệng bát hay đầy bát) Trong một số trường hợp cần thiết, việc biểu diễn lại cách và mức độ đơm (xới) như đối tượng mô tả cũng cần được thực hiện
Quá trình phỏng vấn nên tiến hành tại nhà đối tượng với một không khí thân mật, cởi mở, thái độ thông cảm, ân cần để làm cho đối tượng cảm thấy yên tâm, gần gũi giúp họ trả lời một cách thoải mái, chính xác, đầy đủ các câu hỏi về sự ăn uống của bản thân, gia đình đặc biệt là của trẻ em Hạn chế tối đa các câu hỏi gợi ý hoặc điều chỉnh câu trả lời của đối tượng
Các thông tin cần thiết trên phiếu điều tra đều được kiểm tra và hoàn chỉnh ngay tại thực địa
2.5 Ph−¬ng ph¸p nhí l¹i 24 giê qua nhiỊu lÇn
2.5 Ph−¬ng ph¸p nhí l¹i 24 giê qua nhiỊu lÇn
Hỏi ghi khẩu phần 24 giờ có thể được tiến hành trong nhiều ngày liên tục (3-7 ngày) hoặc được nhắc lại vào các mùa khác nhau trong năm để đánh giá khẩu phần trung bình của đối tượng hoặc theo dõi diễn biến ăn uống theo mùa
Số ngày điều tra đòi hỏi để đánh giá khẩu phần trung bình của đối tượng phụ thuộc vào mức độ chính xác cần đạt được, chất dinh dưỡng cần quan tâm nghiên cứu, chu kỳ thực phẩm và loại quần thể nghiên cứu Một số tác giả khuyên rằng có thể điều tra trong thời gian 3 ngày liên tục
Nếu phương pháp chọn mẫu đảm bảo tính ngẫu nhiên và đại diện, khoảng thời gian nghiên cứu có chú ý tới ảnh hưởng của các ngày mà bữa ăn có thể được cải thiện hơn ngày thường (ngày nghỉ, chủ nhật ), ảnh hưởng của mùa vụ thì kết quả có thể cho ta đánh giá được mức độ tiêu thụ lương thực thực phẩm khá chính xác
Kỹ thuật tiến hành tương tự phương pháp hỏi ghi 24 giờ Các chuyên gia đã khuyến cáo rằng 4 lần hỏi ghi 24 giờ trên cùng một đối tượng trong vòng một năm nên được dùng để đánh giá khẩu phần ăn thường ngày của đối tượng
Trang 83 ĐIỀU TRA TẬP QUÁN ĂN UỐNG
Đó là các phương pháp nhằm thu thập các thông tin như các quan niệm, niềm tin sở thích đối với thức ăn cũng như cách chế biến, phân bố các thức ăn trong ngày, cách ăn uống trong các dịp lễ hội Tìm hiểu tập quán ăn uống và xác định nguyên nhân của chúng là cần thiết, vừa để tiến hành giáo dục dinh dưỡng có hiệu quả, vừa
đề ra phương hướng sản xuất thích hợp Sự hình thành và phát triển tập quán ăn uống chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí, kinh tế, xã hội, tôn giáo, lịch sử và địa
lí
Để đạt được các yêu cầu trên, người ta thường sử dụng các phương pháp định tính, bao gồm:
3.1 Phương pháp phỏng vấn và trò chuyện
Phương pháp dùng để tìm hiểu những ý nghĩ, quan niệm và thái độ của đối tượng Có thể phỏng vấn trực tiếp người mẹ hoặc những người khác trong gia đình hay hàng xóm
Nguyên tắc làm việc:
- Tôn trọng đối tượng phỏng vấn, không bình luận về họ và con họ với những người khác
- Không nên tỏ thái độ đồng tình, phản đối hay ngạc nhiên trước câu trả lời của đối tượng
- Luôn tỏ ra quan tâm chăm chú trong khi trò chuyện
- Thái độ chân tình, cởi mở và không áp đặt
3.2 Phương pháp quan sát
Phương pháp này dùng để mô tả hành vi của đối tượng (có thể là cá thể hay cộng đồng) Khi quan sát nên chú ý những điểm sau:
- Cách chuẩn bị bữa ăn của trẻ như thế nào ? Cách chế biến ? Thực phẩm dùng để nấu bữa ăn ? Có đảm bảo vệ sinh không ?
- Thái độ của người mẹ khi trẻ bị ốm, bị suy dinh dưỡng ?
- Ai là người cho trẻ ăn ? Trẻ ăn được bao nhiêu ?
- Đối tượng được ưu tiên là ai ? Có sự phân biệt giữa con trai và con gái không ?
- Ai là người quyết định cách cho trẻ ăn?
- Dụng cụ chế biến thức ăn là gì ?
Khi quan sát chú ý đánh giá tình trạng dinh dưỡng của đứa trẻ qua các biểu hiện thực thể (da, bắp cơ, tóc )
3.3 Phương pháp thảo luận nhóm có trọng tâm
Thảo luận nhóm được tổ chức cho khoảng 8 - 12 người Có một người dẫn chuyện, đưa ra chủ đề cụ thể liên quan đến cuộc điều tra và một người quan sát, ghi
Trang 9được một bức tranh về hành vi dinh dưỡng của cộng đồng, giúp xây dựng các câu hỏi điều tra sát trọng tâm hơn và lí giải cho các thông tin định lượng
3.4 Tìm hiểu thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và thức ăn bổ sung
Nuôi con bằng sữa mẹ vẫn là một thói quen phổ biến ở nhiều cộng đồng Cho
ăn sam (hay ăn bổ sung) sớm trước 4 tháng tuổi làm tăng nguy cơ mắc các bệnh
nhiễm khuẩn và kém phát triển ở trẻ em, ngược lại nếu cho ăn sam quá muộn (sau 6 tháng) trẻ sẽ bị thiếu dinh dưỡng vì số lượng và chất lượng của sữa mẹ lúc này không đáp ứng đủ nhu cầu của trẻ