Phương pháp điều tra - Điều tra tổng thể: Sử dụng phương pháp phỏng vấn, kế thừa số liệu kết hợp với điều tra thực tế để tìm hiểu về loài cây trồng, tuổi, diện tích, chất lượng rừng, c
Trang 1Điều tra tập đoμn cây trồng vμ xây dựng mô hình trồng rừng Keo
lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) trên cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ
Nguyễn Thị Liệu
Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp vùng Bắc Trung Bộ
I Đặt vấn đề
Đất cát vùng Bắc Trung Bộ chiếm một diện tích rất lớn là: 334.740 ha, chiếm 12% tổng diện tích đất Lâm nghiệp của cả vùng, trong đó 36,7 % diện tích còn bỏ hoang Với diện tích lớn như vậy nhưng việc canh tác Nông Lâm nghiệp còn nhiều bất cập Một trong những bất cập lớn nhất là chưa xác định được cây trồng và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phù hợp
Tập đoàn cây Lâm nghiệp trồng trên cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ vẫn chưa được điều tra và nghiên cứu một cách toàn diện, do đó chưa có những cơ sở để chọn loài cây trồng phù hợp cho đất cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ
Một số nghiên cứu của Viện KHLN Việt Nam cho một số loài cây trồng trên vùng này gồm có: Keo lá tràm, Keo Tai tượng, Keo lưỡi liềm, Phi lao, các loài Keo chịu hạn và một số loài Bạch đàn trắng nhưng cũng chưa đi sâu Bước đầu qua đánh giá sơ bộ cho thấy Keo lưỡi liềm là loài có khả năng sinh trưởng tốt trên đất cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ
Người dân trong vùng cát nội đồng Bắc Trung Bộ đa số là nghèo, đời sống phụ thuộc vào nghề nông, canh tác nông nghiệp thu nhập thấp, trong khi đất cát nội đồng lại bỏ hoang rất nhiều,
đây là một bức xúc cần quan tâm giải quyết, do đó xác định được cơ cấu cây Lâm nghiệp phù hợp
và biện pháp kỹ thuật thích hợp cho vùng cát nội đồng Bắc Trung Bộ có một ý nghĩa rất lớn về kinh tế và xã hội: Cung cấp gỗ, củi cho người dân trong vùng, làm vành đai bảo bệ các khu canh tác nông nghiệp, nâng cao đời sống cho nhân dân trong vùng, cải tạo môi trường
Trong những năm gần đây công tác trồng rừng trên cát đã và đang được nhiều cơ quan chức năng quan tâm đầu tư Trên thực tế diện tích rừng trồng trên cát những năm gần đây đã tăng
đáng kể Tuy nhiên hiệu quả của rừng trồng thì chưa được đánh giá một cách đầy đủ
Từ thực tế đó chúng tôi thực hiện Đề tài cấp Bộ: "Điều tra tập đoàn cây trồng và xây dựng
mô hình trồng rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) trên cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ"
II phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp điều tra
- Điều tra tổng thể: Sử dụng phương pháp phỏng vấn, kế thừa số liệu kết hợp với điều tra
thực tế để tìm hiểu về loài cây trồng, tuổi, diện tích, chất lượng rừng, các mô hình điển hình hiện
có trên vùng cát nội đồng BTB
- Điều tra chi tiết: Từ số liệu điều tra tổng thể, bố trí điều tra chi tiết ở các nơi
2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm, thu thập và xử lý số liệu
Bố trí thí nghiệm: Các thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên
Thu thập số liệu: Số liệu thí nghiệm được thu thập trên các ô thí nghiệm
Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Excel trong xữ lý thống kê trong Lâm nghiệp (Theo tác
giả Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi - Trường Đại học Lâm nghiệp) và Statistical Manual for Forestry Research của tác giả K Jayaraman - Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Kerala - ấn Độ
Các thí nghiệm được bố trí như sau:
1- Năm 2000 gồm 03 loại thí nghiệm:
Địa điểm thí nghiệm tại thôn Long Quang - Triệu Trạch - Triệu Phong - Quảng Trị gồm 05
ha
* Thử nghiệm các biện pháp làm đất (10 công thức):
- CT1: Đối chứng: Không lên líp
Trang 2- CT2: Lên líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1.5m, rãnh líp 1.5m, cao 0.2m
- CT3: Lên líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1.5m, rãnh líp 1.5m, cao 0.4m
- CT4: Lên líp đôi (trồng 02 hàng) rộng 4.0m, rãnh líp 2.0m, cao 0.2m
- CT5: Lên líp đôi (trồng 02 hàng) rộng 4.0m, rãnh líp 2.0m, cao 0.4m
- CT6: Lên líp bốn (trồng 04 hàng) rộng10.0m, rãnh líp 2.0m, cao 0.2m
Phần đối chứng Keo lá tràm:
- CT7: Không lên líp:
- CT8: Lên líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1.5m, rãnh líp 1.5m, cao 0.2m
- CT9: Lên líp đôi (trồng 02 hàng) rộng 4.0m, rãnh líp 1.5m, cao 0.2m
- CT10: Lên líp bốn (trồng 04 hàng) rộng 10.0m, rãnh líp 2.0m, cao 0.2m
* Thí nghiệm mật độ trồng (04 công thức):
Bố trí các mật độ trồng khác nhau để xác định nhu cầu không gian dinh d−ỡng của cây (Mật độ tính chung cho cả líp và rãnh líp)
- CT1: Mật độ: 3 x 1m = 3.300 cây/ha
- CT2: Mật độ 3 x 1.5m = 2.200 cây/ha
- CT3: Mật độ 3 x 2m = 1.650 cây/ha
- CT4: Mật độ: 2 x 2m = 2.500 cây/ha
* Thí nghiệm bón phân (09 Công thức):
Sử dụng các loại phân thông dụng nh− Vi sinh, NPK, Lân
- CT1: Đối chứng: Không bón phân
- CT2: Bón lót NPK: 50 g/gốc
- CT3: Bón lót NPK: 75 g/gốc
- CT4: Bón lót NPK: 100 g/gốc
- CT5: Bón lót Vi sinh: 100 g/gốc
- CT6: Bón lót Vi sinh: 150 g/gốc
- CT7: Bón lót Vi sinh: 200 g/gốc
- CT8: Bón lót Lân Super: 100 g/gốc
- CT9: Bón lót Lân Super: 150 g/gốc
2- Năm 2001 gồm 03 loại thí nghiệm:
Địa điểm thí nghiệm tại Thôn Nhĩ Trung - Gio Thành - Gio Linh - Quảng Trị gồm 03ha:
* Thí nghiệm biện pháp làm đất (03 công thức):
- CT1: Đối chứng: Không lên líp
- CT2: Lên líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1,5m, rãnh líp 1,5m, cao 0,4m
- CT3: Lên líp đôi (trồng 02 hàng) rộng 4,0m, rãnh líp 2,0m, cao 0,4m
* Thí nghiệm mật độ trồng (03 công thức)
- CT1: Mật độ 2 x 2m = 2.500 cây/ha
- CT2: Mật độ 3 x 1,5m = 2.200 cây/ha
- CT3: Mật độ 3 x 2m = 1.650 cây/ha
* Thí nghiệm bón phân (05 công thức):
Bố trí thí nghiệm phân hữu cơ và bùn ao nhằm mục đích giữ ẩm qua mùa hè sau khi trồng và chống cát bay cục bộ
- CT1: Đối chứng: Không bón phân
- CT2: Bón lót vi sinh hữu cơ sông Gianh: 200 g/ gốc
- CT3: Bón lót vi sinh hữu cơ sông Gianh: 100 g/ gốc+ Bùn ao: 1kg/gốc
- CT4: Bón lót Bùn ao: 2 kg/gốc
- CT5: Bón lót phân chuồng: 2kg/gốc
Trang 3III kết quả vμ thảo luận
3.1 Điều tra tập đoàn cây trồng trên cát nội đồng vùng BTB:
3.1.1 Loài cây trồng chính:
Theo số liệu thống kê của các tỉnh thì:
1 Tỉnh Thừa Thiên Huế 3 năm 2000 - 2002 đã trồng được: 1.500 ha rừng thì Keo lưỡi liềm chiếm 900 ha, Keo lá tràm: 300 ha; Phi lao: 200 ha, và 100 ha các loài khác Đặc biệt, từ năm
2001 đến nay dự án rừng phòng hộ vùng cát Thừa Thiên Huế trồng chủ yếu Keo lưỡi liềm Như vậy, ở Thừa Thiên Huế đã có bước chuyển đổi cây trồng rất quan trọng Diện tích rừng trồng trên cát nội đồng từ trước năm 2000 hầu hết là rừng dự án PAM chủ yếu trồng Keo lá tràm hiệu quả không cao Hiện nay, hiện trường còn lại một số diện tích rải rác, cây không thành rừng, chủ yếu trồng theo bờ vùng, bờ thửa, cây sinh trưởng kém, không cho sản phẩm gỗ, chủ yếu là cây bụi
2 Tỉnh Quảng Trị từ năm 1998 đến nay đã trồng được 2.500 ha rừng vùng cát Hàng năm trồng vào khoảng 300 - 400 ha trên cát nội đồng và cát bay Riêng vùng cát nội đồng hầu hết được trồng Keo lá tràm Từ năm 1998 trở về trước có nhiều diện tích được trồng Keo lá tràm theo dự án PAM Hiện nay còn lại một số hiện trường, cây sinh trưởng kém, không thành rừng
3 Tỉnh Quảng Bình từ năm 1998 - 2002 trồng được 5.000 ha rừng trên cát trong đó 4.400
ha trồng Phi lao, 600 ha trồng Phi lao xen Keo lá tràm
Như vậy, loài cây trồng chính ở vùng cát các tỉnh Bắc Trung Bộ chủ yếu là: Keo lá tràm
(Acacia auriculiformis), Keo lưỡi liềm (A crassicarpa); Phi lao (Casuarina equisetifolia)
Ngoài ra, các loài Keo tai tượng (A magium), Bạch đàn trắng (E camaldulensis), Keo lai (A hybrid), Phi lao lai Trung Quốc và một số loài Keo chịu hạn cũng được trồng thí nghiệm hoặc
trồng phân tán trong dân, trồng trên bờ vùng bờ thửa với số lượng ít và rải rác, không thành rừng
3.1.2 Sinh trưởng một số loài cây trồng chính
- Keo lưỡi liềm có khả năng thích nghi rộng nhất, tỷ lệ sống cao, sinh trưởng được trên
điều kiện đất cát nội đồng, cây thường đơn thân, xanh tốt Những vùng cát nội đồng úng ngập cần phải lên líp cao thì mới sinh trưởng tốt Nếu không lên líp thì sinh trưởng rất kém, lá vàng Tất cả các vùng điều tra đều thấy cây có khả năng ra hoa, nhưng tỷ lệ đậu quả thì chưa có kết luận
ở 3 địa điểm thực nghiệm tại Lâm trường Nam Quảng Bình, Phú Vang - Thừa Thiên Huế
và Phong Điền - Thừa Thiên Huế có 3 hiện trường thí nghiệm trong đó có trồng các loài cây gồm: Keo lá tràm, Keo lưỡi liềm, Keo tai tượng, Bạch đàn trắng, Keo lá nhỏ (ở Phong Điền có cả Thông) Trên các hiện trường này cây trồng còn lại ít, không được tiếp tục theo dõi Tuy nhiên, có một số đặc điểm chung như sau: Keo lưỡi liềm sinh trưởng tốt hơn tất cả, cả 3 hiện trường đều còn lại một số cây Keo lưỡi liềm lớn, có cây đường kính tới 35 - 40 cm và cao khoảng 10m, các cây
đều ra hoa nhiều nhưng không biết tỷ lệ đậu quả ra sao Các loài khác sinh trưởng kém
- Keo lá tràm: sinh trưởng kém, lá vàng, hầu hết chỉ thành cây bụi, cong queo, khó có thể thành rừng Chỉ một số cây trồng phân tán hoặc trồng bờ vùng bờ thửa, thoát nước tốt mới cho hiệu quả cao
- Phi lao: ở những vùng cát nội đồng bán di động, khi lên líp cao thì trồng Phi lao cho kết quả khá tốt Riêng các vùng cát nội đồng úng ngập, Phi lao sinh trưởng rất kém Đặc biệt cây bị sâu đục thân rất nghiêm trọng (Phát hiện nhiều ở Quảng bình và Thừa Thiên Huế ở các vùng cát nội đồng bán di động có những điểm tỷ lệ sâu hại >50%)
- Keo lai: Hiện nay Keo lai chưa được trồng nhiều trên vùng cát Nhưng theo kết quả từ một rừng thực nghiệm tại Phong Điền - Thừa Thiên Huế, Keo lai 2 năm tuổi sinh trưởng tương đối khá, cành nhánh nhiều, xanh tốt Rừng trồng thực nghiệm tại Gio Linh, Keo lai được trồng làm mốc định vị trên cùng điều kiện lập điạ cho kết quả tương đương với Keo lưỡi liềm
- Keo chịu hạn (A difficilis) cũng được trồng thực nghiệm ở một số vùng cát nội đồng, thân thành cây bụi, chủ yếu là để làm đai xanh phòng hộ, cải tạo môi trường
- Keo tai tượng: Được trồng ít, chủ yếu trồng thực nghiệm, sinh trưởng kém, cành nhánh nhiều, cong queo, một số nơi thấy có ra hoa nhưng không nhiều
Trang 4- Bạch đàn trắng: Cây sinh trưởng chiều cao, nhưng đường kính bé, cây cong queo Một số rất ít cây được trồng phân tán trong dân nơi còn nhiều dinh dưỡng có thân thẳng và cho sản phẩm
gỗ
- Phi lao lai Trung Quốc: Là loài có khả năng sinh trưởng khá trong giai đoạn đầu Tuy nhiên, loài này chủ yếu mới được trồng thí nghiệm trên điều kiện lập địa tương đối tốt, đầu tư cao, chưa được nhân rộng
3.2 Trồng rừng Thí nghiệm:
3.2.1 rừng thí nghiệm trồng năm 2000:
Diện tích 5,0 ha, được đặt tại: Triệu Trạch - Triệu Phong - Quảng Trị Rừng trồng được 4,5 tuổi
1 Thí nghiệm lên líp:
Biểu 1: Kết quả TN líp tại Triệu Trạch - Triệu Phong - Quảng Trị
1 CT7 Keo lá tràm không lên líp 0,73 47,75
2 CT10 Keo lá tràm líp 4 cao 0,2 m 0,83 55,93
3 CT1 Keo lưỡi liềm không lên líp 0,96 86,76
4 CT9 Keo lá tràm líp đôi cao 0,2m 1,02 67,51
5 CT8 Keo lá tràm líp đơn cao 0,2m 1,10 66,57
6 CT6 Keo lưỡi liềm lên líp bốn cao 0,2m 1,38 88,86
7 CT4 Keo lưỡi liềm lên líp đôi cao 0,2m 1,72 94,87
8 CT2 Keo lưỡi liềm lên líp đơn cao 0,2m 1,86 101,29
9 CT3 Keo lưỡi liềm lên líp đơn cao 0,4m 1,92 111,67
10 CT5 Keo lưỡi liềm lên líp đôi cao 0,4m 2,10 102,90
Kết quả biểu 1 cho thấy khi rừng mới 01 tuổi:
Với Keo lưỡi liềm lên líp đơn và líp đôi ở các độ cao 0,2m và 0,4m đều cho kết quả tốt, tuy nhiên các kết quả líp đơn và líp đôi cao 0,4m cho kết quả tốt hơn, nhưng không thật sự sai khác với mức ý nghĩa 5%
Lên líp bốn kết quả kém hơn các công thức lên líp khác, diện tích bề mặt líp rộng, dễ bị cát bay và cát lấp nên dễ bị hiện tượng san phẳng líp và úng ngập trở lại
Phần đối chứng không lên líp kém hơn hẳn, cây sinh trưởng chậm, lá vàng
Với Keo lá tràm cả bốn công thức đều cho kết quả kém, tỷ lệ chết cao, cây sinh trưởng chậm, nhiều cành nhánh, nhiều thân
Biểu 2: Kết quả TN líp tại Triệu Trạch - Triệu Phong - Quảng Trị: 4,5 tuổi
2 CT10 Keo lá tràm líp 4 cao 0.2 m 4,23 1,49
3 CT9 Keo lá tràm líp đôi cao 0.2m 4,25 2,17
4 CT8 Keo lá tràm líp đơn cao 0.2m 4,24 2,45
5 CT1 Keo lưỡi liềm không lên líp 5,77 2,56
6 CT6 Keo lưỡi liềm lên líp bốn cao 0.2m 6,26 3,92
7 CT2 Keo lưỡi liềm lên líp đơn cao 0.2m 6.97 4,45
8 CT4 Keo lưỡi liềm lên líp đôi cao 0.2m 6,85 5,12
9 CT5 Keo lưỡi liềm lên líp đôi cao 0.4m 7,25 4,89
Trang 510 CT3 Keo lưỡi liềm len líp đơn cao 0.4m 7,72 5,01
Kết quả biểu 2 cho thấy với rừng trồng 4,5 tuổi, thí nghiệm lên líp:
Nhóm I: Các thí nghiệm có Keo lưỡi liềm bao gồm các công thức từ CT1 - CT6 ta có:
Công thức CT3 và CT5 líp đơn và đôi cao 0,4m, cho kết quả tốt hơn so với các công thức còn lại cả
về đường kính lẫn chiều cao Thật vậy, trong điều kiện đất cát bị úng ngập, khi lên líp cao 0,4m, đã đạt
được độ cao cần thiết làm cho cây thoát khỏi sự úng ngập, khi đó cây mới sinh trưởng mạnh
Các công thức còn lại, sinh trưởng về chiều cao thì sai khác hẳn so với đối chứng không lên líp, tuy nhiên sinh trưởng đường kính gốc thì không thật sự sai khác với mức ý nghĩa 5%, ở đây ta có thể lý giải là
do điều kiện lên líp chưa đủ cao, vì khi trồng ta phải trồng sâu so với mặt trên của túi bầu là 20cm (do chiều cao của túi bầu là 12cm) do đó rễ của cây đã chạm phải đáy líp, do đó chưa thoát khỏi điều kiện úng ngập, nên mặc dù cây có sinh trưởng trội hơn so với không lên líp nhưng chưa thật sự sai khác có ý nghĩa
Nhóm II: Nhóm đối chứng Keo lá tràm (từ CT7 - CT10) tất cả các công thức đều cho kết quả kém hơn hẳn so với Keo lưỡi liềm ở công thức bố trí tương đương Tức là công thức 5 (CT5) đối chứng của công thức 1, CT8 đối chứng của CT2, CT9 đối chứng của CT4, CT10 đối chứng của CT6 Như vậy, Keo lá tràm sinh trưởng kém hơn so với Keo lưỡi liềm trong mọi điều kiện Tất cả các công thức đều cho thấy cây có chiều cao bé, nhiều thân, dạng cây bụi, lá nhỏ, vàng
2 Thí nghiệm mật độ trồng
Biểu 3: Kết quả TN mật độ trồng - Triệu Phong - QTrị: 1 tuổi
Kết quả biểu 03 chưa có sự sai khác thật sự, do cây còn nhỏ, chưa có sự cạnh tranh không gian dinh dưỡng, nên chưa có sự phân hoá giữa các công thức thí nghiệm
Biểu 4: Kết quả TN mật độ trồng - Triệu Phong - QTrị: 4,5 tuổi
Kết quả biểu 4 cho thấy ở tuổi 4,5 cây đã cạnh tranh không gian dinh dưỡng mạnh nên đã có sự sai khác rõ rệt, các công thức với mật độ 3 x 1,5m (2100 cây/ha) và 3 x 2m (1.650 cây/ha) sinh trưởng trội hơn
về đường kính, còn hai công thức với mật độ dày hơn là 3 x 1m (3.300 cây/ha) và 2 x 2m (2.500 cây/ha) sinh trưởng đường kính kém hơn, tuy có xu hướng phát triển chiều cao nhưng không có sự sai khác có ý nghĩa
3 Thí nghiệm bón phân
Biểu 5: Kết quả TN phân bón tại Triệu Trạch - Triệu Phong - Quảng Trị: 1,0 tuổi
Trang 61 CT1 CT1 Không bón phân Không bón phân 1.22 79.28
Kết quả biểu cho thấy cây 1 năm tuổi với thí nghiệm bón các loại phân vô cơ cho thấy, NPK và
Vi sinh cho kết quả tốt hơn so với đối chứng và các công thức bón Lân Super, tuy nhiên giữa các hàm lượng phân khác nhau thì chưa thật sự sai khác rõ rệt Tuy hai công thức bón phân NPK 100 g/gốc và Vi sinh 200 g/gốc cho kết quả tương đối tốt hơn, nhưng so với các công thức NPK 75g/gốc và NPK 50 g/gốc thì không thật sự sai khác có ý nghĩa
Biểu 6: Kết quả TN phân bón tại Triệu Trạch - Triệu Phong - Quảng Trị: 4,5 tuổi
Kết quả biểu 6 cho thấy ảnh hưởng của phân bón lót đối với cây Keo lưỡi liềm sau 4,5 tuổi trong điều kiện thí nghiệm trên đất cát nội đồng không thật khác nhau giữa các loại phân bón, các công thức thí nghiệm chỉ sai khác so với đối chứng không bón phân, còn giữa các công thức với nhau chưa thật sự có sự sai khác ở đây, ta có thể thấy rằng, bón lót chỉ bổ sung một lượng dinh dưỡng ban đầu giúp cây sinh trưởng tốt ở giai đoạn đầu, còn sau khi cây đã sinh trưởng ổn định có khả năng tự tổng hợp Nitơ tự nhiên và hút dinh dưỡng khoáng trong đất thì ảnh hưởng của phân bón lót không lớn giữa các loại phân bón
Tuy nhiên, khi tính giá thành trồng rừng giữa các loại phân bón lại chênh lệch rất nhiều (Biểu 7):
Biểu 07: Giá đầu tư phân bón 1 ha rừng mật độ 1650 cây/ha (tính giá hiện tại)
TT Loại phân ĐVT Khối lượng Đơn giá (đ) Thành tiền (đ)
Trang 7Biểu 7 cho thấy giá đầu tư phân bón trồng rừng theo các loại khác nhau là rất khác nhau, nhưng do trồng rừng với các công thức giữa NPK với các liều lượng khác nhau so với Vi sinh 200g/gốc là không thật sự sai khác, nhưng giá đầu tư các công thức bón NPK đắt hơn rất nhiều so với công thức bón Vi sinh 200g/gốc Do vậy, nếu tính hiệu quả kinh tế thì sử dụng phân Vi sinh
200 g/gốc vẫn cho hiệu quả kinh tế cao nhất
3.2.2 Rừng thí nghiệm trồng năm 2001
Đặt tại Gio Thành - Gio Linh - Quảng Trị Rừng trồng được 3,5 tuổi đạt: D = 6,78cm, H = 4,05 m
1 Thí nghiệm bón phân:
Biểu 8: Kết quả TN phân bón tại Gio Thành - Gio Linh - Quảng Trị 3.5 tuổi
3 Bùn ao 1 kg + vi sinh hữu cơ 100 g/gốc 5,96 3,88
Kết quả biểu 8 cho thấy, với rừng trồng 3,5 tuổi, bón các loại phân hữu cơ khác nhau và phân Vi sinh Kết quả cho thấy bón phân vi sinh 200g/gốc cho kết quả trội hơn về đường kính so với tất cả các công thức còn lại, còn sinh trưởng đường kính thì phân Vi sinh 200g/gốc và phân chuồng 2kg/gốc sinh trưởng trội hơn so với các công thức còn lại mặc dù không hoàn toàn sai khác có ý nghĩa so với công thức tiếp theo là bùn ao 1 kg + Vi sinh 100g/gốc nhưng nếu xét cả
đường kính và chiều cao thì hai công thức này sinh trưởng vượt trội hơn
Như vậy, phân Vi sinh 200 g/gốc và Phân chuồng 2 kg/gốc cho kết quả trội hơn, tuy nhiên khi áp dụng trong trồng rừng thì bón phân chuồng sẽ khó áp dụng trên diện rộng do phải vận chuyển và bón phân với khối lượng lớn nên chi phí tăng
2 Thí nghiệm lên líp
Biểu 9: Kết quả TN lên líp - Gio Thành - Gio Linh – Quảng Trị 3,5 tuổi
Kết quả biểu 9 cho thấy:
Công thức đối chứng không lên líp sinh trưởng kém hơn với các công thức lên líp cả về đường kính
và chiều cao
Công thức líp đơn cao 0,4m cho kết quả tốt nhất về đường kính, tuy nhiên lại kém hơn về sinh trưởng chiều cao, mặc dù sự sai khác không có ý nghĩa ở mức ý nghĩa 5% So với kết quả từ thí nghiệm lên líp ở Triệu Phong thì ta thấy rằng hai công thức lên líp này không thật sự sai khác
có ý nghĩa, do đó ta có thể kết luận là hai công thức lên líp đơn và đôi ở độ cao 0,4m đều cho kết quả tốt
3 Thí nghiệm mật độ trồng
Trang 8Biểu 10: Kết quả TN mật độ trồng - Gio Thành - Gio Linh - Quảng Trị – 3,5 tuổi
Biểu 10 cho thấy công thức 3 mật độ 3 x 2 sinh trưởng trội hơn, nhưng sự sai khác không
có ý nghĩa, tức sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm là chưa rõ ràng, điều này chứng tỏ ở tuổi 3,5, sự cạnh tranh không gian dinh dưỡng chưa nhiều nên chưa phân hoá rõ rệt
3.2.3 Đánh giá tác động của rừng đối với đất:
Biểu 11: Kết quả phân tích đất trước và sau khi trồng rừng (Rừng 4,5 tuổi):
Kết quả
T
T
Tên chỉ tiêu Phương pháp kiểm
nghiệm
Đơn vị tính Trước khi
trồng rừng
Sau khi trồng rừng
2 Hàm lượng các bon hữu
cơ
3 Hàm lượng N2 tổng số 10TCN 377 - 99 % 0,070 0,075
4 Hàm lượng P2O5 dễ tiêu 10TCN 376 - 99 mg/100g 0,24 1,10
5 Hàm lượng K2O đễ tiêu 10TCN 372 - 99 mg/100g 0,54 0,60
6 Hàm lượng Na+ trao đổi Phân tích đất - Viện
Thổ nhưỡng
7 Vi sinh vật hoạt động " Tế bào/g 0,23 x 105 1,5 x 105
8 Tổng số vi sinh vật " Tế bào/g 0,33 x 107 520 x 107
* Kết quả biểu 11 cho thấy sau khi trồng rừng:
+) Đất từ trạng thái chua: pH = 5,56 đã được cải tạo trở nên hết chua pH = 6,43, đây là một khả năng cải tạo đất vô cùng quan trọng, làm cho đất ngày càng được cải thiện Có thể thấy rằng
pH tăng trong trường hợp này có thể do khả năng cải tạo đất của cây, cũng có thể do sau khi lên líp và trồng rừng, tạo được vành đai chắn gió, chống cát bay, khắc phục được hiện tượng úng ngập thường xuyên, do đó dần dần làm tăng độ pH của đất
+) Hàm lượng cacbon hữu cơ, N2, P2O5 và K2O đều tăng, như vậy Keo lưỡi liềm đã làm tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, đáp ứng được nhu cầu cải tạo môi trường đất cát nội đồng Các chất dinh dưỡng khoáng trong đất tăng là do rễ Keo lưỡi liềm có rất nhiều nốt sần
có khả năng cố định Nitơ tự do từ khí trời, ngoài ra cây có hệ tán lá phát triển rất mạnh, vật rơi rụng rất nhiều, được vi sinh vật phân huỷ, trả lại chất hữu cơ cho đất
+) Vi sinh vật hoạt động và tổng số vi sinh vật đều tăng sẽ làm tăng khả năng cải tạo đất thông qua hoạt động của chúng bằng phân huỹ chất hữu cơ từ cành khô lá rụng, cố định đạm, hấp phụ lân khó tiêu để trả lại cho đất P2O5 dễ tiêu
* Tại các rừng trồng Keo lưỡi liềm trên cát nội đồng, qua kiểm tra rất nhiều điểm trên đất trống trong rừng, kể cả những nơi khoảng cách 3-4m so với gốc cây gần nhất đều phát hiện thấy rễ của Keo lưỡi liềm có mang rất nhiều nốt sần Điều này chứng tỏ rễ của Keo lưỡi liềm vươn rất xa, khả năng sinh trưởng tốt và khả năng cải tạo đất cũng rất tốt
Trang 9* Trên đất rừng Keo lưỡi liềm khối lượng lá rụng rất lớn, che phủ đất và cải tạo đất tốt, do
đó Keo lưỡi liềm có khả năng cải tạo đất cát nội đồng tốt, vừa thích hợp được với điều kiện úng ngập vừa thích hợp cho điều kiện cát bay cục bộ
* Bên cạnh rừng trồng Keo lưỡi liềm trước đây thường bị úng ngập hoặc cát bay, nên hầu hết người dân bỏ hoang, nay hầu như không còn hiện tượng cát bay, người dân đã trồng được các loại hoa màu như: Ngô, Lạc, Dưa hấu, Dưa chuột Thậm chí trước đây một số vùng trũng trong rừng không thể trồng rừng được, nay người dân cũng xin xen vào giữa để trồng các loại hoa màu
đó
3.3 Trồng rừng mô hình trình diễn
3.3.1 Mô hình thứ 1 - Trồng năm 2002
Đặt tại Phong Điền - Thừa Thiên Huế: mang đặc điểm cát nội đồng ổn định, thực bì là cây sim, mua và thanh hao và tràm gió Địa điểm này tương đối cao thoát nước tốt nên cây sinh trưởng rất nhanh, rừng mới 2,5 tuổi đạt: D = 7,54cm; H = 5,.25m
Mô hình này còn được sử dụng máy cày loại nhỏ cày tu sửa líp khi chăm sóc năm thứ nhất, vừa phá váng làm tăng độ tơi xốp cho đất, vừa tăng khả năng thoát nước Đây là một điểm mới trong chăm sóc rừng nên rừng trồng sinh trưởng rất tốt
3.3.2 Mô hình thứ 2 - Trồng năm 2004
Đặt tại Gio thành - Gio Linh - Quảng Trị: Rừng mới 4 tháng tuổi, tỷ lệ sống cao, khả năng sinh trưởng tốt Mô hình này được trồng trình diễn mở rộng nhằm tuyên truyền nhân dân trồng rừng Keo lưỡi liềm trên cát nội đồng
Mô hình này vừa được trồng tháng 12/2005, là thời điểm cuối cùng của đề tài, trên cơ sở các mô hình đã bố trí thí nghiệm, mô hình được bố trí trình diễn, trong đó sử dụng loài Keo lưỡi liềm là chính, sử dụng thêm hai loài Keo lai và Keo tai tượng làm đối chứng trên một diện tích khá lớn Mục đích thứ nhất là khảo nghiệm lại xem Keo lai có khả năng thích nghi với điều kiện đất cát nội đồng hay không và mục đích thứ hai là để người dân thấy được khả năng vượt trội của Keo lưỡi liềm so với các loài khác Bố trí trồng mật độ 1.650 cây/ha (3 x 2m), làm đất bằng máy cày, lên líp đôi, cao 0,4m, bón phân Vi sinh 200 g/gốc
Biểu 12: Sinh trưởng các loài Keo trồng trình diễn tại Gio Linh - Quảng Trị 04 tháng
TT Loài cây trồng Tỷ lệ sống (%) D 0 (mm) H vn (cm)
Biểu 12 cho thấy sau 4 tháng: Keo lưỡi liềm tỷ lệ sống 98%, sinh trưởng rất mạnh, bộ tán lá rất dày, chứng tỏ sức sinh trưởng tốt Hai loài còn lại chưa đánh giá được, vì sau khi trồng (tháng 12 năm 2004) đến nay lượng mưa rất ít, nắng hạn rất gay gắt nên cây sống trong điều kiện như vậy rất khó khăn Điều này càng chứng tỏ khả năng thích ứng rộng của Keo lưỡi liềm trong mọi điều kiện lập địa và thời tiết
IV Kết luận vμ đề nghị
4.1 Kết luận
* Điều tra tập đoàn cây trồng trên cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ
- Keo lưỡi liềm là loài có triển vọng nhất trên đất cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ Đây là loài cây có khả năng thích nghi tốt trên điều kiện khắc nghiệt của đất cát nội đồng Chúng có khả năng sinh trưởng tốt trên cát nội đồng úng ngập khi được lên líp, vừa thích hợp trong điều kiện cát bay cục bộ vì nó có bộ rễ đặc biệt phát triển Ngoài ra với bộ rễ phát triển, có nhiều nốt sần và bộ tán lá dày, rụng lá nhiều nó có ưu thế trong việc cải tạo đất, cải tạo môi trường
Trang 10- Keo lá tràm là loài cây có khả năng sinh trưởng kém, lá vàng, phân cành nhánh nhiều, tạo nên dạng thân như cây bụi, có khả năng tạo đai xanh nhưng khả năng cho sản phẩm gỗ thấp
- Các loài bạch đàn thì không nên trồng vùng cát
- Phi lao chỉ nên trồng ở những vùng tương đối thoát nước, không bị úng ngập và lên líp cao
- Riêng loài cây Keo lai bước đầu thấy có triển vọng khá tốt, tuy nhiên cần có những khảo nghiệm đầy đủ trước khi có những kết luận
* Xây dựng mô hình trồng rừng Keo lưỡi liềm trên cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ
a Đối với thí nghiệm lên líp:
- Líp đôi có chiều rộng líp 4,0m, rãng líp rộng 2,0m, líp cao 0,4m Trên líp trồng hai hàng, cách nhau 3,0m, cách mép líp 0,5m và líp đơn có chiều rộng líp là 1,5m, rãnh líp 1,5m và cao 0,4m trên líp trồng 1 hàng đều cho kết quả tốt nhất, tuy nhiên trong khi thi công thì biện pháp làm líp đôi dễ thực hiện bằng máy, ít tốn nhân công hơn nên ưu việt hơn
- Các công thức lên líp thấp, hoặc líp rộng quá cây đều sinh trưởng kém Riêng đối với công thức không lên líp thì sinh trưởng rất kém
- Các công thức đối chứng Keo lá tràm đều sinh trưởng kém hơn hẳn so với Keo lưỡi liềm
b Đối với thí nghiệm bón lót:
- Đối với phân hoá học: Phân Vi sinh 200g/gốc và phân NPK 100g/gốc có sinh trưởng hơn trong giai đoạn đầu khoảng một năm tuổi, tuy nhiên xét về giá thành thì bón phân Vi sinh 200 g/gốc vẫn kinh tế hơn
- Đối với phân hữu cơ: Phân Vi sinh 200 g/gốc và Phân chuồng 2 kg/gốc cho kết quả tốt nhất, tuy nhiên khi áp dụng trong trồng rừng thì bón phân chuồng sẽ khó áp dụng trên diện rộng
do phải vận chuyển và bón phân với khối lượng lớn nên chi phí tăng Do đó công thức bón Vi sinh
200 g/gốc là ưu việt nhất
- Vậy xét chung thì bón lót phân Vi sinh 200 g/gốc là hiệu quả nhất
c Đối với thí nghiệm mật độ trồng:
Mật độ 1.650 cây/ha (3m x 2m) là cho kết quả tốt nhất nhưng chưa hoàn toàn sai khác so với công thức 3 x 1,5m cần tiếp tục để đánh giá đầy đủ hơn
* Hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm trên cát nội đồng vùng bTB
a Biện pháp làm đất: Nên cày toàn diện bằng máy, lên líp đôi, líp rộng 4,0m, rãnh líp rộng 2,0m, líp cao 0,4m Trên líp trồng hai hàng, cách nhau 3,0m, cách mép líp 0,5m
- Thời vụ làm đất: Vào cuối mùa mưa lũ khoảng trung tuần tháng 11, sắp chuẩn bị trồng rừng
b Mật độ trồng: Cần phải tiếp tục theo dõi để đánh giá đầy đủ thêm trước khi xác định mật độ phù hợp, tuy nhiên mật độ 1650 cây/ha có triển vọng cao ( Mật độ tính trên toàn diện tích
kể cả líp và rãnh líp)
c Phân bón: Nên bón phân lân vi sinh hữu cơ, liều lượng 200 g/gốc
d Tiêu chuẩn cây con: Cây con phải được chuẩn bị tốt, cần gieo sớm (khoảng đầu tháng 8), khi cây đạt tiêu chuẩn trồng rừng (Khoảng 40 -50cm) thì cho đảo bầu và cắt khoảng 1/2 diện tích lá trước vụ trồng khoảng 15 ngày - 1 tháng
e Trồng rừng: Thời vụ: Rừng nên trồng vào cuối mùa mưa lũ, khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12 hạn chế bớt bị úng ngập và tránh bị trôi líp khi cây chưa bén rễ, dễ bị trôi cây, sạt lở líp, làm mất tác dụng chống úng của líp
- Kỹ thuật trồng: Cây con được trồng sâu khoảng 20cm kể từ mặt trên túi bầu, trồng xong vun gốc cao ≥15cm, đường kính ≥50cm, giúp giữ ẩm và tránh gió lay gốc