Trong suốt một thời gian dài các nhà di truyền cho rằng sự di truyền các tính trạng số lượng không tuân theo quy luật Menđen và sự di truyền các tính trạng số lượng từ bố mẹ cho các thế
Trang 157
Sơ đồ về trường hợp 1:
Sơ đồ về trường hợp 2:
Hình 3.4: Di truyền liên kết giới tính ở gà
Để nhận được gà lai theo dạng này có thể sử dụng các khả năng sau đây:
Trang 258
*Lai giữa gà mái mang alen trội của gen SL quy định màu trắng bạc của lông với gà trống mà giao tử của nó mang alen lặn tương ứng s-, quy định màu vàng sáng của lông Gà con nhận được
có màu lông trắng bạc sẽ là gà trống, còn gà con có màu lông vàng sáng sẽ là gà mái
Trong thực tế, gà trống được dùng là Rốt đỏ (Red Rhode), gà mái là Rốt trắng Các dạng gà lai cao sản nổi tiếng thế giới như Uorel SSL, Decalb, Drilink, Benkoc B-380, Hisex brown là những sản phẩm theo hướng này
*Lai giữa gà mái mang alen trội của gen B quy định màu của các vằn trên lông và alen trội của gen E quy định màu đen của lông với gà trống mang các alen lặn tương ứng của nó b, e Gà con nhận được có lông đen toàn thân là gà mái, gà con lông đen, trên đầu có đốm trắng là gà trống Trên thực tế ta dùng gà trống là giống Rốt đỏ
hay Niuhamsai (Newhampshire) với gà mái giống Plimut vằn
Các giống gà mới đưa vào nước ta gần đây như: Moravia, Goldline được tạo ra theo hướng này cho phép phân biệt được trống mái ngay khi mới nở nên đang được nhiều người ưa chuộng
*Thông qua tốc độ mọc lông Từ lâu ta đã biết rằng các giống
gà thuộc hướng đẻ trứng mọc lông nhanh hơn các giống gà thuộc hướng kiêm dụng và hướng thịt Ví dụ gà con giống Leghorn mọc lông đầy đủ ở lứa tuổi còn non và khác với gà con từ các giống Sussex, Rhode, các giống nặng cân khác Tính trạng mọc lông nhanh hay chậm gắn liền với giới tính Khi lai gà mái mang alen trội của gen K, quy định mọc lông chậm với gà trống mang alen lặn của gen
k, quy định mọc lông nhanh Gà con nhận được nếu mọc lông chậm
là gà trống, mọc lông nhanh là gà mái Gà mái ngay sau khi nở ra đã
có đủ các lông cánh chính Người đầu tiên lai tạo gà lai dựa trên tốc
độ mọc lông liên kết với giới tính là Serebrov (1922), khi ông dùng
gà mái giống Orlop Nga với gà giống Plimut vằn
Trang 359
3.1.4 Sự di truyền các tính trạng số lƣợng
Các tính trạng số lượng ở gia cầm gắn liền với sức sản xuất, sinh trưởng phát dục, khả năng sinh sản Trong suốt một thời gian dài các nhà di truyền cho rằng sự di truyền các tính trạng số lượng không tuân theo quy luật Menđen và sự di truyền các tính trạng số lượng từ bố mẹ cho các thế hệ sau không thông qua nhiễm sắc thể
mà chỉ thông qua tế bào chất (Citoplasma) Năm 1909 nhà di truyền học Thuỵ Điển chứng minh rằng về thực chất sự di truyền các tính trạng số lượng không vượt ra ngoài quy luật Menđen Ngày nay sự
di truyền các tính trạng số lượng được hiểu như là một polygen Một tính trạng số lượng (TTSL) được quy định bởi không chỉ một gen
mà từ sự cộng gộp của nhiều gen, đôi khi từ 100-200 đôi gen Cho đến nay số lượng chính xác các gen quy định TTSL vẫn chưa được xác định
Trong chăn nuôi gia cầm, tất cả các TTSL đều có ý nghĩa kinh tế lớn như sản lượng trứng, trọng lượng trứng, thể trọng vì vậy rất được quan tâm chú ý khi chọn lọc Các quy luật di truyền TTSL là đối tượng nghiên cứu của di truyền học quần thể (DTQT) DTQT quan tâm đến sự tác động đồng thời của nhiều cá thể theo các chỉ tiêu trung bình Nói cách khác là các cá thể riêng biệt trong một quần thể nhận được các đặc trưng tương ứng thông qua sự so sánh
nó với giá trị trung bình của quần thể về các tính trạng xác định
Để hoàn thiện các giống gia cầm, điều quan trọng hơn cả là nhận biết các đại lượng di truyền cơ bản của các tính trạng kinh tế, cũng như mức độ di truyền (DT), sự tương quan giữa chúng và sự lặp lại của các tính trạng
Hệ số di truyền h2 (HSDT) thường được sử dụng nhiều trong công tác giống Thông qua HSDT sẽ hạn chế được ảnh hưởng của môi trường ngoài và tìm thấy được giá trị di truyền thuần tuý của tính trạng nghiên cứu Theo Lasley, HSDT là một bộ phận của sự biến dị kiểu hình nói chung, nó phụ thuộc vào sự khác nhau của gen
Trang 460
và các cá thể khác nhau trong quần thể Từ giá trị của HSDT rút ra được những kết luận về sự đa dạng DT trong khuôn khổ một nhóm hay một đàn gia súc, gia cầm HSDT là khác nhau không chỉ trong các quần thể mà ngay cả trong một quần thể trong quá trình hoàn thiện nó Do đó sẽ mắc sai lầm nếu như ứng dụng một cách máy móc các giá trị của HSDT từ đàn này cho đàn khác và cần phải tính HSDT trong điều kiện cụ thể của tiến trình công tác giống
Theo Boyer (1964), HSDT của các tính trạng riêng biệt là một đại lượng tương đối ổn định, nó phụ thuộc vào các tính trạng số lượng khác nhau Ở gia cầm, HSDT các tính trạng được chia ra theo nhóm sau:
-Các tính trạng (TT) có giá trị của HSDT cao ( h2 =0,6) gồm
có khối lượng trứng và màu sắc vỏ trứng
-Các TT có HSDT trung bình (h2 =0,35) gồm có khối lượng
cơ thể, vòng ngực, dài lườn… tức là các TT liên quan đến sản xuất thịt nói chung
-Các TT có HSDT thấp (h2 =0,25) gồm có tuổi đẻ trứng, sản lượng trứng, cường độ đẻ… tức là các TT liên quan đến sức sản xuất trứng
Bảng 3.2 : Giá trị HSDT của dòng gà 6E, giống Leghorn
(Theo Vanchep, Donchep và cộng sự, 1990)
cs
Theo các tác giả khác
Trang 5Tỷ lệ thụ tinh 0,17
Trên cơ sở hệ số di truyền của từng tính trạng cho phép đưa ra phương pháp công tác giống thích hợp, làm tăng nhanh tiến bộ di truyền và hiệu quả chọn lọc giống
Trang 63 3 Công tác giống gia cầm
Tuỳ thuộc vào phương thức biểu hiện giá trị giống và số lượng các tính trạng cần củng cố và nâng cao ở những giống cụ thể
mà sử dụng phương pháp công tác giống thích hợp
3.3.1 Chọn lọc giống gia cầm
3.3.1.1 Chọn lọc giống theo cá thể
Theo phương pháp này việc chọn lọc được thông qua kiểu hình của các cá thể trong trong toàn đàn theo các giá trị của giống Phương pháp này thu được hiệu quả cao khi sự di truyền trội hoặc lặn được qui định bởi các cặp gen Ví dụ ở gà Plymouth trắng lặn qui định bởi alen-c, mào đơn bởi alen-r, các cá thể mang các tính trạng
Trang 763
này là đồng hợp theo màu lồng và hình dạng mào nên chọn lọc la rất đơn giản Phương pháp chọn theo cá thể là rất hiệu quả với các tính trạng có HSDT cao
3.3.1.2.Chọn lọc theo gia đình, dòng họ
Phương pháp chọn lọc này được thực hiện thông qua giá trị giống trung bình của gia đình, dòng họ Giá trị giống trung bình được tính cho cả các cá thể trong gia đình được chọn lọc Phương pháp này có hiệu quả cao khi các tính trạng chọn lọc có HSDT thấp
3.3.1.3.Chọn lọc hỗn hợp (cá thể, dòng họ, gia đình)
Trong phương pháp này cho phép chọn các cá thể tốt nhất trong các gia đình tốt nhất, là phương pháp có nhiều triển vọng và được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi gia cầm
Phụ thuộc vào chương trình công tác giống khác nhau, việc chọn lọc được thực hiện trên 1 tính trạng hay nhiều tính trạng mà sử dụng các hình thức chọn lọc sau:
-Chọn lọc liên tục theo một tính trạng: Được sử dụng chỉ
trong các trường hợp đặc biệt Chọn lọc chỉ theo giá trị giống của một tính trạng và kéo dài liên tục qua nhiều thế hệ cho đến khi đạt mục đích giống đặt ra thì dừng lại Sau đó chuyển sang chọn lọc theo tính trạng khác Phương pháp này được tiến bộ di truyền tương đối nhanh nhưng chỉ ở một tính trạng Ở gia cầm các tính trạng luôn có liên quan với nhau nên việc chọn lọc theo phương pháp này gặp trở ngại, vì vậy thường chỉ ứng dụng trong công tác giống với các dòng chuyên dụng
-Chọn lọc độc lập: Theo phương pháp này việc chọn lọc đồng
thời ở một số tính trạng cho đến khi các tính trạng đó đạt giới hạn của giá trị giống xác định Tức là đánh giá các cá thể thoả mãn đòi hỏi thấp nhất được xác định cho mỗi tính trạng, nếu không thoả mãn một tính trạng thì phải loại thải Chỉ chọn các cá thể theo tất cả các tính trạng trên giới hạn qui định Ví dụ đưa ra giá trị giống về sức đẻ trứng 220, trọng lượng trứng 55g thì tất cả các cá thể có SLT từ 220
Trang 864
và TLT từ 55g trở lên mới được chọn Nhược điểm của phương pháp này là phải loại thải đi các cá thể có giá trị cao chỉ ở một TT mong muốn, các gia cầm có đặc tính quí ở một hướng sản xuất nào đó Đòi hỏi phải có số lượng lớn để chọn lọc Phương pháp này ứng dụng nhiều trong CNGC
-Chọn lọc theo chỉ số giống: Chỉ số giống được qui định cho
tất cả cá thể và cho tất cả tính trạng giống Chỉ số giống chung nhất được thể hiện với mô hình toán học tổng quát là:
I = V1P1+V2P2+… +VnPnTrong đó P1,P2 Pn là giá trị chuyển đổi của các tính trạng giống; V1,V2 Vn là hệ số xác định của giá trị giống; n là số lượng tính trạng giống Chỉ số giống sau đây hay dùng trong chăn nuôi gia cầm:
I = 0,236 (P1- P1) + 0,132 (P2 – P2) + 14,56 (P3 – P3)
Trong đó P1,P2,P3 là sản lượng trứng (quả); khối lượng trung bình của trứng (g) và khối lượng của gia cầm sau năm đẻ trứng đầu tiên (kg); P1, P2, P3 là giá trị trung bình của các tính trạng tương ứng trong quần thể
3.3.2 Sử dụng ƣu thế lai trong chăn nuôi gia cầm
Sản lượng cao của các giống gà hướng trứng, tăng trọng nhanh, tầm vóc lớn của các giống gà hướng thịt, khả năng sử dụng thức ăn tốt của các dòng gà gần đây đã trở thành nổi tiếng trên thế giới không thể tách rời khỏi sự lai tạo và sử dụng ưu thế lai
Sự tăng về sức sống, độ lớn, sức sinh sản, tốc độ phát triển, khả năng chống đỡ với bệnh tật và những thay đổi của khí hậu thời tiết biểu hiện ở cơ thể lai so với cơ thể bố mẹ, kết quả của sự kết hợp giữa các giao tử của bố, mẹ ở cơ thể con lai được gọi là ưu thế lai
Trong chăn nuôi gia cầm đẻ nhận được ưu thế lai cao người ta thường sử dụng các phương pháp lai đó là: Lai giữa các giống, lai giữa các dòng và lai hỗn hợp từ 2,3,4 dòng hợp lại Các dạng gà lai điển hình về năng suất cao theo hướng trứng vỏ trắng, trứng vỏ màu
Trang 965
và gà lai theo hướng sản xuất thịt Broiler được giới thiệu trên các bảng 3.6, 3.7
3.3.2.1 Những lợi ích nhận được từ lai tạo
Thứ nhất, con lai có thể tổ hợp được các đặc tính tốt từ 2
giống khác nhau Những khuyết tật tồn tại ở một giống sẽ không có
ở thế hệ sau nhờ vào sự bổ sung, đóng góp của các giống khác Ví dụ: một gà mái Leghorn trắng (LW) lai gà rốt đỏ (RIR) cho ra gà đời con có sức đẻ trứng cao hơn gà RIR, trứng lớn hơn, thể trọng gà sau thời gian đẻ trứng lớn hơn so với gà LW, trứng của gà lai sẫm màu hơn…
Thứ hai, lai tạo hướng tới sự đồng nhất hơn về đặc trưng bên
ngoài thông qua chọn lọc, cho phép chọn, loại những con yếu, không kinh tế và không cho sản phẩm
Thứ ba, hai nhóm giống từ hai giống khác nhau có thể lai tạo,
sử dụng gen liên kết giới tính để chọn gà trống mái lúc mới nở ra khỏi trứng
Thứ tư, con lai thường biểu hiện ưu thế lai, các thành tích về
thế hệ con cháu cao hơn so với thành tích trung bình của bố mẹ chúng Ví dụ (theo Hutt và Cale) sự thay đổi sức sản xuất qua lai tạo: sản lượng trứng đến 500 ngày tuổi là +22 quả; trọng lượng trứng +2g; thể trọng +130g; tuổi đẻ trứng đầu tiên -5 ngày
Bảng 3 6: Gà lai đẻ trứng vỏ trắng
Gà lai Hãng sản
xuất
Sản lƣợng trứng
Trọng lƣợng trứng (g)
Thức ăn/trứng
Trang 10vỏ màu cao hơn chút ít (133-190/151-190), tầm vóc cơ thể sau khi
đẻ nhóm gà vỏ màu cao hơn Gà đẻ trứng vỏ màu ít chịu ảnh hưởng của stress môi trường, sức sản xuất trứng ổn đinh và tỷ lệ nuôi sống cao hơn gà lông trắng, đẻ trứng vỏ trắng Vì vậy tạo gà lai đẻ trứng
vỏ màu đang là xu hướng của các nhà tạo giống gà
Bảng 3 7: Gà lai đẻ trứng vỏ màu
Gà lai Hãng sản
xuất
Sản lƣợng trứng
Trọng lƣợng trứng (g)
Thức ăn/trứng
Trang 1167
Mỹ Lohman Lohman
Uoren SSL Uoren Mỹ 256-289 61,1-62,1 153-166 Tetral CL Babina
và có đóng góp tích cực cho sản xuất là khoảng 10 năm trở lại đây Các công trình nghiên cứu lai tạo được thực hiện theo 3 hướng: 1) lai giữa các giống/dòng gia cầm cao sản nhập nội; 2) lai giữa các giống gia cầm địa phương trong nước; 3) lai giữa một giống là gia cầm cao sản nhập nội với một giống địa phương Kết quả các công trình nghiên cứu đã được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành chăn nuôi (tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, nay là nông nghiệp và phát triển nông thôn thuộc Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, tạp chí chăn nuôi của Hội chăn nuôi Việt Nam và trên website của Bộ giáo dục và đào tao www/hed.edu.vn Thông tin chi tiết tìm trên các tài liệu này) Thống kê chưa đầy đủ, các công trình nghiên cứu về lai tạo và sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi gà thể hiện trên bảng 3.8
Bảng 3 8: Tổng hợp các công trình lai tạo gà đã công bố ở
nước ta
Trang 12Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thanh Sơn, 1996
Tiền Giang x Tam Hoàng Lê Thanh Hải, Lê Hoàng Dung,
Đồng Sỹ Hùng, 1997 Rhode island x Goldline Lê Thanh Hải, Lê Hoàng Dung,
Đồng Sỹ Hùng, 1997 Tam Hoàng 882 x RhodeRi Phạm minh Thu, Trần Công
Xuân, 1997 Đông Tảo x TH Jangcun Nguyễn Đăng Vang, Trần Công
Xuân, 1999 Giữa các dòng gà Bình
Trang 13Kabir x Lương Phượng
Lương Phượng x Kabir
Trần Công Xuân và cộng sự,
2002 Mía x Kabir
Ri x Kabir
Trần Sáng Tạo, Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Đăng Vang,
2002 Lương Phượng x Sasso Phùng Đức Tiến và cộng sự,
2003 Tam Hoàng x Tàu Vàng
Lương Phượng x Tàu Vàng
Lâm Minh Thuận, 2004
Lương Phượng x Ri Nguyễn Huy Đạt, 2004
Goldline x Ai Cập Phùng Đức Tiến và cọng sự,
2004
Ri x Lương Phượng
Mía x Lương Phượng
Đông Tảo x Lương Phượng
Ri x Kabir
Mía x Kabir
Đông Tảo x Kabir
Vũ Ngọc Sơn, Nguyễn Huy Đạt,
2006
Các đối tượng gia cầm khác cũng được lai tạo với những công thức khác nhau Lai giữa vịt Bắc kinh với vịt Bầu (Phạm Văn Trượng và cộng sự, 1990), lai giữa vịt Khakicampbell với vịt Cỏ (Nguyễn Đức Hưng, 1993; Trần Thanh Vân, 1998), Giữa các dòng vịt siêu thịt với nhau (Hoàng Văn Tiệu và cộng sự, 1993, 2003,
2004, 2005)… Lai giữa các dòng ngan pháp với nhau và với ngan
Trang 1470
nội: lai chéo dòng ngan pháp R31 x R51 (Nguyễn Đức Hưng, Mai Danh Luân, 2001), lai giữa ngan R71 và vịt CV-2000 (Nguyễn Đức Hưng, Lương Thị Thủy, 2004; Phạm Văn Trượng, Nguyễn Đức Trọng, 2003)… Lai giữa các dòng bồ câu pháp với bồ câu nhà (Trần Công Xuân và cộng sự, 2003-2004)…Ở hầu hết các công thức lai và hầu như ở tất cả các đối tượng gia cầm khi lai đều cho ưu thế lai và
có thể sử dụng trong sản xuất thịt, trứng có hiệu quả cao hơn các giống địa phương Một số nhóm giống mới đã được công nhận đưa vào sản xuất như gà RốtRi, gà Bình Thắng (BT1, BT2)…
3.3.3.Phương pháp tạo các dòng gà lai có năng suất cao
Các dòng gà lai có năng suất cao hiện nay được ra theo nguyên tắc chung và theo sơ đồ sau của Piuzen (1982)
Quần thể từ một hoặc nhiều giống ban đầu
Trang 1571
Lai kinh tế trong chăn nuôi gà công nghiệp có nhiều công thức khác nhau:
-Đơn giản nhất là lai chéo 2 dòng Ví dụ: trống Leghorn dòng
X với mái dòng Y = mái thương phẩm Leghorn
-Giữa trống dòng thuần với mái là sản phẩm lai tạo để tạo ra con lai thương phẩm Ví dụ: công thức lai Plymouth 791 (P.983)
Bước 1 tại trại ông bà lai trống 488 x mái 433 132A (P.83)
trống 799 x mái 799 dòng thuần (P.9) Bước 2 tại trại bố mẹ lai trống dòng thuần 799 x mái lai 132A 791
-Giữa gà trống dòng cha, mái dòng mẹ đều là sản phẩm lai cùng giống hoặc khác giống tạo ra gà lai thượng thẩm 4 máu Ví dụ công thức lai tạo gà Hybro của Cuba Bố là sản phẩm của 2 dòng Cornic P1,I1; mẹ là sản phẩm của 2 dòng Plimut B1,B7
3.4 Hệ thống công tác giống gia cầm
Các nước có ngành gia cầm phát triển, hệ thống giống có dạng hình tháp mà đỉnh là các trung tâm giống gốc, tiếp đến là các trại giống ông bà, trại giống bố mẹ, dưới cùng là hệ thống các trại thương phẩm có số lượng và qui mô lớn gấp nhiều lần các cơ sở cung cấp giống
-Trung tâm giống gốc có nhiệm vụ giữ giống gốc nguyên chủng, cải tiến giống cho phù hợp với địa phương và yêu cầu của sản xuất, tự thay đàn Sản phẩm là gia cầm thuần chủng dòng thuần, cung cấp giống cho trại ông bà
-Trại ông bà nhân giống và lai chéo dòng để tạo ra gia cầm hậu bị bố mẹ theo các công thức lai đã định trước