1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn thi cao hoc Khái Luận Về Triết Học

40 1K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 1: Khái luận về triết học
Tác giả TS. Lê Kim Châu
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 444,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ôn thi cao hoc Khái Luận Về Triết Học Triết học ra đời từ thời cổ đại ở Ấn độ, Trung quốc, Ai cập và đạt hình thức điển hình ở Hy lạp. Về mặt lịch sử, sự ra đời của triết học là trùng hợp với sự xuất hiện những mần mống đầu tiên của tri thức khoa học, với sự hình thành nhu cầu nghiên cứu lý luận. Có thể nói, triết học được hình thành như một hình thức lịch sử đầu tiên của tri thức lý luận.

Trang 1

1

Chương1 KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC

1 Đối tượng và đặc điểm của triết học

Triết học ra đời từ thời cổ đại ở Ấn độ, Trung quốc, Ai cập và đạt hình thức điển hình ở Hy lạp Về mặt lịch sử, sự ra đời của triết học là trùng hợp với sự xuất hiện những mần mống đầu tiên của tri thức khoa học, với sự hình thành nhu cầu nghiên cứu lý luận Có thể nói, triết học được hình thành như một hình thức lịch

sử đầu tiên của tri thức lý luận Trước khi triết học xuất hiện, thì thế giới xung quanh được phản ánh trong ý thức của người nguyên thủy dưới hình thức thần thoại Trong thần thoại bên cạnh niềm tin hư ảo vào các lực lượng thần thánh, siêu

tự nhiên, thì các vấn đề về nguồn gốc, bản chất của thế giới có một vị trí đáng kể Triết học ra đời trong cuộc đấu tranh với thần thoại, như một nỗ lực nhằm giải thích thế giới Thực chất triết học cũng tìm cách trả lời cho các vấn đề mà trước

đó đã được đạt ra trong thần thoại, nhưng bằng một phương thức khác Triết học

là sự phân tích lý luận các vấn đề ấy dựa trên logic và thực tiễn

Thuật ngữ “Triết học” - Philosophia, có nguồn gốc Hy lạp Trong ngôn ngữ

Hy lạp cổ đại, nó được cấu thành từ hai bộ phận: phileo nghĩa là “tình yêu” và sophia nghĩa là “ sự thông thái” Theo nghĩa ban đầu của nó, thì Triết học có

nghĩa là “yêu mến sự thông thái” Tuy nhiên, giải thích nguồn gốc của thuật ngữ không có nghĩa là chỉ ra được nội hàm khoa học của khái niệm

Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về triết học được đưa ra trong suốt lịch sử lâu dài và nhiều thay đổi của nó Không có điều kiện liệt kê tất cả những định nghĩa ấy, ở đây chỉ nêu ra một số

Thời cổ đại, các nhà triết học như Plato, Aristotle định nghĩa triết học là học thuyết về tồn tại tối cao hay là học thuyết về bản chất cuối cùng, bản thể của vạn

Trang 2

2

vật Truyền thống này được tiếp tục trong suốt thời kỳ trung đại cho đến tận thời

kỳ cận đại Tồn tại cao nhất không phải là tồn tại cảm tính, tồn tại vật lý (phisika), hữu hình, mà là tồn tại “sau vật lý” (meta ta phisika), “siêu hình”, là bản thể Triết học là bản thể luận - học thuyết về tồn tại Thời cận đại triết học được coi là học thuyết về nhận thức - nhận thức luận, chẳng hạn như Kant cho rằng triết học là học thuyết về những giới hạn tuyệt đối của mọi tri thức

Theo Oxford Advanced Learner’s Dictionary 1992, thì philosopy là:

1 Sự nghiên cứu để hiểu rõ bản chất của vũ trụ và cuộc đời con người

2 Một hay hệ thống những niềm tin do nhận thức đem lại

3 Tập hợp các niềm tin hoặc một cách nhìn về cuộc sống chỉ đạo các nguyên tắc xử thế

4 Thái độ bình tĩnh, thản nhiên trước cuộc sống ngay cả khi đối mặt với đau khổ, nguy hiểm

Trong truyền thống của Marxism - Leninism có thể thấy các định nghĩa:

1 Triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về thế giới, về con người

và về vai trò của con người trong thế giới

2 Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất về thế giới, về con người và

về vai trò của con người trong thế giới

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng về cơ bản có sự đồng ý chung rằng triết học là một hệ thống trong đó có hai yếu tố khác nhau, thậm chí đối lập nhau là nhận thức và nhận định Nhận thức là sự tìm kiếm, khám phá, nó đem lại những tri thức nhất định về đối tượng Những tri thức mà triết học tìm kiếm là những tri thức lý luận, khái quát chung nhất Nhận định là đánh giá, bày tỏ thái độ,

nó đem lại những quan điểm hay những cái nhìn nhất định về đối tượng

Trong lịch sử đối tượng của triết học có nhiều thay đổi

Trang 3

3

Triết học Hy lạp cổ đại chủ yếu nỗ lực tìm hiểu nguồn gốc của các hiện tượng

tự nhiên xung quanh Đó là triết học tự nhiên (naturphilosophie), thực chất nó

bao gồm toàn bộ các tri thức khoa học, vốn còn rất hạn chế của người cổ đại và được xem như là “khoa học của các khoa học”

Với sự tích lũy ngày càng nhiều của các tri thức khoa học và cùng với nó là sự hình thành các phương pháp nghiên cứu riêng, bắt đầu quá trình phân hóa giữa tri thức lý luận và tri thức ứng dụng Mặt khác, đã có sự phân ngành tri thức, sự tách riêng ra của toán học, y học, thiên văn học…thành các khoa học độc lập Bên cạnh việc tách các vấn đề lý luận ra thành các vấn đề nghiên cứu riêng, thì trong bản thân triết học cũng bắt đầu hình thành các hướng nghiên cứu và do đó mà là các

loại hình triết học khác nhau như Bản thể luận (ontology - học thuyết về bản thể,

về “tồn tại”), Nhận thức luận (gnosiology - học thuyết về nhận thức), Logic học,

Trong quá trình lịch sử hàng ngàn năm tồn tại và phát triển của triết học, đã có nhiều thay đổi cả về nội dung và hình thức thể hiện, nhưng triết học vẫn là một hình thái ý thức xã hội với kiểu tư duy đặc thù, giúp con người suy ngẫm về thế giới, về vị trí và vai trò của mình trong thế giới Triết học đem lại không chỉ hệ

Trang 4

4

thống những quan điểm, quan niệm chung nhất về thế giới, mà còn là hệ thống những nguyên tắc định hướng, chỉ đạo con người phải sống như thế nào trong thế giới ấy

“Triết học là thời đại thâu tóm trong tư tưởng” (Hegel) Lịch sử triết học là lịch

sử của rất nhiều các học thuyết, các trào lưu, và các khuynh hướng triết học khác nhau Triết học đặt ra và tìm cách giải quyết hàng loạt những vấn đề của thực tiễn

và nhận thức Nhưng có thể nói, nổi bật và xuyên suốt trong lịch sử triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại “Vấn đề lớn cơ bản của toàn bộ triết học… là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại.” (Engels) Về thực chất, vấn đề cơ bản của triết học là sự thừa nhận hai kiểu hiện thực mà con người vẫn thường xuyên gặp phải trong cuộc sống: hiện thực khách quan, vật chất và hiện thực chủ quan, tinh thần Xét về nguồn gốc, vấn đề cơ bản của triết học xuất hiện từ rất sớm Ngay từ thuở xa xưa, con người đã quan niệm rằng, tư duy, cảm giác của họ không phải là hoạt động của bản thân họ, mà là của một linh hồn đặc biệt nào đó, tạm trú trong thân thể họ mà thôi Ngay từ thuở đó, họ đã phải suy nghĩ về quan

hệ giữa linh hồn ấy với thế giới bên ngoài Song vấn đề đó chỉ có thể có được toàn

bộ ý nghĩa của nó khi loài người ở châu Âu bừng tỉnh sau thời kì dài thống trị của

Kyto giáo Trong triết học kinh viện thời Trung đại, vấn đề đó đã có một vai trò

rất lớn và bất chấp giáo hội Kyto, nó mang hình thức găy gắt: thế giới là do Chúa Trời sáng tạo ra, hay vẫn tồn tại từ trước?

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, và mỗi mặt lại lại là một câu hỏi lớn

Thứ nhất, giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và tự nhiên, cái nào có trước?

Những người cho rằng tinh thần có trước và do đó mà thừa nhận rằng thế giới

được sáng tạo ra - những người đó thuộc phe chủ nghĩa duy tâm (idealism)

Trang 5

5

Ngược lại, những người cho rằng tự nhiên có trước, thì thuộc phe chủ nghĩa duy

vật (materialism)

Thứ hai, những suy nghĩ của chúng ta về thế giới xung quanh có quan hệ như

thế nào với bản thân thế giới ấy? Tư duy của chúng ta có thể nhận thức được thế giới hiện thực không? Trong các quan niệm và các khái niệm của mình, con người

có thể có được hình ảnh đúng đắn của hiện thực không? Theo ngôn ngữ triết học, câu hỏi đó được gọi là vấn đề tính đồng nhất giữa tư duy và tồn tại Đại đa số các nhà triết học trả lời câu hỏi đó một cách khẳng định và họ được gọi là những

người theo chủ nghĩa khả tri hay khả tri luận (gnosticism) Nhưng cũng có hàng

loạt nhà triết học không thừa nhận là có thể nhận thức được thế giới, hay ít nhất cũng không thể nhận thức được thế giới một cách đầy đủ Họ là những người theo

chủ nghĩa bất khả tri (agnosticism), chủ nghĩa hoài nghi (skepticism)

Trong lịch sử phát triển của mình, chủ nghĩa duy vật đã trải qua nhiều giai đoạn từ chủ nghĩa duy vật tự phát cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc,

đến hình thức cao nhất là chủ nghĩa duy vật biện chứng Về các hình thức này của

chủ nghĩa duy vật chúng ta sẽ đề cập thêm ở phần sau Ở đây chỉ lưu ý rằng, con người trong cuộc sống hàng ngày không thể không đối mặt với sự thật hiển nhiên

là sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, và vì vậy mà họ phải hành động như những nhà duy vật Tuy nhiên, là nhà duy vật tự phát trong cuộc sống hàng ngày

là một việc, còn là nhà duy vật tự giác trong triết học lại là việc khác Lịch sử khoa học có rất nhiều ví dụ cho thấy những nhà khoa học có thể không thừa nhận cách lý giải duy vật vấn đề cơ bản của triết học, nhưng trên thực tế, trong lĩnh vực khoa học của mình họ lại dựa vào các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật

Chủ nghĩa duy tâm cũng không chỉ có một hình thức duy nhất Chủ nghĩa duy tâm khách quan từ cổ đại đến hiện đại đều thừa nhận sự tồn tại của thế giới hiện

Trang 6

6

thực bên ngoài con người, nhưng cho rằng cơ sở của thế giới là lý tính, tinh thần Hình thức cơ bản khác của chủ nghĩa duy tâm là chủ nghĩa duy tâm chủ quan Theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì không có thế giới khách quan, tồn tại độc lập với con người; thế giới chỉ là kết quả của những cảm giác, tri giác, những nhận thức chủ quan của con người; thừa nhận sự tồn tại của thế giới không phụ thuộc vào ý thức con người là vô nghĩa Về mặt lôgic, chủ nghĩa duy tâm chủ quan nhất

định sẽ đưa đến kết luận của chủ nghĩa duy ngã (solipsism): chỉ có “cái Tôi”,

ngoài ra không có gì hết

Chủ nghĩa duy vật dựa vào các thành tựu của khoa học và thực tiễn Chủ nghĩa duy tâm thường bằng cách này hay cách khác có liên quan đến tôn giáo, mặc dù không thể đồng nhất chúng với nhau Tôn giáo dựa trên niềm tin và tình cảm, còn chủ nghĩa duy tâm triết học xây dựng các quan điểm của mình bằng lý luận Chủ nghĩa duy tâm không phải chỉ là nhảm nhí hay là đồ bỏ đi Nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội Sự thực thì nhận thức thế giới là một quá trình phức tạp

và nhiều mâu thuẫn Chủ nghĩa duy tâm là sự phát triển phiến diện, phóng đại, tuyệt đối hóa một mặt, một yếu tố, một đặc tính… nào đó của nhận thức, làm cho

tư tưởng tách biệt hoàn toàn với hiện thực, thần thánh hóa nó Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm liên quan đến quá trình tách rời, đối lập giữa lao động trí

óc và lao động chân tay Đến lượt mình, quá trình này lại liên quan đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng, với việc lao động trí óc càng ngày càng trở thành gần như đặc quyền của giai cấp thống trị Chủ nghĩa duy tâm phù hợp với lợi ích và địa vị của giai cấp thống trị, được giai cấp thống trị bảo vệ và sử dụng

Chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa khả tri chủ nghĩa bất khả tri

là các phe phái triết học cơ bản đối lập nhau Nhưng trong triết học không chỉ có

Trang 7

7

các sự đối lập nhau của các quan điểm, mà còn có sự đối lập nhau của các phương pháp nhận thức Từ trong quá trình nhận thức triết học, đã hình thành hai phương pháp nhận thức chung nhất đối lập nhau là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét các đối tượng chủ yếu là

trong mối liên hệ qua lại, trong sự vận động và phát triển của chúng Đối lập lại,

phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét các đối tượng trong trạng thái

riêng biệt, cố định vĩnh viễn

Thực ra, cả hai phương pháp này đều là cần thiết trong nhận thức Tùy theo nhiệm vụ nhận thức đặt ra là gì, mà phương pháp này hay phương pháp kia được

sử dụng Chẳng hạn, khi mà nhiệm vụ nhận thức đặt ra là phải giải thích đối tượng một cách chi tiết, thì phương pháp siêu hình là phù hợp Trong trường hợp đó, chúng ta không có cách nào khác là phải tách đối tượng ra khỏi những mối liên hệ

tự nhiên hay lịch sử của nó, phải tách các bộ phận, các yếu tố của nó ra để nghiên cứu lần lượt, trong trạng thái riêng biệt, độc lập Được biết, khoa học tự nhiên trong các thế kỷ XV – XVIII, về cơ bản đã làm như thế Việc phân chia giới tự nhiên thành các lĩnh vực riêng biệt, việc tách và phân chia các vật thể và các quá trình tự nhiên thành những loại nhất định, việc nghiên cứu cấu tạo bên trong của các vật thể hữu cơ, - đó là điều kiện cơ bản cho những tiến bộ khổng lồ mà khoa học tự nhiên đã đạt được trong khoảng 400 năm ấy

Tuy nhiên, phương pháp siêu hình, dù được coi là cần thiết, thậm chí là chính đáng trong những lĩnh vực nghiên cứu nhất định, nhưng vẫn có giới hạn Nếu vượt quá giới hạn của mình để trở thành một quan niệm chung về bản chất của đối tượng, thì phương pháp siêu hình trở thành phiến diện, trừu tượng và hạn chế Chính các thành tựu của khoa học , nhất là khoa học tự nhiên hiện đại, đã và đang

Trang 8

8

chứng minh rằng, xét chung và toàn bộ thì mọi cái đều diễn ra một cách biện chứng chứ không phải siêu hình Do đó một quan niệm đúng về tự nhiên, xã hội

và tư duy phải là một quan niệm biện chứng

2 Khái quát lịch sử triết học

2.1 Triết học phương Đông

Trong giới nghiên cứu phương Tây có một quan niệm khá phổ biến là ở phương Đông không có triết học, mà chỉ có các tư tưởng chính trị đạo đức, rằng các tư tưởng phương Đông nhìn chung được xem là “giai đoạn thấp của triết học” (“giai đoạn cảm tính”), không có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử triết học thế giới

Châu Âu đúng là nơi tiêu biểu của các tư tưởng khoa học và triết học Ở đây có triết học Hy lạp cổ đại đạt đến trình độ phát triển rực rỡ, chứa đựng hầu như toàn

bộ các kiểu thế giới quan về sau Nhưng như thế không có nghĩa là chỉ có châu Âu mới là cái nôi của tri thức triết học Sự phát triển các tư tưởng triết học ở các nước phương Đông cổ đại (Ai cập, Babilon, Trung Quóc, Ấn độ) bắt đầu từ rất lâu trước khi triết học châu Âu xuất hiện triếtở cái nôi của nó là học Hylạp cổ đại Triết học phương Đông chứa đựng nhiều tư tưởng tích cực về chủ nghĩa duy vật cũng như phép biện chứng Tuy nhiên nếu so sánh về sự phát triển, thì triết học phương Đông và triết học phương Tây có những đặc điểm riêng Ở phương Tây bắt đầu từ thời đại Phục hưng, trong tất cả các mặt của đời sống xã hội kể cả triết học, sự phát triển diễn ra rất sôi động Trong khi đó ở các nước phương Đông chế

độ phong kiến và hệ tư tưởng tôn giáo thống trị kéo dài cho tận đến thời cận đại và hoàn toàn không có những điều kiện thuận lợi để phát triển triết học

Trang 9

9

Không ít người ở các nước châu Á chia sẻ quan điểm cho rằng chỉ ở phương Đông mới thực sự có cái gọi là “Triết” Triết là “minh triết” là hướng đạo, làm sáng tỏ con đường cho cuộc nhân sinh (“Đạo làm người”, “Đạo lý”), cho nên phải tập trung vào các vấn đề đạo đức, chính trị Còn ở phương Tây triết học là môn khoa học, thấm nhuần “tinh thần duy lý” của khoa học cho nên không phải là triết thực thụ Theo quan điểm này, cần phân biệt “minh triết”, “triết lý” và “triết học”

“Minh triết” là sự khôn ngoan, sự thông thái được kết tinh thành các châm ngôn vắn tắt, cần được thể nghiệm, chứ không lý luận dài dòng; Lí luận là “triết lý” để làm rõ, để giải thích, biện minh, bàn giải cho “minh triết”; Còn “triết học” là sự nghiên cứu về thế giới nhằm đạt được các tri thức khách quan bằng phương pháp tích lũy các sự kiện, phân tích, phê phán, tổng hợp, khái quát thành hệ thống các

tư tưởng, trình bày mạch lạc

2.1.1 Triết học Ấn độ cổ đại

Ấn độ cổ đại là một cái nôi của văn minh thế giới Nền văn minh Ấn độ phát triển sớm và đạt đến trình độ cao Tuy vậy nền văn minh Ấn độ không liên tục, có nhiều thăng trầm chứa đựng nhiều bí ẩn cho đến nay Nhìn chung, Ấn độ cổ đại

có một số đặc điểm: các quan hệ xã hội mang nặng tính chất thị tộc bộ lạc Mô hình tổ chức “công xã nông thôn” với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm, sản xuất tự cấp tự túc, dựa trên phân công lao động tự nhiên tồn tại dai dẳng Sự phân chia xã hội thành các đẳng cấp từ cao xuống : tăng lữ (brahmana), quan chức (ksatya), dân thường (vaisya) và nô lệ (ksudra) Tôn giáo bao trùm sinh hoạt xã hội và truyền thống rất nặng nề và bảo thủ

Thành tựu lớn nhất và có nhiều ảnh hưởng của văn hóa tinh thần Ấn độ là Veda Đó là một thế giới quan hỗn hợp chứa đựng từ những quan niệm tôn giáo

đa thần đến những quan điểm đạo đức và triết học Veda được thể hiện dưới dạng

Trang 10

10

những bài hát, bài thơ dài, các nghi lễ Toàn bộ Veda có 4 bộ, trong đó quan trọng nhất là Upanishad Trong Upanishad có 2 vấn đề mang tính chất và ý nghĩa triết học lớn Thứ nhất là vấn đề mối quan hệ giữa vạn vật và cơ sở chung của chúng (giữa “tất cả” và “một”, giữa các “atman” và “Brahman”) Theo đó thì vạn vật , kể

cả con người đều có một linh hồn làm nên cái “bản ngã” độc đáo của nó là Atman Các atman này thực ra lại chỉ là một bộ phận, một phần của tinh thần thế giới là Brahman Thứ hai là thuyết luân hồi (Samasana) Thuyết này cho rằng vạn vật đều chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác do nghiệp (karma)

Triết học Ấn độ cổ đại mang nặng màu sắc tôn giáo chứa đựng nhiều yếu tố thần bí, hình thành và phát triển chủ yếu trong khoảng thời gian 1000 năm (tcn) Theo cách phân chia truyền thống triết học Ấn độ có 9 hệ thống triết học và được chia thành hai phái chính thống và phi chính thống Phái chính thống là phái trung thành với các truyền thống tư tưởng có trong Veda, bao gồm 6 hệ thống và vẫn thường được gọi chung là Ấn độ giáo (Mimamsa, Vedanta, Samkhya, Yoga, Nyaya và Vaisesika); phái phi chính thống là phái có những tư tưởng ít nhiều khác với Veda, bao gồm 3 hệ thống (Lokayata, Jaina và Buddhism)

Triết học Phật giáo (Buddhism)

Người sáng lập Phật giáo là Siddhatta Gautama (623 -544; 566- 488?; 563 - 483? tcn) Ông vốn là thái tử, cha ông là vua một nước nhỏ ở bắc Ấn độ, nay thuộc Nepan Khi còn nhỏ chứng kiến những cảnh khổ sở của đời người, ông chối

bỏ cuộc sống giàu sang phú quý đi tu, mưu tìm con đường giải thoát cho dân chúng Khi tu hành thành công ông có tên là Buddha (Phật) Người đời gọi ông là Sankya - muni (nghĩa là “người hiền” xứ Sankya)

Trang 11

11

Bản thể luận Phật giáo Vạn vật được tạo thành từ Sắc và Danh Sắc là vật chất bao gồm địa, thủy, hỏa, phong Danh là tinh thần bao gồm thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (ý muốn), thức (ý thức)

Thế giới là một tập hợp vô hạn của những sự vật hiện tượng có quan hệ nhân

- quả với nhau Tư tưởng này được gọi là “thuyết nhân duyên” Mọi tồn tại phải

có nguyên nhân, không thể có nguyên nhân cuối cùng tức là không có Brahman Bác bỏ sự tồn tại của Brahmana như là tinh thần tuyệt đối, tinh thần vũ trụ, là nguyên nhân cuối cùng của vạn vật, như thế là bác bỏ tư tương cơ bản của Veda, Phật giáo bị coi là “tà” hay “phi chính thống”

Nhưng vì không có Brahman cho nên cũng không có Atman như là bộ phận của Brahman được Tư tưởng này của Phật giáo gọi là “thuyết vô ngã” (antman)

Vô ngã là không có ngã, không có “cái tôi’ Ngã chỉ là giả tạo, là sự hội tụ nhất thời của vật chất và tinh thần (“ngũ uẩn giả hợp” - sự kết hợp tạm thời của 5 yếu

tố sắc - thụ - tưởng - hành - thức)

Từ “thuyết vô ngã”, Phật giáo phát triển “thuyết vô thường”, theo đó thì không

có gì là bất biến, thường hằng, mà luôn ở trong sự thay đổi chuyển vần của Thành

- Trụ - Hoại - Không Vạn vật là Sinh - Trụ - Dị - Diệt, con người là Sinh - Lão- Bệnh - Tử

Nội dung chủ yếu của Phật giáo là quan điểm về cuộc sống của con người Nhân sinh quan Phật giáo thể hiện tập trung ở 4 nguyên lý cơ bản (“tứ diệu đế”)

Khổ (Duhkha): cuộc đời bản chất là khổ Ít nhất ai cũng có thể thấy 8 cái khổ lớn: sinh, lão, bệnh, tử, muốn mà không được, yêu nhau mà phải xa nhau, gét nhau mà phải ở gần nhau, ngụy ngã

Trang 12

12

Nhân hay Tập (Samudaya): nguyên nhân của khổ là bản chất luân hồi sống - chết Phát triể hơn nữa nhân đế, Phật giáo đưa ra 12 nguyên nhân nối tiếp nhau: vô minh, hành, thức, danh- sắc, lục nhập, thụ, ái, dục, thủ, hữu, sinh, tử

Diệt (Nỉodha): có thể giải thoát cuộc đời khỏi khổ, phải ngăn ngừa luân hồi Khi được giải thoát, con người sẽ tiêu diệt được mọi nguyên nhân của khổ và đạt được trạng thái giác ngộ, không còn luân hồi, không còn sinh tử nữa Trạng thái thong tuệ sang suốt ấy là nirvana (niết bàn)

Đạo (Marga): phương pháp hay các con đường để giải thoát Gồm 8 con đường chân chính: quan điểm đúng (chính kiến), suy nghĩ đúng (chính tư duy), lời nói đúng (chính ngữ), việc làm đúng (chính nghiệp), mưu sinh đúng (chính mệnh), cố gắng đúng (chinh tinh tiến), niềm tin đúng ( chính niệm), ý chí đúng (chính định)

2.1.2 Triết học Trung quốc cổ đại

Trung quốc cổ đại là trung quốc dưới thời “tam đại”: nhà Hạ, nhà Thương -

Ân (XVII - XI tcn) và nhà Chu (XI - 221 tcn) Nền kinh tế là nông nghiệp tự cung,

tự cấp dựa trên kỹ thuật thủ công Ruộng đất -TLSX chính thuộc quyền sở hữu nhà vua được chia cho người sử dụng và nộp thuế, các TLSX khác là sở hữu riêng Xã hôi được tổ chức theo chế độ “phong hầu kiến quốc” (phong kiến): Vua (Thiên tử) phong tước và ban đất đai cho “chư hầu” để họ tự “kiến quốc” Các nước chư hầu phải phục tùng “Thiên tử”, nếu không sẽ bị Thiên tử “chinh phạt”

Từ khoảng thế kỷ thứ VIII tcn trở đi, quyền lực nhà Chu suy yếu, các nước chư hầu nổi lên tranh giành gây chiến tranh liên miên trong suốt gần 300 năm Lịch sử gọi đây là thời kỳ “xuân thu chiến quốc” kết thúc vào năm 221(tcn) với việc Tần Thủy Hoàng thôn tính các nước và thống nhất Trung quốc Thời kỳ xuân thu chiến quốc xã hội phát triển rất sôi động, các học thuyết triết học lớn hình thành trong

Trang 13

13

thời kỳ này Đó là thời kỳ mà sử sách ghi nhận là “bách gia chư tử”, “bách gia tranh minh”, “vương hầu trọng kẻ sỹ” Chín học thuyết lớn (cửu gia) được sàng lọc và tồn tạ, cói ảnh hưởng rất lớn cho mãi đến sau này là Nho gia, Pháp gia, Đạo gia, Mặc gia, Âm dương gia, Tạp gia, Nông gia, Binh gia, Tung hoành gia

Nho gia là học thuyết nổi bật trong số các học thuyết triết học Trung quốc và

có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội không chỉ của Trung quốc

mà còn của các quốc gia phương Đông khác trong thời gian dài

Người sáng lập Nho gia là Khổng tử (551 – 480tcn) nước Lỗ (tỉnh Sơn Đông ngày nay) Thời của Khổng tử “thiên hạ đại loạn”, các nước chư hầu nổi lên lấn quyền Thiên tử, quan quan hỗn loạn, gia đình vợ chồng bất hòa, an em lộn đầu tháo thứ Xót cảnh nhân tình thế thái không hay ấy, Khổng tử muốn giúp lập lại trật tự xã hội, đem lại thái bình cho thiên hạ Ông đi nhiều nước, truyền bá tư tưởng Nhân - Lễ của mình, muốn thực hành đường lối Đức trị, nhưng không được chấp nhận Năm 68 tuổi Khổng tử về quê mở trường dạy học và viết sách Sách của Nho gia tập trung trong Tứ thư và Ngũ kinh Ngũ kinh gồm “Kinh thi”, “Kinh thư”, “Kinh dịch”, “Kinh lễ” và “Kinh Xuân thu” Trong đó Kinh xuân thu là do chính Khổng tử viết, còn 4 kinh kia là có từ trước, Khổng tử chỉ biên tập, chỉnh lý lại Còn Tứ thư gồm “Đại học” do Tăng Sâm - học trò của Khổng tử viết, “Trung dung” do Tử tư - học trò đồng thời là cháu nội của Khổng tử viết, “Mạnh tử” do Mạnh tử - học trò nổi tiếng của Khổng tử viết và “Luận ngữ” (không rõ tác giả) ghi lại các bài giảng của Khổng tử Trong quá trình lịch sử, Nho gia có những thay đổi nhất định Cần phân biệt Nho gia trước nhà Tần( Nho gia nguyên thủy), Nho gia thời nhà Hán, Nho gia thời nhà Tống

Quan niệm chính trị xã hội của Nho gia

Trang 14

Xã hôi ấy phải “Túc” tức là no đủ (Phú quý sinh Lễ Nghĩ, Tiên phú hậu giáo, Dân dĩ thực vi Thiên, Hằng sản là điều kiện của Hằng tâm)

Xã hội ấy phải “Hòa” tức là mọi người phải yêu thương đoàn kết lẫn nhau như anh em trong một nhà (tứ hải giai huynh đệ, bất hoạn nhi bần hoạn bất an)

Xã hội ấy phải công bằng (bất hoạn quả nhi hoạn bất quân)

Nho gia chủ trương cai quản đất nước bằng đạo đức (đường lối Đức trị, Lễ trị), lấy nêu gương đạo đức, thuyết phục nhân nghĩa (dĩ Đức, hành Nhân, giả Vương), coi dân không chỉ là đối tượng sai khiến, cai quản mà còn phải chú trọng đem lại

ân huệ cho dân, phải coi việc dân là quan trọng nhất (dân vi quý), vì dân là gốc nước (dân vi bang bản, bản cố bang ninh)

Quan niệm về con người và đạo đức của Nho gia xoay quanh vấn đề bản tính con người và giáo dục đạo đức cho con người Về bản tính con người các nhà Nho đều nhất trí cho rằng con người ta sinh ra với bản tính như nhau, nhưng hoàn cảnh sống, giáo dục mà có những phẩm chất khác nhau Mục đích của giáo dục là đem đến những phẩm chất tốt đẹp cho con người, nhất là “Nhân” Về cơ bản thì Nhân

có nghĩa là yêu người (nhân giả ái nhân), tuy nhiên, tùy từng trường hợp mà có nhiều biểu hiện Cha mẹ là những người thân thiết nhất của ta, đối với họ ta phải

Trang 15

15

kính yêu và biết ơn, - đó là Hiếu; anh chị em là những người ruột thịt của ta, ta phải trên kính dưới nhường, - đó là Đễ; đối với mọi người ai cũng như ta cho nên cái gì mình muốn thì làm cho người, - đó là Trung, cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người, - đó là Thứ

Theo các nhà Nho, để đạt được đức Nhân không dễ, việc tu Nhân, tích Đức phải làm thường xuyên Người đạt được đức Nhân ở mức cao nhất, mức tuyệt đối thì gọi là Thánh nhân Dưới một bậc lần lượt là Đại nhân, Quân tử và Tiểu nhân

Quan niệm về trời, mệnh trời của các nhà Nho không rõ ràng và nhất quán Đối với Khổng tử thì “Thiên” vừa có nghĩa là tự nhiên (thiên hà ngôn tai), nhưng cũng

có nghĩa là một đấng quyền năng (sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên)

2.2 Triết học phương Tây

Triết học ở phương Tây xuất hiện muộn hơn so với ở phương Đông Các tài liệu lịch sử cho thấy triết học ở phương Tây bắt đầu hình thành vào khoảng từ thế

kỷ VIII đến thế kỷ VI trước công nguyên Nhưng không chỉ khác về thời gian xuất hiện, triết học phương Tây cũng có sự khác biệt về đối tượng cũng như về phương pháp

Trước hết là về đối tượng, triết học phương Tây ưu tiên cho việc lấy tự nhiên, thế giới của các sự vật bên ngoài làm đối tượng nghiên cứu hơn là chính con người Con người có được bàn đến, nhưng chỉ với tính cách phụ thuộc, chỉ là một tồn tại bên cạnh những tồn tại khác của tự nhiên Mối quan tâm trước hết của triết học phương Tây là bản thể sự vật (substantia), sự tồn tại nói chung

Về phương pháp, triết học phương Tây dùng tư duy khoa học: tích lũy sự kiện, phân tích, phê phán một cách khách quan, trừu tượng hóa, khái quát hóa, cố gắng

Trang 16

16

tìm cách xây dựng các khái niệm, đúc rút các kết luận, các nguyên lý chung, kết nối chúng lại thành một hệ thống chặt chẽ, mạch lạc

2.2.1 Lịch sử triết học phương Tây khởi đầu từ triết học Hy- lạp cổ đại Triết

học Hy- lạp cổ đại được hình thành trong cuộc đấu tranh với thần thoại Khi mới hình thành, nó không độc lập, không tách riêng ra khỏi các tri thức khoa học, mà thực chất là đồng nhất với chúng và mang hình thức là một sự tổng hợp các tri thức khoa học nói chung Trong triết học Hi lạp cổ đại hình thành sớm các trào lưu, các khuynh hướng triết học cơ bản như chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm, biện chứng, siêu hình… Triết học Hy- lạp cổ đại rất phong phú, đa dạng, chứa đựng mầm mống của hầu như tất cả các kiểu thế giới quan sau này ở phương Tây

Các học thuyết triết học đầu tiên của Hy - lạp cổ đại là chủ nghĩa duy vật tự phát, tiêu biểu là trường phái Mileet Các nhà triết học thuộc trường phái này coi

sự thống nhất của mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên, kể cả con người là điều chắc chắn Họ cố gắng tìm cơ sở của sự thống nhất ấy trong những lực lượng có sẵn, coi cơ sở ấy là “bản chất đầu tiên” hay “bản thể” của vạn vật, “khởi nguyên”

của thế giới Nhà triết học đầu đàn của trường phái này là Thales (624 – 547.tcn)

khẳng định rằng khởi nguyên của thế giới là Nước Nước là vật chất nguyên thủy, mọi thứ đều bắt đầu từ Nước và kết thúc ở Nước Người kế tục Thales là

Anacximandre (610 -547 tcn) thì cho rằng vật chất nguyên thủy là một hỗn chất

vô cùng rối ren, không xác định (apeiron) Hỗn chất này chứa trong nó nhiều lực lượng khác nhau, đối lập nhau Từ cuộc cuộc đấu tranh của các lực lượng hỗn độn

ban đầu ấy mà vạn vật được hình thành Học trò của Anaximandre là Anaximen

(585 -525.tcn) thì lại cho rằng vật chất nguyên thủy, cơ sở chung của vạn vật là Không khí Quan niệm của các nhà triết học trường phái Mileet còn chất phác, đơn giản, nhưng đã đặt nền móng cho một khuynh hướng mà ngày nay chúng ta

Trang 17

17

gọi là nghiên cứu khoa học: giải thích thế giới bằng chính các lực lượng tự nhiên

mà không viện đến các lực lượng thần thánh

Cùng với khuynh hướng duy vật tự phát ấy, trong triết học Hy- lạp cổ đại cũng

bắt đầu những tư tưởng biện chứng đầu tiên, mà điển hình là ở Heraclit (520

-460?) Nhà triết học thành Ephese này cho rằng thế giới luôn trong trạng thái vận động: “vạn vật vừa tồn tại, vừa không tồn tại”, vì vạn vật đều trôi đi, thay đổi;

“không thể tắm hai lần trên một dòng sông” Sự chuyển hóa của vạn vật từ trạng thái này sang trạng thái khác được thực hiện thông qua cuộc đấu tranh của các mặt đối lập Theo Heraclit, đó là tính tất yếu, là quy luật phổ biến (logos) của thế giới

Những tư tưởng biện chứng của Heraclit, rõ ràng là một thành tựu Thế nhưng, đương thời, chúng chẳng những không được hiểu đúng, mà còn bị phê phán từ các

nhà triết học thuộc trường phái Elee Parmenit (cuối thế kỷ VI – V.tcn) đưa ra

quan điểm đối lập với Heraclit Parmenit quả quyết rằng sự vận động, biến đổi mà Heraclit nói đến chỉ là cái bên ngoài, do giác quan đem lại, không đáng tin cậy, không đích thực, không chắc chắn, nó hoàn toàn khác với bản chất bên trong đích thực, chỉ có thể lĩnh hội được bởi tư duy; thế giới về bản chất là bất biến Học trò

của Parmenit là Zenon (490 – 430.tcn) đưa ra các aporia (nghịch lý) nhằm chứng

minh rằng mọi sự vận động đều là vô lý Có thể nói các nhà triết học thuộc trường phái Elee mở đầu cho khuynh hướng tư duy siêu hình, hệ quả của việc đối lập một cách tuyệt đối hiện thực vật chất và hiện thực tinh thần

Chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy- lạp cổ đại được thể hiện rõ nhất trong

học thuyết nguyên tử của Democrit (460- 370 tcn) Theo thuyết này thì cơ sở vật

chất ban đầu của vạn vật là các “hạt” nhỏ bé nhất, - các nguyên tử (atomos) Có vô

số các nguyên tử luôn vận động trong “trống không” theo các hướng khác nhau Tùy thuộc vào sự tập trung hay phân tán, tụ lại hay tản ra mà có vô số các sự vật

Trang 18

18

được sinh ra hay bị tiêu diệt Sự đa dạng của các sự vật hiện tượng trong thế giới

là do số lượng, trật tự và loại nguyên tử cấu tạo nên chúng quy định Thế giới tồn tại vĩnh viễn, không được sáng tạo ra, không bị tiêu diệt Bản thân con người cũng chỉ là kết quả của sự phát triển tự nhiên; linh hồn không phải là một bản chất thần thánh đặc biệt nào, mà cũng chỉ được tạo thành từ các nguyên tử vô cùng tinh tế

và linh hoạt

Đối lập với một cách trực tiếp với chủ nghĩa duy vật của Democrit là chủ nghĩa

duy tâm của Plato (427 – 347 tcn) Theo Plato thì chỉ có các ý niệm (eidos) là tồn

tại đích thực, vĩnh cửu, còn các sự vật cụ thể là tồn tại không đích thực, nhất thời Plato tin rằng mọi vật hữu hình trong tự nhiên, tức là những thứ thuộc thế giới vật chất, đều biến đổi, nghĩa là chúng được sinh ra và mất đi Nhưng tất cả chúng đều tạo ra theo những hình thức tinh thần Những hình thức này là các ý niệm, bất biến

và vĩnh cửu, chỉ có thể lĩnh hội được bằng lý tính Các sự vật vật chất mà ta biết được bằng giác quan chỉ là “những cái bóng” của các ý niệm Nói cách khác, theo Plato, tất cả những gì ta biết được bằng giác quan không phải là cái đích thực; cái đích thực là cái mà ta chỉ có thể hiểu nhờ tư duy Theo Plato, con người là một tồn tại kép Con người có một thể xác gắn bó chặt chẽ với thế giới vật chất thường xuyên biến đổi và có cùng số phận với các sự vật khác trong thế giới đó Mọi giác quan của con người đều dựa vào thể xác này và do vậy mà không đáng tin cậy Nhưng con người còn một linh hồn bất tử, linh hồn này chính là thực tại lý tính,

có khả năng đem đến những tri thức về cái đích thực, cái bản chất, tức là các ý niệm vì chính nó là ý niệm, nó đã tồn tại trước khi nó bị giam trong nhà tù thể xác Lúc đầu, ở trong thể xác, linh hồn “quên” mất các ý niệm Bằng giác quan, con người quan sát thấy các sự vật, - “những cái bóng của ý niệm”, linh hồn bắt đầu nhớ lại Và giống như tù nhân, nó khao khát được tự do, được thoát khỏi thể xác

Trang 19

19

trở về với thế giới thực sự của nó Sự nhớ lại của linh hồn cũng chính là hành trình trở về với thế giới ý niệm, đó thực chất là quá trình nhận thức, mà mục đích cuối cùng là đạt đến các ý niệm

Democrit và Plato là hai nhà triết học lớn, tiêu biểu của Hy - lạp cổ đại có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển sau này của triết học plý tính,hương Tây Lenin cho rằng, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm về sau chỉ là sự tiếp tục “ đường lối của Democrit” và “đường lối của Plato”

Trong số những học trò xuất sắc của Plato, nổi bật là Aristotle (384 -322.tcn),

người có học vấn bách khoa, được Engels đánh giá là “bậc thầy của nhân loại thời

cổ đại” Aristotle bắt đầu quan điểm triết học của mình bằng sự phê phán chủ nghĩa duy tâm của Plato, tìm cách khắc phục sự tách rời giữa thế giới vật chất, cảm tính với thế giới ý niệm, lý tính Khẳng định sự tồn tại khách quan của vật chất, Aristotle cho rằng vật chất là vĩnh viễn, không sinh, không diệt, không tăng không giảm về lượng, không bắt đầu từ đâu, không kết thúc ở đâu Tuy nhiên về sau, Aristotle lại dao động, ít nhiều quay lại với sự thừa nhận các ý niệm như là cơ

sở thực sự của thế giới, giống như ở Plato Aristotle cho rằng, tự bản thân mình vật chất là thụ động, nó chỉ chứa đựng khả năng hình thành các sự vật hiện tượng

đa dạng, - giống như tảng đá chứa đựng những khả năng trở thành các tác phẩm điêu khắc khác nhau Để cho khả năng này trở thành hiện thực, vật chất cần đến một hình thức thích hợp Aristotle coi hình thức như là một tác nhân tích cực, sáng tạo, có trước sự vật, nhờ đó mà sự vật từ chỗ là khả năng đã trở thành hiện thực Hình thức, đó là động cơ và mục đích, là hình mẫu tinh thần, là nguyên nhân hình thành nên các sự vật hiện tượng đa dạng từ cùng một nguyên liệu là vật chất; còn vật chất như là đất sét, để từ đất sét này xuất hiện các sản phẩm gốm đa dạng, thì phải cần đến người thợ gốm Mọi vật đều cần đến hình thức Hình thức cao nhất là

Trang 20

20

Thượng đế, được coi như là hình thức của mọi hình thức, là nguyên nhân cuối cùng và cũng đồng thời là khởi đầu của thế giới Như vậy, Aristotle đã tách hình thức ra khỏi sự vật và biến nó thành một bản thể độc lập, tương tự như các ý niệm

ở Plato Có thể nói, về mặt bản thể luận,triết học của Aristotle là chủ nghĩa duy vật duy vật không triệt để Tuy vậy trong nhận thức luận, Aristotle đứng vững trên lập trường duy vật Plato cho rằng mọi thứ mà giác quan của chúng ta thấy được chỉ là sự phản chiếu của một hiện thựcc cao hơn là các ý niệm trong linh hồn con người Ngược lại, Aristotle cho rằng những gì trong linh hồn con người chỉ là những hình ảnh phản chiếu các sự vật trong tự nhiên đem lại cho con người trong cảm giác; không có cái gì tồn tại trong ý thức mà trước đó chưa được trải nghiệm bằng giác quan Aristotle khẳng định rằng mọi suy nghĩ và ý niện của chúng ta đã đến với ý thức thông qua những gì mà trước đó ta đã tri giác Nhưng con người còn có năng lực lý luận bẩm sinh, tức là năng lực sắp xếp và phân loại tất cả những tài liệu do giác quan đem lại, trừu tượng hóa và khái quát hóa chúng để hình thành nên các khái niệm Học thuyết của ông về các khái niệm chung nhất hay các phạm trù là một đóng góp to lớn đối với lý luận nhận thức Aristotle là người sáng lập nên môn khoa học về các hình thức và các quy luật cơ bản của tư duy, tức là môn logic học

Aristotle là nhà triết học lớn cuối cùng của Hy - lạp cổ đại Ông qua đời năm 322.tcn, khi Athens đã mất vai trò thống trị của nó Đó chủ yếu là do những biến động chính trị bắt nguồn từ những cuộc chinh phục của Alexander xứ Macedonia (Alexander Đại Đế 356 - 323) Sau nhiều cuộc chinh phục (“đến, thấy và chiến thắng”), Alexander nối cả Ai- cập và miền đất phương Đông xa xôi đến tận Ấn-

độ vào với nền văn minh Hy - Lạp Đó là một kỷ nguyên mới kéo dài 300 năm và được gọi là thời kỳ Hy - lạp hóa (Hellenisation, Hellenism), một thời kỳ mà văn

Ngày đăng: 25/07/2014, 09:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w