1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ÔN THI CAO HỌC MÔN TRIẾT HOÀN CHỈNH

36 425 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 232 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Định nghĩa này nó giải quyết 1 cách triệt để các vấn đề cơ bản của triết học: “Tức là mối quan hệ giữa vật chất với ý thức và khả năng nhận thức thế giới của con người”.. Ý nghĩa phươn

Trang 1

BÀI SOẠN ÔN TẬP TRIẾT HỌC

Câu 1: Phân tích định nghĩa của Lê nin, ý nghĩa khoa học của định nghĩa?

* Định nghĩa của Lê nin:

- Phạm trù vật chất và phạm trù ý thức là những phạm trù cơ bản của triết học Phạm trù vật chất là nền tảng của chủ nghĩa duy vật Nó chứa đựng nội dung thế giới quan và phương pháp luận rất khái quát và sâu sắc

- Xung quanh phạm trù vật chất đã có nhiều cách lí giải khác Điều đó lệ thuộc vào trình độ nhận thức của loài người Chính vì vậy mà trong lịch sử triết học xung quanh phạm trù này đã có nhiều cách hiểu khác:

+ Trong triết học Hy Lạp cổ đại người ta thường quy vật chất vào những dạng cụ thể nào đó, tức là những dạng vật thể hữu hình mà người ta có thể nhận biết nó bởi cơ quan cảm giác, chẳng hạn Talét cho rằng: “Thế giới này là do nước tạo thành Nước là khởi nguyên của mọi vật”

Cũng trong thời kì cổ đại 1 số nhà triết học nhận thức phạm trù vật chất ở mức độ khái quát hơn, trừu tượng hóa hơn, chẳng hạn Hêra clít cho rằng: “Thế giới này do lửa tạo nên (lửa vũ trụ)” Đê mô crít lại cho rằng: “Thế giới này là do nguyên tử tạo nên”.Ông nói:

“Sở dĩ sự vật tồn tại đa dạng, phong phú nhiều vẻ là do nguyên tử khác, và hình dạng, vị trí, thứ tự sắp xếp, kích thước khác”

+ Bước sang thời kì Phục hưng thế kỉ XV, XVI Khoa học tự nhiên phát triển vượt bậc đạt được những thành tựu hết sức to lớn, một số ngành như thiên văn học đã có những bước tiến đáng kể, nó tiếp tục củng cố thế giới quan duy vật sự sáng tạo ra kính viễn vọng Vì thế mà nói thế giới này là thế giới vật chất

+ Bước sang thế kỉ XVII, XVIII Khoa học tiếp tục phát triển, đặc biệt là khoa học thực nghiệm Trong thời kì này chủ nghĩa duy vật phát triển mạng ỏ Anh (TK XVII), Pháp (TK XVIII) Chủ nghĩa duy vật thời kì này đã dựa trên những thành tựu khoa học tự nhiên nhất là cơ học, sinh học, thiên văn học Do đó trong thời kì này sự phát triển của

Trang 2

chủ nghĩa duy vật đã có cơ sở khoa học của nó chính là khoa học tự nhiên, chứ không phải là “phỏng đoán thiên tài như trước đây”.

Nhưng nhược điểm lớn nhất của của CNDV thời kì này là tính chất máy móc siêu hình của nó Người ta thường quy vật chất vào một thuộc tính nào đó của phạm trù vật chất, chẳng hạn khối lượng, trọng lượng Ngoài ra CNDV trong thời kì này không thấy được mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng khác Mà nhìn chúng tách biệt cô lập, điều mà như Ăng ghen nói: “Chỉ thấy cây mà không thấy rừng” Hơn nữa CNDV trong thời kì TK XVII, XVIII nhìn chung thiếu triệt để nghĩa là họ chỉ duy vật trong tự nhiên và trong xã hội phần lớn rơi vào quan điểm duy tâm

+ Sang TK 19 nửa đầu tk 20 khoa học tự nhiên đạt được những thành tựu mới mà đặc biệt là vật lí học, sinh học Chính những thành tựu này là cơ sở tự nhiên để củng cố thế giới quan duy vật

 Năm 1895 người ta phát hiện ra tia x quang

 Năm 1896 người ta phát hiện ra hiện tượng phóng xạ điều này chứng tỏ nguyên tử không phải là hạt vật chất nhỏ nhất mà nó vẫn có thể phân chia được

 Năm 1897 người ta phát hiện ra điện tử và chứng minh được rằng điện tử là 1 trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử

 Những thành tựu đó của vật lí học hiện đại đã trực tiếp đến quan điểm triết học, 1

số nhà khoa học tỏ ra dao động và họ chuyển từ lập trường duy vật sang lập trường duy tâm

+ Đứng trước cuộc “khủng hoảng vật lí họcđó Lê nin đã khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên, kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa duy vật và đưa ra những kết luận có tính chất phương pháp luận, để củng cố thế giới quan cho các nhà khoa học Lê nin viết rằng: “điện tử cũng vô cùng như nguyên tử, tự nhiên là vô tận” Luận điểm này có 1 ý nghĩa cực kì sâu sắc trong việc củng cố thế giới quan duy vật cho các nhà khoa học tự nhiên Kế thừa những thành tựu của lịch sử tư tưởng triết học nhân loại, kế thừa tư tưởng Mác và Ăng ghen, dựa trên cơ sở của những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời Lê nin đã đưa ra định nghĩa có tính chất kinh điển về phạm trù vật chất như sau:

Trang 3

 Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh

và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Định nghĩa này bao gồm những nội dung

* Ý nghĩa khoa học của định nghĩa:

- Định nghĩa vật chất của Lê nin có vai trò định hướng cho sự phát triển của khoa học:

- Định nghĩa này giúp cho chúng ta xác định được trong đời sống xã hội đâu là vật chất, đâu là ý thức tinh thần tư tưởng

- Định nghĩa này là cơ sở lí luận giúp chúng ta giải thích được sự vận động biến đổi phát triển của xã hội loài người Nhất là sự vận động phát triển phương thức sản xuất

- Định nghĩa này khắc phục được tính chất siêu hình trực quan trong các quan niệm vật chất của CNDV trước đó

- Định nghĩa này nó giải quyết 1 cách triệt để các vấn đề cơ bản của triết học: “Tức là mối quan hệ giữa vật chất với ý thức và khả năng nhận thức thế giới của con người”

- Định nghĩa này chống lại thuyết không thể biết, quan điểm siêu hình, bệnh chủ quan, duy ý chí

Câu 2: Nguồn gốc, bản chất ý thức:

- Vấn đề nguồn gốc của ý thức cho đến nay có nhiều cách hiểu khác CN duy tâm,

CN duy vật xuất phát từ quan điểm triết học của mình đã giải thích vấn đề này 1 cách khác:

Trang 4

- Triết học Mác xuất phát từ việc kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được trước đó trên cơ sở khái quát những thành tựu khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh đã giải thích 1 cách khoa học nguồn gốc cũng như bản chất của ý thức.

- Triết học Mác cho rằng ý thức ra đời từ 2 nguồn gốc đó là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội

* Nguồn gốc tự nhiên: Khi nói đến nguồn gốc tự nhiên chúng ta phải nói đến

bộ óc con người, và sự phản ánh thế giới khách quan của thế giới con người

+ Triết học Mác cho rằng, ý thức là 1 thuộc tính của 1 dạng vật chất sống có tổ chức cao đó là óc con người Ý thức là chức năng của bộ óc con người

+ Hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người, do đó chúng ta không thể tách ý thức ra khỏi hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người

+ Trong bộ óc người quá trình ý thức luôn luôn phải gắn với quá trình sinh lý vì đây là 2 mặt của 1 quá trình, nó luôn phải thống nhất, gắn bó với nhau

+ Ngoài ra khi nói đến nguồn gốc tự nhiên chúng ta phải nói đến quá trình phản ánh hiện thực khách quan của bộ óc con người Nếu không có quá trình này thì ý thức không thể hình thành được Phản ánh là 1 đặc tính của vật chất và đặc tính phản ánh này

nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của các hình thức hoạt động của vật chất Hệ thống vật chất có tổ chức càng phức tạp thì năng lực phản ánh càng cao Ở mức độ khái quát nhất, chúng ta có thể phân chia phản ánh của thế giới vật chất thành 2 loại:

 Loại thứ nhất: Phản ánh trong giới tự nhiên vô sinh, phản ánh vật lý, phản ánh hoá học

 Loại thứ hai: Phản ánh trong giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học

* Nguồn gốc xã hội có người lao động và ngôn ngữ: Đây là 2 sức kích thích chủ yếu làm bộ óc con vượn thành bộ óc con người

 Lao động có vai trò hết sức quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của con người trong đó có ý thức

 Cũng nhờ lao động mà ngôn ngữ hình thành và phát triển Không có 2 quá trình này thì ý thức không thể xuất hiện được, chính ngôn ngữ đã giúp cho con người có khả năng khái quát hoá, trừu tượng hoá những sự vật, hiện tượng

Trang 5

riêng lẻ để hình thành nên các khái niệm, các phạm trù, chính vì vậy mà Mác nói rằng: “Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực tiếp của tư duy”.

* Bản chất ý thức:

 Chủ nghĩa duy tâm cường điêuh tính năng động, săng tạo của ý thức đến mức

họ cho rằng ý thức sinh ra vật chất, ý thức quyết định vật chất

 Các nhà duy vật trước Mác tuy không tuyệt đối hoá vai trò ý thức như các nhà duy vật này cho rằng ý thức là sản phẩm của vật chất có kết cấu tổ chức cao đó

là bộ óc của con người Nhưng nhược điểm của họ ở chỗ họ không thấy được vai trò tích cực chủ động, sáng tạo của ý thức mà cho rằng sự phản ánh ý thức

là sự phán ánh thụ động, giản đơn, máy móc

 CNDV biện chứng, hay triết học duy vật Mác, khác với những quan điểm trên đây, triết học Mác cho rằng: “Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào

bộ óc con người 1 cách tích cực, chủ động, sáng tạo”

 Điểm xuất phát để hiểu bản chất của ý thức là phải thừa nhận ý thức là cái phản ánh còn vật chất là cái được phản ánh Cái được phản ánh tồn tai khách quan, độc lập với cái phản ánh

 Ý thức con người phản ánh hiện thực khách quan tuân theo những quy luật của

nó chứ đây không phải là sự sao chép giản đơn, thụ động thế giới khách quan

 Ý thức là 1 hiện tượng xã hội, nó bắt nguồn từ thực tiễn xã hội loài người, nó phản ánh những quan hệ xã hội khách quan về mặt kết cấu của ý thức có thể có cách tiếp cận khác:

+ Cách thứ nhất: Tiếp cận theo chiều ngang Ý thức nó bao gồm: Tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý trí trong đó tri thức là quan trọng nhất

+ Cách thứ hai: Tiếp cận theo chiều dọc Cao nhất từ ý thức đến tiềm thức, từ tiềm thức, vô thức đến ý thức là cái quan trọng nhất

Câu 3: Quan hệ giữa vật chất, ý thức Ý nghĩa phương pháp luận của việc nắm vững mối quan hệ này?

* Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:

Trang 6

- Đây là 1 trong những mối quan hệ phức tạp mà lịch sử triết học đã có những cách lí giải khác Đó là quan điểm của CNDV , quan điểm của CN duy tâm, quan điểm của những người trong trường phái nhị nguyên luận

+ Các nhà triết học duy vật cho rằng vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức

+ Ngược lại những người theo quan điểm duy tâm thì lại cho rằng ý thức là cái có trước, ý thức quyết định vật chất

Chủ nghĩa duy tâm chia thành hai trường phái:

 Những nhà triết học duy tâm khách quan cho rằng: Thế giới vật chất này là do “ý niệm” (Platôn) hay là do “ý niệm tuyệt đối”(Hê ghen) sinh ra

 Trong khi đó các nhà duy tâm chủ quan cho rằng: Sự vật hiện do cảm giác chúng

ta tạo thành hay sự phức hợp của cảm giác (Bec cơ li)

+ Những người theo trường phái nhị nguyên luận thì cho rằng: Vật chất sinh ra vật chất, ý thức sinh ra ý thức, giữa chúng không có liên hệ gì với nhau, nếu có thì chỉ là mối liên hệ bề ngoài mà thôi

+ Triết học Mác khẳng định rằng vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức (đưa qđiểm phạm trù vchất, bản chất ý thức đã nêu ở trên)

Khác với CNDV TK 17, 18 triết học Mác chỉ ra tính độc lập tương đối của ý thức, tính năng động, sáng tạo của ý thức Đây là sự khác nhau căn bản, khác nhau về vật chất giữa CNDV biện chứng với các quan niệm duy vật khác

Tính độc lập tương đối ý thức, sự tác động ý thức thông qua hoạt động thực tiễn của con người Ý thức của con người có tác dụng tích cực làm biến đổi hiện thực theo ý muốn của con người Ý thức chỉ đạo thực tiễn của con người hình thành mục tiêu kế hoạch cho hoạt động của con người

Trong những điều kiện và những giới hạn nhất định ý thức sẽ nhân sức mạnh vật chất lên nhiều lần

Ví dụ: Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ: So về sức mạnh vật chất thì chúng

ta thua địch nhưng về ý thức , tinh thần tư tưởng nhân lên gấp bội mà chúng ta đã thắng địch Nhưng bản thân ý thức tinh thần tư tưởng không thôi thì không thể thực hiện được

Trang 7

Ý thức tinh thần tư tưởng muốn thực hiện được thì nhất định phải sử dụng lực lượng vật chất, nghĩa là nó phải thâm nhập vào những con người thực hiện thực tiễn Chính vậy Mác nói rằng: “Mỗi khi lí luận xâm nhập vào quần chúng nó sẽ trở thành vật chất” Còn

Lê nin nói rằng: “Không có lí luận CM sẽ không có phong trào CM”

Khi nghiên cứu mqhệ vật chất - ý thức chúng ta thấy rằng ý thức có tính độc lập tương đối, có tính năng động, tích cực, sáng tạo Nhưng chúng ta không được tuyệt đối hoá vai trò ý thức

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Xuất hiện từ chỗ vật chất là cái có trước, vật chất quyết định ý thức cho nên trong nhận thức và hoạt động mọi việc phải xuất phát từ thực tế khách quan, không được lấy ý muốn chủ quan thay thế ý muốn khách quan

- Tại Đại hôi lần 6 của Đảng tháng 12/1986 Đảng ta đã chỉ ra 1 số khuyết điểm, sai lầm trong đó chúng ta đã vi phạm quy luật khách quan, không tôn trọng khách quan, đã chủ quan duy ý chí, những chủ quan này đã để nặng nề cho xã hội từ chỗ nhận thức được những khuyết điểm, những sai lầm đã rút ra 1 số bài học kinh nghiệm 1 trong những bài học đó là: Mọi việc đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải tôn trọng khách quan

- Đến cương lĩnh ĐH 7 năm 1991 cho dù chúng ta đã có những cố gắng nỗ lực trong việc khắc phục những quan điểm sai lầmmà ĐH 6 đã đề ra nhưng sự khắc phục ấy vẫn chưa triệt để Cương lĩnh ĐH 7 chỉ rõ Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan Từ đó đến nay vấn đề này từng bước đã được khắc phục

- Do ý thức có tính độc lập tương đối, năng động, sáng tạo, chính vì vậy trong nhận thức chúng ta phải phát huy sức mạnh, tinh thần, tư tưởng, phải biết đề ra cương lĩnh, đường lối khoa học phù hợp với thực tiễn và phải đưa đường lối thâm nhập vào cuộc sống, biến nó trở thành hiện thực

- Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của việc vận dụng mqhệ này là chỗ Đảng

ta lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững ngoài ra Đảng ta còn chủ trương xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội Trong văn hoá thì văn hoá phi vật thể thuộc về lĩnh vực tinh thần, tư tưởng, đòi hỏi chúng ta phải phát huy nó

Trang 8

- Tuy ý thức có tính độc lập tương đối nhưng chúng ta không được tuyệt đối hoá

nó, nếu tuyệt đối hoá sẽ rơi vào quan điểm duy tâm Đồng thời không để tuyệt đối hoá vai trò của vật chất vì nếu như vậy trong đời sống xã hội dễ dẫn đến chủ nghĩa duy kinh tế (chỉ biết về kinh tế)

Câu 4: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ này:

* Nội dung về mối liên hệ phổ biến:

 Nhìn vào thế giới chúng ta thấy các sự vật, hiện tượng tồn tại 1 cách đa dạng, phong phú, nhiều vẻ vậy giữa chúng có mối liên hệ gì với nhau hay không? Trong lịch sử triết học về cơ bản có 2 cách trả lời khác nhau về vấn đề này:+ Các nhà siêu hình học thì cho rằng: Các sự vật, hiện tượng không có gì liên

hệ với nhau và nếu có thì cũng chỉ là mối liên hệ bề ngoài mà thôi Đó là 1 phương pháp tư duy như Ăng ghen nói “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”.+ Những người theo quan điểm biện chứng thì cho rằng tuy các sự vật, hiện tượng tồn tại 1 cách đa dạng, nhiều vẻ nhưng giữa chúng có mối liên hệ với nhau, tác động qua lại Tuy nhiên, giữa những nhà triết học duy vật và những nhà triết học duy tâm giải quyết vấn đề này cũng khác

 Nhà biện chứng duy tâm khách quan người Đức (Hê ghen) cho rằng: Cơ sở của mối liên hệ này là do “ý niệm tuyệt đối” quy định

 Ngược lại, các nhà biện chứng duy vật cho rằng: Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới là cái vốn có của thế giới vật chất Chính vì thế mà mối liên hệ này khách quan chứ không phải là ??? chủ quan của con người

* Đặc điểm cơ bản của mối liên hệ phổ biến:

 Thứ nhất: Tính khách quan của mối liên hệ phổ biến

Điều này muốn nói rằng mối liên hệ của sự vật, hiện tượng là cái vốn có của sự vật hiện tượng Nó được quy định bởi tính thống nhất, vật chất của thế giới không phải là sản phẩm của tư duy con người tạo ra hay ý niệm tuyệt đối chi phối như cách lý giải của Hê ghen

 Thứ hai: Tính phổ biến của mối liên hệ.

+ Nó diễn ra ở nhiều sự vật, hiện tượng có cả trong tự nhiên, trong xã hội

và trong cả tư duy

Trang 9

+ Trong tự nhiên đó là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, đó

là quá trình phát triển của giống loài

+ Trong xã hội đó là mối liên hệ kinh tế - chính trị, quan hệ giữa các giai cấp

+ Trong tư duy đó là mối liên hệ giữa các khái niệm, phán đoán, phạm trù,

là mối liên hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

 Thứ ba: Tính đa dạng của mối liên hệ.

+ Sở dĩ như vậy vì sự vật, hiện tượng tồn tại 1 cách đa dạng, phong phú, nhiều vẻ cho nên mối liên hệ này cũng đa dạng, phong phú, nhiều vẻ như chính bản thân của sự vật, hiện tượng, do đó có mối liên hệ bên trong, bên ngoài, có mối liên hệ chủ yếu, thiết yếu, bản chất, không bản chất

+ Những hình thức riêng biệt cụ thể của từng mối liên hệ là đối tượng nghiên cứu của từng nhành khoa học cụ thể Còn phép biện chứng duy vật thì nghiên cứu mối liên hệ chung nhất, phổ biến nhất của thế giới Chính vì vậy, Ăng ghen nói rằng: “phép biện chứng là khoa học của mối liên hệ phổ biến”

* Ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ này:

Từ sự nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến cho phép chúng ta rút ra quan điểm toàn diện trong việc xem xét nhận thức các sự vật, hiện tượng cũng như trong hoạt động thực tiễn Quan điểm này có mấy yêu cầu sau đây:

 Phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ với sự vật, hiện tượng khác, không được tách sự vật hiện tượng này ra khỏi sự vật hiện tượng khác Điều này sẽ giúp cho chúng ta tránh dược những sai lầm cứng nhắc trong việc xem xét, nhận thức các sự vật, hiện tượng Quan điểm này đòi hỏi chúng ta khi xem xét 1 sự vật, hiện tượng nào đó thì phải bao quát tất cả các mặt, các thuộc tính của sự vật, hiện tượng đó, không được phiếm diện trong việc đánh giá sự vật, hiện tượng

 Khi xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả mối liên hệ chúng đòi hỏi chúng

ta phải phát hiện được đâu là mối liên hệ bản chất, mối liên hệ ý nghĩ quyết định đến sự vận động và phát triển, đâu là mối liên hệ ảnh hưởng đến sự vật

đó trên cơ sở đó tìm cách giải quyết Điều này sẽ tránh được tư tư tưởng dàn đều, dàn trải, biết chú ý đến trọng tâm, trọng điểm

Trang 10

Câu 5: Nội dung và ý nghĩa của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.

* Vị trí của quy luật này: Đây là 1 trong 3 quy luật của phép biện chứng duy

vật Quy luật này nói lên nguồn gốc, động lực bên trong của mọi sự biến đổi Lê nin gọi quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng

* Nội dung của quy luật này:

- Nội dung của quy luật mâu thuẫn thống nhất và đấu tranh giưã các mặt đối lập được thể hiện thông qua việc nghiên cứu các phạm trù cuả nó

+ Mâu thuẫn là 1 hiện tượng khách quan phổ biến, điều này muốn nói rằng: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng mâu thuẫn Mỗi sự vật, hiện tượng đều

là 1 thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính đối lập nhau nhưng lại liên hệ, ràng buộc nhau tạo thành mâu thuẫn Các mâu thuẫn này là cái vốn có của sự vật, hiện tượng chứ không phải là sáng tạo thuần tuý của tư duy cho nên nó là cái khách quan

+ Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:

 Mặt đối lập: Là phạm trù dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những khuynh hướng, biến đổi trái ngược nhau, tồn tại 1 cách khách quan trong cùng 1 sự vật hay trong cùng 1 hệ thống sự vật tác động qua lại với nhau gây nên sự vận động, biến đổi Chăng hạn: Đồng hoá và dị hoá, biến dị và di truyền, đấu tranh giai cấp

 Mâu thuẫn: Chính các mặt đối lập nằm trong 1 chỉnh thể có liên hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại với nhau mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình đã tạo nên mâu thuẫn

+ Sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối còn sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối bởi vì các mặt đối lập này luôn luôn có khuynh hướng đối lập nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau cho nên đấu tranh là tuyệt đối Nhưng mặt khác, các mặt đối lập cũng phải nương tựa vào nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình, cho nên nó phải thống nhất với nhau nhưng thống nhất này là tương đối, tạm thời, thoáng qua

Trang 11

– Phân loại mâu thuẫn: Do hiện tượng, sự vật tồn tại 1 cách đa dạng, phong phú, do các mâu thuẫn phong phú nhiều vẻ cho nên có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản và không

cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu, có mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn riêng,

có đặc trưng của xã hội loài người, là mâu thuẫn giai cấp, tập đoàn người, khuynh hướng xã hội có lợi ích đối lập nhau

Ví dụ: Nô lệ - địa chủ; nông nô với chủ nghĩa phong kiến

Nội dung thực chất của quy luật này là: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân mình Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo thành ??? nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn đến sự mất đi của cái cũ, sự ra đời của cái mới

* Ý nghĩa của quy luật:

- Nghiên cứu quy luật mâu thuẫn chúng ta rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau:

 Thứ nhất: Quy luật mâu thuẫn vạch ra ngồn gốc, động lực bên trong của mọi vận động, phát triển, quy luật này cho chúng ta biết sự vận động phát triển do đâu? từ đâu mà có?

 Thứ hai: Khi phân tích quy luật phải xem xét toàn quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đối lập trên cơ sở đó chúng ta tìm biện pháp để chúng ta giải quyết đồng thời chính là phát hiện mâu thuẫn

để tìm biện pháp giải quyết

 Thứ ba: Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có điều kiện chín muồi,

vì vậy không dược giải quyết vội vàng chủ quan, cục bộ

 Thứ tư: Mâu thuẫn chỉ được giải quyết bằng con đường đấu tranh giữa các mặt đối lập chứ khống phải bằng con đường điều hoà giữa chúng Đây là khác nhau về nguyên tắc giữa những người cách mạng

và những người cải lương

- Nghiên cứu các quy luật mâu thuẫn chúng ta thấy các mâu thuẫn khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật Chính vì vậy chúng ta phải chống quan điểm dàn trải, đồng đều khi xem xét giải quyết các mâu thuẫn

Trang 12

Câu 6: Nội dung, ý nghĩa từ sự thay đổi về lượng dẫn đến những

sự thay đổi về chất và ngược lại:

* Nội dung của quy luật lượng, chất:

* Khái niệm chất: Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan

vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất của các thuộc tính, làm cho nó là nó và phân biệt nó với những cái khác

* Khái niệm lượng: Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy luật vốn có của

sự vật biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của

sự vật cũng như các thuộc tính của nó

- Như vậy: Chất và lượng đều chỉ tính quyết định vốn có của sự vật, hiện tượng nhưng chất khác lượng ở chỗ: Chất nói lên nó là nó, nó khác với cái khác như thế nào?, lượng thì chưa Lượng chỉ là những thông số giúp cho chúng ta hiểu được quy mô trình độ phát triển của sự vận động phát triển cua sự vật hiện tượng.Biểu thị của lượng

có thể là những con số chính xác và mang tính rời rạc ví dụ: 5 người, 5 cái bàn, 7 cái ghế nhung cũng có khi nó biểu thị dưới dạng đại lượng mang tính liên tục ví dụ: Bình 50 lít nước, 1 phòng có 50m3 Ngoài ra lượng vẫn còn tồn tại ở dạng trừu tượng, khái quát ví dụ: Năng lực công tác của cán bộ

- Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất:

+ Mỗi 1 sự vật hiện tượng có chất và lượng, trong quá trình vận động 2 mặt này không tách rời nhau và chúng dược giới hạn trong 1 phạm vi nhất định, phạm vi ấy chính là độ

+ Độ là phạm trù triết học dùng chỉ sự thống nhất giữa chất và lượng, nó là khoảng giới hạn trong đó sự thay về lượng ??? làm thay đổi căn bản về chất và sự vật Ví dụ: Nước ở thể lỏng từ 1 – 900c nếu 1000c nước ở trạng thái hơi, nhưng nếu < 10c nước trở thành thể rắn do sự thay đổi về nguyêntử gọi là độ

+ Những điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã làm cho sự thay đổi về chất được gọi là điểm nút

Trang 13

+ Bước nhảy là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hoá về chất của sự

vật do những thay đổi về độ trước đó gây ra Ví dụ: Sự ra đời của CNTB là 1 chất

mới so với xã hội phong kiến CNTB tạo ra được 1 khối lượng sản phẩm lớn hơn nhiều so với xã hội phong kiến Vậy điểm nút ở đây là chủ nghĩa phong kiến chuyển sang CNTB Cụ thể là cuộc cách mạng tư sản

+ Khi nghiên cứu bước nhảy người ta thấy rằng có những bước nhảy diễn ra 1 cách

nhanh chóng, nhung cũng có những bước nhảy diễn ra 1 cách từ từ Ví dụ: Các cuộc

cách mạng tư sản đột biến, quá trình tiến hoá loài người là bước nhảy từ từ, dần dần + Còn về quy có những bước nhảy toàn bộ, có những bước nhảy cục bộ Bước nhảy toàn bộ làm thay đổi về chất, thay đổi các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật ví dụ như hình thái kinh tế xã hội này – hình thái kinh tế xã hội khác: Trong 1 hình thái kinh tế xã hội có sự thay đổi về kinh tế, nhưng xã hội thì không hoặc trong kinh tế có thể thay đổi 1 ngành Từ sự phân tích trên chúng ta có thể rút ra nội dung

cơ bản của quy luật này là bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng

Sự thay đổi về chất dẫn đến sự thay đổi về lượng, nếu vượt quá giới hạn độ làm cho

sự vật, hiện tượng cũ mất đi, sự vật hiện tượng mới ra đời Chất với lượng tác động qua lại với nhau làm cho sự vật tiếp tục vận động biến đổi Sự biến đổi của chất và lượng mới làm cho sự vật hiện tượng thay đổi, sẽ tạo ra sự thay đổi, biến đổi mới cứ như vậy sự vật ở trong quá trình biến đổi không ngừng

+ Trong phép biện chứng duy vật quy luật này nói nên cách thức sự vận động biến đổi

* Ý nghĩa từ sự thay đổi về chất dẫn đến sự thay đổi về lượng.

- Thứ nhất: Để có tri thức đầy đủ về sự vật, hiện tượng đòi hỏi chúng ta phải ??? cả mặt chất và mặt lượng bởi vì đây là 2 yếu tố cấu thành Điều này có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc đánh giá tiến bộ xã hội

- Thứ hai: Giữa thay đổi và sự thay đổi về chất có mối quan hệ biện chứng với nhau, điều đó đòi hỏi chúng ta phải hiểu đúng đắn vị trí, vai trò của từng mặt, trong sự phát triển phải biết kịp thời chuyển ??? Sự thay đổi về lượng sang sự thay đổi về chất, từ tiến hoá sang CM Trong cuộc sống hàng

Trang 14

ngày, chúng ta muốn có sự thay đổi về chất nhất thiết chúng ta phải có sự thay đổi về lượng Nếu không có sự thay đổi về lượng khó có sự thay đổi về chất.

- Thứ ba: Nghiên cứu các bước nhảy đòi hỏi chúng ta phải chống tư tưởng tả khuynh, chủ quan nóng vội muốn có sự thay đổi về chất ngay khi chưa có

đủ sự thay đổi về lượng Chống tư tưởng tả khuynh, bảo thủ

- Thứ tư: Công nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay có ý nghĩa như 1 quá trình mang tính cách mạng, việc thay đổi trên từng lĩnh vực sẽ góp phần tạo bước nhảy về chất trong toàn bộ xã hội nói chung Đảng ta đã khẳng định những thành công chúng ta đạt được sau 20 năm đổi mới có ý nghĩa to lớn, có ý nghĩa lịch sử Điều đó chúng ta đã có được những sự thay đổi rất cơ bản về lượng, chuẩn bị cho sự thay đổi về chất

Câu 7: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:

đích mang tính lịch sử và xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Trong định nghĩa này chúng ta cần lưu ý 3 điểm sau đây:

 Thực tiễn là những hoạt động vật chất cảm tính, nghĩa là: hoạt động này nó phải sử dụng lực lượng vật chất và chúng ta có thể nhận biết hoạt động thực tiễn bởi các cơ quan cảm giác của chúng ta

 Hoạt động thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội Điều này khẳng định trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau thì hình thức hoạt động thực tiễn có những biểu hiện khác nhau Ví dụ: Cùng là lao động sản xuất vật chất trong xã hội chiếm hữu nô lệ khác với lao động vật chất trong phong kiến tư bản

 Hoạt động thực tiễn mang tính xã hội, là của tập đoàn người chứ không phải của 1 cá nhân riêng lẻ nào

- Có 3 hình thức hoạt động thực tiễn cơ bản sau đây:

 Thứ nhất: Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hình thức hoạt động thực tiễn cơ bản nhất, chủ yếu nhất Không có hình thức hoạt động này thì con người không thể tồn tại, phát triển được Chính vì vậy Mác và Ăng ghen nói rằng: “Một dân tộc sẽ chết đói nếu ngừng lao động, tôi không nói trong 1 năm mà chỉ trong 1 vài tuần thôi”

Trang 15

 Thứ hai: Hoạt động chính trị xã hội cải tạo cách mạng Hình thức hoạt động này sẽ thúc đẩy xã hội phát triển, chuyển xã hội từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác.

 Thứ ba: Hình thức thực nghiệm khoa học Hình thức hoạt động này giúp cho con người khám phá đối tượng tự nhiên, phục vụ cho lợi ích của con người

* Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:

- Nghiên cứu bản chất của nhận thức chúng ta thấy rằng thực tiễn có vai trò hết sức to lớn đối với quá trình nhận thức của con người, vai trò đó thể hiện

ở những nội dung cơ bản sau:

 Thực tiễn là cơ sở của nhận thức, suy cho cùng nhận thức bắt nguồn

từ thực tiễn, không có thực tiễn sẽ không có nhận thức Thực tiễn đề

ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức Ăng ghen từng viết rằng: “Khi xã hội có nhu cầu về kĩ thuật thì nhu cầu này thúc đẩy khoa học hơn 10 trường Đại học” Ngoài ra thực tiễn còn cung cấp vật liệu cho nhận

thức Không có những vật liệu do thực tiễn cung cấp thì chúng ta sẽ không nhận thức về đối tượng

 Thực tiễn là mục đích của nhận thức, điều này muốn nói rằng nhận thức của con người là phải hướng vào thực tiễn, quay trở lại thực tiễn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn Chứ nhận thức không phải chỉ để nhận thức 1 cách đơn thuần Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa khi được áp dụng vào thực tiễn nếu lý luận những phát minh không được áp dụng vào thực tiễn góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển thì

nó cũng trở nên thường

 Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chất lượng Nhận thức của con người muốn biết đúng sai thì phải quay về thực tiễn, chính trong thực tiễn con người phải chứng minh chân lý.Tiêu chuẩn chân lý vừa

có tình tương đối vừa có tính tuyệt đối bởi vì nó là tiêu chuẩn khách quan có thể xác nhận chân lý Nó là tương đối bởi vì thực tiễn luôn luôn vận động biến đổi làm cho nhận thức vận động và biến đổi

Trang 16

theo Một điều đáng lưu ý khi chúng ta nói thực tiễn của chân lý không có nghĩa là nó là tiêu chuẩn duy nhất bởi vì còn có những quy luật logic của quá trình nhận thức Tuy nhiên tiêu chuẩn logic này không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tế được Xét cho đến cùng tiêu chuẩn logic này vẫn thuộc thực tiễn.

- Ý nghĩa của việc nghiên cứu phạm trù thực tiễn: Nghiên cứu phạm trù thực tiễn và vai trò của nó đối với quá trình nhận thức cho phép chúng ta rút ra quan điểm thực tiễn:

 Yêu cầu của quan điểm thực tiễn là trong nhận thức và hoạt động chúng ta phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn

 Những sai lầm mà ĐH 6 đã chỉ ra nhất là tư tưởng chủ quan duy ý chí, nhũng giáo điều có nguyên nhân không xuất phát từ tình hình thực tiễn của đất nước để đưa ra đường lối, chính sách của đất nước, không nắm vững quan điểm của thực tiễn

Câu 8: Biện chứng của quy luật nhận thức.

* Khái niệm nhận thức:

- Nhận thức của con người là 1 quá trình, trong đó có nhiều trình độ, nhiều vòng khâu, nhiều hình thức khác nhau Điều này được Lê nin diễn tả 1 cách khái quát như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của nhận thức khách quan”

- Trực quan sinh động hay còn gọi là nhận thức cảm tính, đậy là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức Giai đoạn này được thể hiện dưới 3 hình thức sau:

 Cảm giác: Là hình thức đầu tiên đơn giản nhất của quá trình nhận

thức, là nguồn gốc của mọi sự việc Sự vật, hiện tượng trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta gây nên cảm giác về chúng đó

là màu sắc, âm thanh, mùi vị, độ rắn mềm của vật thể

 Tri giác: Là sự tổng hợp nhiều cảm giác phản ánh nhiều thuộc tính

trong mối liên hệ hữu cơ với nhau, nó đem lại hình ảnh hoàn chỉnh

Trang 17

hơn về sự vật So với cảm giác tri giác là hình thức cao hơn của cảm tính nhưng nó vẫn mang tính trực tiếp.

 Biểu tượng: Là hình ảnh của sự vật được giữ lại trong trí nhớ do

tiếp xúc trực tiếp nhiều lần với đối tượng, những hình ảnh này nó có thể tái hiện lại trong chúng ta mỗi khi có 1 tác động nào đó liên quan

- Tư duy trừu tượng hay còn gọi là nhận thức lý tính: Đây là giai đoạn tiếp

theo cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó nảy sinh trên cơ sở nhận thức lý tính Tư duy trừu tượng cũng phản ánh trừu tượng nhưng đây là sự phản ánh gián tiếp và khái quát do đó phản ánh sâu sắc hơn, đầy đủ hơn Những biểu hiện của tư duy trừu tượng đó là khái niệm – phán đoán – suy lý

 Khái niệm:

+ Là 1 hình thức của tư duy trừu tượng Nó phản ánh những mối liên

hệ và thuộc tính, bản chất, phổ biến của 1 nhóm sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

+ Nói 1 cách ngắn gọn khái niệm là tên gọi do con người đặt ra, phản ánh mối liên hệ những thuộc tính, bản chất, phổ biến của 1 nhóm các sự vật, hiện tượng

+ Khái niệm gắn liền với sự phát triển của khoa học, nó như là các viên gạch để xây nên toà nhà khoa học, nghĩa là mọi khoa học đều

có hệ thống khái niệm

 Phán đoán:

+ Là hình thức của tư duy trừu tượng, vận dụng các khái niệm đã có

để khẳng định hoặc phủ định 1 thuộc tính, 1 mối liên hệ nào đó của hiện thực khách quan

+ Các phán đoán khẳng định như là ma sát sinh ra nhiệt, muối ăn tan

ra nước, Ví dụ: Phán đoán phủ định cá voi không phải là cá voi

 Suy lý: Là 1 hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, trong đó xuất

phát từ 1 hoặc nhiều phán đoán làm tiền đề để rút ra phán đoán mới làm kết luận

Ví dụ:

 Phán đoán 1: mọi kim loại đều dẫn điện

Trang 18

 Phán đoán 2: đồng là 1 kim loại.

độ phản ánh nhưng giữa chúng có quan hệ mật thiết với nhau, liên

hệ tác động qua lại với nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau Cả 2 đều phản ánh thế giới vật chất, có cùng 1 cơ sở sinh lý duy nhất là hệ thần kinh của con người, và đều chịu sự chi phối thực tiễn lịch sử xã hội

 Nhận thức lý tính phải được hình thành trên cơ sở của nhận thức cảm tính, nhận thức cảm tính dựa vào nhận thức lý tính để nắm được bản chất sự vật

 Tư duy trừu tượng là sự phản ánh gián tiếp hiện thực khách quan, nên ở giai đoạn này nó có nguy cơ phản ánh sai lệch hiện thực vì vậy

mà hiện thực lý tính phải quay trở về thực tiễn để kiểm nghiệm kết quả của mình, để nhận biết đâu là chân lí, đâu là sai lệch

 Quán triệt sự thống nhất biện chứng của quá trình biện chứng có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn trước hết nó giúp đỡ chúng ta tránh được bệnh kinh nghiệm (đề cao nhận thức cảm tính) cũng như chủ nghĩa giáo điều đề cao quá mức tư duy lý luận, tư duy trừu tượng

Câu 9: Quy luật quan hệ sản xuất (QHSX) phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) Ý nghĩa đối với nước ta?

Ngày đăng: 19/08/2014, 08:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w