1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng dịch tễ học thú y part 4 pps

16 514 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 178,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số gia súc chết vì một bệnh trong một khoảng thời gian SDR = x 100 Tổng đàn bình quân của quần thể trong thời gian đó •Tỷlệchết vì một bệnh Mortality Rate = MR:Tỷ lệ chết vì một bệnh đượ

Trang 1

•T l chết vì mt bnh so vi tng đàn hay t l

chết đc hiu (Speccific Death Rate – SDR): Tỷ lệ

chết đặc hiệu để biểu hiện tỷ lệ chết do một

nguyên nhân bệnh tật nhất định so với tổng đàn

bình quân trong một giai đoạn nhất định

Số gia súc chết vì một bệnh trong một khoảng thời gian

SDR = x 100

Tổng đàn bình quân của quần thể trong thời gian đó

•Tlchết vì mt bnh (Mortality Rate = MR):Tỷ lệ

chết vì một bệnh được tính bằng cách lấy tử số là

số gia súc chết vì một bệnh trong một giai đoạn

nhất định, còn mẫu số là tổng số gia súc chết vì mọi

nguyên nhân trong giai đoạn đó Thường được

dùng để biểu hiện và so sánh những tác hại do

từng bệnh gây ra đối với quần thể đàn gia súc

Sgia súc chết vì mt bnh trong qun thể ởgiai đon nht đnh

MR= x 100

Tng sgia súc chết vì mi bnh

trong qun thtrong giai đon đó

•T lchết trên mc (Case Fatality Rate – CFR):Tỷ

lệ này được tính bằng cách lấy tử số là tổng số các

trường hợp gia súc chết vì một bệnh nào đó trong

quần thể, còn mẫu số là tổng số gia súc trong quần

thể mắc bệnh đó trong một giai đoạn nhất định Tỷ

lệ này thường được dùng để đánh giá về sự cường

độc của mầm bệnh, diễn biến của bệnh hay sự

nghiêm trọng của bệnh

Sgia súc chết vì mt bnh

trong qun thể ởgiai đon nht đnh

CFR = x 100

Tng sgia súc mc bnh đó

trong qun thtrong giai đon đó

Trang 2

•Tlchết theo nhóm tui:Tỷ lệ này được tính bằng

cách lấy tử số là số gia súc chết vì một bệnh (hoặc

nhiều bệnh) trong quần thể ở một nhóm tuổi nhất

định, còn mẫu số là tổng số gia súc có cùng nhóm

tuổi ở quần thể đó trong một giai đoạn nhất định

Được dùng để so sánh tỷ lệ chết trong cùng một

nhóm tuổi ở cùng một bệnh, ở các bệnh khác nhau

Số gia súc chết vì một bệnh (nhiều bệnh)

trong quần thể ở giai đoạn nhất định

TLCTNT = x 100

Tổng số gia súc có cùng nhóm tuổi

trong quần thể ở giai đoạn đó

•T l chết theo ging: Tỷ lệ này được tính bằng

cách lấy tử số là số gia súc chết vì một bệnh (nhiều

bệnh) ở một giống nào đó, còn mẫu số là tổng số

gia súc trong cùng một giống có trong giai đoạn đó

Tỷ lệ này thường được dùng để so sánh tỷ lệ chết

giữa các loài, giống khác nhau có khả năng mắc

cùng một bệnh hoặc các bệnh khác nhau

Số gia súc ở một loài, giống chết vì một bệnh

(nhiu bnh) trong qun thể ởgiai đon nht đnh

TLCTG = x 100

Tổng số gia súc ở cùng một loài, giống

trong quần thể trong giai đoạn đó

•Tl chết theo tính bit: Tỷ lệ này được tính bằng

cách lấy tử số là số gia súc đực (cái) bị chết trong

quần thể, còn mẫu số là tổng số gia súc đực (cái)

có trong quần thể ở một giai đoạn nhất định Tỷ lệ

này được dùng để so sánh tỷ lệ chết của gia súc có

tính biệt khác nhau trong giai đoạn nhất định

Sgia súc đc (cái) chết

trong qun thể ởgiai đon nht đnh

TLCTTB = x 100

Tng sgia súc đc (cái) trong qun thtrong giai đon đó

Trang 3

CHƯƠNG 4

DỊCH TỄ HỌC MÔ TẢ

I PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔ TẢ

1 Định nghĩa

•Nghiên cứu mô tả là một nghiên cứu về hình thái

xuất hiện bệnh có liên quan đến các biến số: Đng

vt – Không gian - Thi gian Những nghiên cứu

này nói tóm tắt một cách có hệ thống các số liệu cơ

bản về sức khoẻ, và nguyên nhân chủ yếu gây

bệnh và tử vong

•Đối với các nhà dịch tễ học, xác định các yếu tố mô

tả sẽ tạo nên một bước quan trọng đầu tiên trong

việc nghiên cứu các yếu tố quyết định hay yếu tố

nguy cơ làm dịch bệnh phát triển để từ đó hạn chế

các yếu tố này

2 Mục đích của nghiên cứu mô tả

•Đánh giá chiều hướng của dịch bệnh động vật, so

sánh giữa các vùng trong một nước hay giữa các

nước với nhau

•Cung cấp cơ sở cho việc vạch kế hoạch và đánh giá

các điều kiện thú y cơ sở

•Xác định vấn đề cần nghiên cứu, hình thành những

giả thuyết sẽ được kiểm định bằng các nghiên cứu

phân tích tiếp theo

Trang 4

•Nghiên cứu mô tả có thể sử dụng thông tin từ

nhiều nguồn khác nhau: tài liệu lưu trữ, thông tin

đại chúng… Vì những thông tin này được cập nhật

thường xuyên và có sẵn nên nói chung nghiên cứu

mô tả it tốn kém về thời gian và kinh tế so với

nghiên cứu phân tích nên nó rất phổ biến trong các

nghiên cứu dịch tễ

•Tuy nhiên, nghiên cứu mô tả không có khả năng

kiểm định các giả thuyết dịch tễ học

II CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔ TẢ

•Có 3 phương pháp nghiên cứu mô tả chính:

Nghiên cứu tương quan - Correlation Study: Nghiên

cứu hình thái của bệnh trong quần thể

Báo cáo bệnh - Case Reports hay đợt bệnh - Case

Series

Điều tra ngang - Cross – Sectional Surveys

•Mỗi phương pháp này cung cấp thông tin về các

đặc tính khác nhau về quần thể động vật, không

gian, thời gian và mỗi nghiên cứu đều có những

ưu điểm và hạn chế riêng của nó

1 Nghiên cứu tương quan

•Nghiên cứu tương quan là nghiên cứu các hình thái

của bệnh trong quần thể để tìm ra mối liên quan

giữa yếu tố nguy cơ và bệnh nhằm so sánh tần số

mắc bệnh ở những nhóm loài động vật khác nhau

trên cùng một khoảng thời gian hoặc những nhóm

động vật trong cùng một loài nhưng ở những thời

điểm khác nhau

•Cũng có thể nói nghiên cứu tương quan là nghiên

cứu mô tả mối liên quan của bệnh với những yếu

tố mà người nghiên cứu quan tâm như: tuổi, giống,

loài, tính biệt, thời gian, không gian…

Trang 5

•Để đánh giá mối quan hệ của các yếu tố người ta

dùng hệ số tương quan

•Đây là thông số mô tả mối quan hệ trong nghiên

cứu tương quan, hệ số này xác định về mặt số

lượng mối quan hệ tuyến tính giữa phơi nhiễm và

bệnh

•Có nghĩa là mỗi thay đổi về mức độ phơi nhiễm thì

tần số mắc bệnh sẽ tăng giảm tương ứng theo

•Thuận lợi: nghiên cứu tương quan đơn giản, dễ

tiến hành, thực hiện nhanh chóng vì đã có sẵn

những thông tin, những dữ kiện của quần thể, ít

tốn kém

•Hạn chế: nghiên cứu tương quan ít hoặc không có

khả năng suy diễn, thiếu khả năng kiểm soát ảnh

hưởng của các yếu tố gây nhiễu và các chỉ số

tương quan chỉ biểu thị mức độ phơi nhiễm trung

bình của quần thể, chứ không biểu thị mức độ phơi

nhiễm của từng cá thể

2 Các báo cáo ca bệnh hay đợt bệnh

•Khác với nghiên cứu tương quan, người ta tiến

hành xem xét toàn bộ quần thể Trong nghiên cứu

ca bệnh, đợt bệnh lại tập trung mô tả chi tiết, tỉ mỉ

về căn nguyên, diễn biến của từng trường hợp

bệnh hay một nhóm bệnh có cùng một chẩn đoán

được những nét khác thường của bệnh đang

nghiên cứu và dẫn đến hình thành một hay nhiều

giả thuyết mới

Trang 6

Nghiên cu tng trưng hp bnh: Đây là

phương pháp nghiên cứu phổ biến nó cung cấp thông

tin về một hiện tượng bất thường về sức khoẻ, là

điểm mốc cho việc xác định bệnh mới Nghiên cứu

này thể mở rộng ra nghiên cứu hàng loạt các trường

hợp bệnh hay đợt bệnh trong cùng một giới hạn

không gian và thời gian nhất định

Nghiên cu đt bnh: Là nghiên cứu thu thập các

báo cáo bệnh của từng trường hợp bệnh xảy ra trong

một thời gian ngắn Nghiên cứu này rất quan trọng

trong dịch tễ học vì nó thường được áp dụng để xác

định sớm sự bắt đầu xuất hiện dịch hay bệnh mới

•Nhận xét: Mặc dù nghiên cứu từng trường hợp bệnh

hay đợt bệnh rất có ích trong việc hình thành giả

thuyết, nhưng nó cũng có những hạn chế nhất định

như sau:

Không có khả năng kiểm tra được sự có mặt của một

kết hợp thống kê

Phương pháp nghiên cứu này dựa trên tiến triển bệnh

của một cá thể, do đó sự có mặt của bất kỳ yếu tố

nguy cơ nào cũng có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên

mà nhiều khi không thể loại trừ hết

Khi giải thích nguyên nhân thường bị hạn chế do thiếu

nhóm so sánh tương ứng và làm mờ đi mối quan hệ

hoặc lại gợi ý một kết hợp không có trong thực tế

3 Nghiên cứu ngang

•Nghiên cứu ngang là nghiên cứu được thực hiện

trên những cá thể có mặt trong quần thể nghiên

cứu dù có bệnh hay không có bệnh, có phơi nhiễm

hay không phơi nhiễm được lượng giá vào đúng

thời điểm nghiên cứu được thực hiện

•Mục tiêu chủ yếu của nghiên cứu ngang là mô tả

dịch tễ học nhằm tìm ra tần số mắc bệnh hoặc sự

phân bố của một hiện tượng sức khoẻ nào đó

Trang 7

•Những số liệu này rất có giá trị đối với những nhà

nghiên cứu dịch tễ học, và người quản lý về lĩnh

vực thú y trong việc đánh giá tình trạng sức khoẻ

và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ

cuả quần thể động vật đang nghiên cứu để từ đó

có những giải pháp thích hợp nhằm hạn chế tình

hình dịch bệnh, nâng cao sức khoẻ của quần thể

mà ta quan tâm

•Nghiên cứu ngang có thể được tiến hành dưới dạng

một cuộc điều tra sức khoẻ của quần thể, thông

qua việc chọn một mẫu ngẫu nhiên các cá thể từ

quần thể

III NGHIÊN CỨU MÔ TẢ TRONG THÚ Y

1 Mô tả ca bệnh

dịch tễ học mô tả dựa trên dữ kiện thu thập từ

từng cá thể

•Là bệnh án chi tiết, tỉ mỉ, đầy đủ do một hoặc nhiều

bác sỹ thú y thực hiện trên một gia súc bệnh

•Khi mô tả đòi hỏi phải khai thác đầy đủ, tỉ mỉ, đặc

biệt là về căn nguyên nghi ngờ của bệnh Kết quả

phải nêu được một hay nhiều giả thuyết về quan hệ

nhân – quả

Lưu ý: Khi mô tả ca bệnh ngoài việc mô tả những

biểu hiện chung, cần phải mô tả những biểu hiện

không bình thường hoặc hiếm thấy của một bệnh

•Phải trung thực khi mô tả những hiện tượng hoặc

những biểu hiện của bệnh, tránh đưa ra những

nhận xét về nguyên nhân gây bệnh hoặc những suy

luận đánh giá qua kết quả điều trị tốt hay xấu

•Cần chú ý những biểu hiện giống nhau ở một số

bệnh trên cùng một loài động vật: 4 bệnh đỏ ở lợn

(Dịch tả lợn, Phó thương hàn, Đóng dấu lợn, Tụ

huyết trùng lợn); 3 bệnh Tụ huyết trùng, Khí ung

thán, Nhiệt thán ở trâu bò…

Trang 8

2 Mô tả các ca bệnh hay mô tả một chùm bệnh

nhưng để áp dụng mô tả cho một vài trường hợp

cùng mắc một bệnh, cùng có chung một hiện tượng

như nhau về sức khoẻ Mô tả một chùm bệnh sẽ có

giá trị hình thành giả thuyết cao hơn so với mô tả

một trường hợp bệnh

•Do vậy yêu cầu phải mô tả chi tiết và trung thực

quá trình biểu hiện lâm sàng của các ca bệnh đó

trong một điều kiện nhất định giới hạn trong một

thời gian nào đó, cùng với sự đánh giá tiên lượng

•Trong phạm vi một trại hay một địa phương có thể

có nhiều ca bệnh xảy ra cùng một lúc hoặc muộn

hơn hoặc sớm hơn

•Nên khi đọc báo cáo về các loại ca bệnh, có thể đặt

ra một số câu hỏi:

Quần thể hay tổng đàn tại khu vực không gian đó

có bệnh loại nào?

Các ca bệnh đã báo cáo có giống các ca bệnh đã

gặp trong thực tế không?

Các ca bệnh đã được mô tả đầy đủ, khách quan

chưa?

Có thể đại diện cho nhóm, đàn, loài gia súc chưa?

3 Khảo sát chung

•Là những nghiên cứu mô tả áp dụng cho một quần

thể động vật, mục tiêu của khảo sát là cung cấp

những số liệu về sự lưu hành, tính phổ biến của các

đặc điểm như:

Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết, tuổi mắc, giống loài mắc, thời

điểm, mùa vụ mắc…

Các loại bệnh tật, tác nhân gây bệnh, phương thức,

tập quán chăn nuôi, quy trình phòng bệnh, tính chất

lây lan, mức độ trầm trọng của bệnh…

Trang 9

•Ta có thể tiến hành khảo sát bằng phương pháp

trực tiếp hoặc gián tiếp:

Phương pháp khảo sát trực tiếp có thể tiến hành

bằng hình thức phỏng vấn cá nhân, điện thoại, thư

tín…

Phương pháp khảo sát gián tiếp thì do người khác

làm theo mẫu có sẵn hoặc theo các câu hỏi mà

người điều tra đưa ra…

4 Những đặc trưng cần mô tả

Đng vt:Đặc trưng mô tả về động vật để trả lời

cho câu hỏi “Loài động vật nào mắc bệnh và mắc

như thế nào?”

•Cho nên cần chú ý những đặc trưng sau:

Tuổi: tuổi là yếu tố quan trọng nhất trong các đặc

trưng về động vật

Tuổi không chỉ có liên quan đến tần số mắc bệnh

các bệnh nhiễm khuẩn mà con liên quan đến mức

độ nặng của bệnh

Những động vật non có thể không mắc bệnh trong

một khoảng thời gian nhất định từ khi mới sinh (tuỳ

loài) do có kháng thể từ mẹ truyền sang Nhưng tỷ

lệ mắc bệnh sẽ tăng cao theo thời gian nếu không

áp dụng các biện pháp phòng bệnh đặc hiệu

Nói chung tuổi càng tăng thì tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ

tử vong càng tăng do các nguyên nhân sau: tăng

phơi nhiễm tích luỹ, giảm miễn dịch phòng vệ của

cơ thể, kiệt sức không đặc hiệu, tăng dị dạng nhiễm

sắc thể, thay đổi nội tiết

Trang 10

Tính biệt: có sự khác biệt rất rõ rệt đối với nhiều

bệnh về tỷ lệ mắc bệnh, tử vong giữa con đực và

cái Sự khác biệt này này có thể là do đặc tính của

giới, sự khác nhau về thăng bằng nội tiết, môi

trường sống…

VD: trong bệnh Sảy thai truyền nhiễm tỷ lệ mắc

bệnh ở giống cái cao hơn giống đực

Loài giống: Sự khác biệt này thường do các yếu tố

di truyền, khả năng thích nghi với môi trường sống

của từng loài, giống

Trạng thái sinh lý: thông thường những động vật có

trạng thái thần kinh thể dịch thuộc loại hưng phấn

thường có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao hơn so

với những động vật có trạng thái thần kinh thăng

bằng hay ức chế…

Không gian: Câu hỏi thứ 2 được nêu lên trong

nghiên cứu mô tả là “Nơi nào có tỷ lệ mắc bệnh cao

nhất hay thấp nhất?”

Các đặc trưng mô tả có liên quan đến không gian có

thể cung cấp sự hiểu biết sâu hơn về bệnh căn của

bệnh Vị trí có thể phân chia theo biên giới tự nhiên

như núi, sông, sa mạc, theo phân vùng hành chính

Trang 11

Thi gian: Số liệu miêu tả theo thời gian trả lời

cho câu hỏi “Khi nào bệnh xảy ra thường xuyên hay

ít xảy ra?” và “Tần số của bệnh hiện nay có khác

với tần số tương ứng trong quá khứ hay không?”

Thay đổi tỷ lệ bệnh theo thời gian tương ứng với

khái niệm kinh điển về một vụ dịch có liên quan tới

sự tăng cao tần số của bệnh trong một thời gian

tương đối lớn

Sự tăng tần số mắc bệnh trong một khoảng thời

gian: Đối với nhiều bệnh có thời kỳ ủ bệnh ngắn,

việc mô tả sự tăng tần số mắc bệnh trong một

khoảng thời gian có thể dẫn đến các nghiên cứu

phân tích về một nguyên nhân gây bệnh nào đó

Tính chu kỳ: Sự thay đổi có tính chu kỳ là sự thay

đổi lặp lại tần số của bệnh Tính chu kỳ có thể là

hàng năm (theo mùa) hay theo từng thời kỳ nhiều

năm

Chu kỳ nhiều năm: nguyên nhân của tính chu kỳ

nhiều năm này là do sự thay đổi miễn dịch của khối

cảm thụ Thí dụ: dịch Sởi và dịch cúm A thường xảy

ra 2-3 năm một lần

Tính theo mùa: nguyên nhân dẫn đến sự phân bố

theo mùa của các bệnh do sự ảnh hưởng của môi

trường đến bản thân tác nhân gây bệnh, đến côn

trùng trung gian truyền bệnh, đến tập quán, lối

sống và tính cảm thụ của vật chủ Nghiên cứu diễn

biến theo mùa của bệnh có thể giúp cho việc gợi ý

giả thuyết về bệnh căn

Trang 12

Xu thế của bệnh: là sự thay đổi tỷ lệ mắc bệnh và

tỷ lệ tử vong trong một khoảng thời gian dài nhiều

năm, nhiều thập kỷ và hàng thế kỷ Xu hướng thế

kỷ có thể do một hay nhiều yếu tố khác nhau:

Thay đổi về kỹ thuật chẩn đoán dẫn đến tăng các

báo cáo của các chẩn đoán đặc biệt ngay cả khi

bệnh thực sự không còn phổ biến

Thay đổi tính chính xác của việc thống kê động vật

có phơi nhiễm với nguy cơ phát triển bệnh, dẫn đến

thay đổi tỷ lệ mắc bệnh có thể không phản ánh sự

thay đổi tần số thực của bệnh

Thay đổi về phân bố bệnh của quần thể có thể dẫn

đến thay đổi tỷ lệ thô của bệnh mặc dù tỷ lệ đặc

hiệu theo tuổi không thay đổi

Thay đổi tỷ lệ sống sót, khỏi bệnh do cải tiến việc

điều trị hay ảnh hưởng của việc điều trị sớm

Thay đổi tỷ lệ mới mắc thực tế do thay đổi các yếu

tố môi trường và điều kiện chăm sóc

•Như vậy dịch tễ học mô tả quan tâm tới hàng loạt

đặc điểm cơ bản về tình hình dịch bệnh, trong một

khoảng không gian và thời gian nhất định, tập trung

vào đặc điểm của đàn gia súc như: sức khoẻ, bệnh

tật, tập quán chăn nuôi, phòng bệnh, tính chất lây

lan… thời gian và không gian phát sinh bệnh

•Nghiên cứu mô tả là phương pháp đơn giản nhất và

có thể còn nhiều thiếu sót trong khi thực hiện, sự

thiếu sót này có thể là thiếu độ tin cậy tương đối và

thông thường là chưa có đầy đủ lượng thông tin

cần thiết

IV KẾT LUẬN

Ngày đăng: 24/07/2014, 21:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN