1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng dịch tễ học thú y part 3 pot

16 534 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 173,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

•Tỷ suất được biểu thị dưới dạng: a/b x k•Trong đó: Tử số a của tỷ suất: là tần số xuất hiện sự kiện, hiện tượng A nhiễm, ốm, bệnh, chết ở một quần thể xảy ra trong một khoảng thời gian

Trang 1

7 Sự nhiễm (infection)

• Là tác nhân truyền nhiễm có khả năng xâm nhập,

phát triển và nhân lên trong cơ thể động vật sống

8 Sự ô nhiễm (contamination)

• Là sự có mặt của các tác nhân gây nhiễm trong môi

trường với một số lượng vượt quá chỉ tiêu cho

phép

9 Tính cường độc (virulence)

nặng cho động vật

VII THUẬT NGỮ ĐỐI VỚI BỆNH KHÔNG TRUYỀN NHIỄM

1 Giai đoạn cảm ứng

•Là thời gian từ lúc phơi nhiễm với tác nhân đến khi

xuất hiện bệnh (giống như thời thời kỳ nung bệnh

trong bệnh truyền nhiễm)

2 Sự ô nhiễm

•Là sự có mặt của các chất độc, các khí thải có hại

cho sức khoẻ của con người và động vật với một số

lượng vượt quá các chỉ tiêu cho phép ở trong một

môi trường ngoại cảnh nhất định

CHƯƠNG 3 CÁC THÔNG SỐ ĐO LƯỜNG

DỊCH TỄ HỌC

Trang 2

I KHÁI NIỆM VỀ SỐ LIỆU VÀ BẢNG SỐ LIỆU

1 Số liệu (dữ kiện)

•Số liệu là những thông tin thu được trong quá trình

điều tra, giám sát dịch tễ dưới dạng các biến số

đơn lẻ Số liệu thường dùng là số liệu có tính chất

định tính và số liệu có tính chất định lượng

Số liệu có tính chất định tính thường trả lời cho câu

hỏi có hay không? Dương tính hay âm tính? (Ví dụ:

Tên gia súc hoặc số hiệu (nếu có), địa phương

nghiên cứu, giống, loài, tuổi, tính biệt, đặc điểm

riêng khác, xét nghiệm huyết thanh: âm tính hay

dương tính)

Số liệu có tính chất định lượng chia làm hai loại:

Số liệu định lượng theo khoảng thời gian: trọng lượng

sữa/năm; vacxin tiêm mấy lần/năm; khối lượng tăng

trung bình/tháng; số ca bệnh/năm, số ca bệnh/tháng;

số động vật chết/năm, số động vật chết/tháng…

Số liệu định lượng theo khoảng cách thứ tự: giá trị

của khoảng cách này có tính nối tiếp và được định

lượng theo quy ước của người nghiên cứu

Ví dụ: ứng với cách đánh giá thể trạng gia súc béo,

tốt, trung bình, gầy, xấu… ta có các số quy ước sau:

1, 2, 3, 4, 5… (Giữa các số này không có bất kỳ một

số trung gian hay một số lẻ nào khác như 1,5; 2,7…)

2 Bảng số liệu (bảng dữ kiện)

•Các biến số đơn lẻ điều tra thu thập được, sẽ được

tập hợp thành bảng số liệu hay mục lục (có thể coi

đây là cơ sở của dữ liệu hay ngân hàng số liệu) Tập

hợp của các số liệu thường được sắp xếp theo hệ

thống mô hình 2 chiều tên của các biến số được xếp

theo chiều ngang còn các số liệu thu được xếp theo

chiều dọc

•Thông thường các bảng số liệu sẽ được sắp xếp theo

những chuyên đề, khi cần có thể tra cứu dễ dàng Có

thể dùng máy tính để lưu trữ hoặc sắp xếp số liệu,

nếu không có máy tính thì dùng tay để ghi chép, tổng

hợp, lưu trữ, sắp xếp số liệu

Trang 3

•Do các số liệu thu được là những thông tin rất cần

thiết trong bất kỳ nghiên cứu nào nên cấu trúc của

các bảng số liệu phải khoa học, có hệ thống Đây là

cơ sở để tra cứu, tích luỹ, phân tích, trao đổi thông

tin và giúp phục hồi số liệu khi cần thiết một cách

thuận lợi nhất

•Tóm lại phải xây dựng được một cơ sở dữ liệu cho

thật cẩn thận, chi tiết và dễ dàng xử lý khi cần thiết

(số liệu không biết sắp xếp và xếp không đúng chỗ

coi như số liệu đó đã chết hoặc bị mất)

3 Phương pháp thu thập số liệu

•Khi thu thập số liệu trong bất kỳ chương trình điều

tra sức khoẻ và dịch bệnh động vật… ta cần chú ý

đến các vấn đề sau:

Vấn đề nghiên cứu: xác định vấn đề nghiên cứu

thuộc lĩnh vực nào từ đó thu thập số liệu thuộc lĩnh

vực đó

Thu thập số liệu: bằng cách điều tra, quan sát,

thống kê, thu thập các số liệu có liên quan đến vấn

đề cần nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu: có thể tự điều tra

(chủ động), hoặc dựa trên các tài liệu lưu trữ hoặc

do người khác cung cấp (bị động)

Nguồn gốc số liệu: có thể thu thập qua các tài liệu

lưu trữ, báo cáo ngày, quý, năm, qua tài liệu lưu trữ

của các Cục, Vụ, Viện, Trường, Trung tâm… cũng

có thể tự mình điều tra các vấn đề cần quan tâm

Phân tích số liệu: dựa trên các số liệu thu thập

được, tiến hành phân tích, mô tả rồi so sánh với

các số liệu bình thường khi chưa có dịch xảy ra

Có thể biểu diễn bằng cách vẽ đồ thị, đánh dấu lên

bản đồ dịch tễ, đánh giá vấn đề dịch bệnh ở mức

độ nào, tính chất lưu hành của bệnh

Trang 4

Các biện pháp xử lý: đề xuất các biện pháp xử lý

tuỳ thuộc tính chất và tình hình dịch bệnh

Lựa chọn biện pháp: nhận định, đánh giá, rút ra kết

luận về các biện pháp đã giải quyết là được hay

không được, chấp nhận hay không chấp nhận Tuy

nhiên, dù được hay chưa, chấp nhận hay không

cũng đều phải được kiểm tra lại từ đầu

Hệ thống sắp xếp số liệu: sắp xếp lại các số liệu thu

thập được theo từng chuyên đề nghiên cứu riêng

hoặc đánh số, theo thư mục để khi cần sử dụng có

thể tra cứu dễ dàng, thuận lợi

4 Trao đổi dữ liệu

•Giữa những người làm công tác chuyên môn, giữa

các trung tâm nghiên cứu có thể trao đổi dữ liệu:

Trao đổi các báo cáo, thông tin về lĩnh vực chuyên

môn…

Giới thiệu các kết quả nghiên cứu trên sách báo,

tạp chí, Internet

Thu nhận các thông tin qua máy tính có nối mạng

giữa những người nghiên cứu, các phòng ban,

Trung tâm, Cục, Vụ, Viện, Trường, địa phương,

giữa các quốc gia về các vấn đề cùng quan tâm

II KHÁI NIỆM VỀ TỶ SỐ, TỶ LỆ, TỶ SUẤT

•Thông số đo lường về bệnh là công việc đầu tiên,

bắt buộc cho bất kỳ một nghiên cứu dịch tễ học

nào, đơn giản nhất là đếm số mắc bệnh, số chết

•Nhưng trong nghiên cứu dịch tễ học ta còn phải

biết cả kích thước của quần thể mà bệnh xảy ra,

khoảng thời gian bệnh xảy ra mới có thể có những

so sánh và đánh giá xác thực về dịch bệnh

•Ta thường biểu diễn các khái niệm thống kê này

dưới dạng những tỷ số, tỷ lệ, tỷ xuất Chúng có

những điểm chung, nhưng cũng có những khác biệt

quan trọng khi sử dụng trong dịch tễ học

Trang 5

1 Tỷ số (Ratio)

•Tỷ số là một biểu hiện của mối quan hệ giữa 2 đại

lượng, một tỷ số có dạng: a/b hay (a/b) x k

Trong đó tử số a là một số sự kiện nào đó, đại

lượng a không nhất thiết là một phần của đại lượng

b tạo ra mẫu của tỷ số Còn mẫu số b là một số sự

kiện đếm được trong thời điểm t hoặc trong một

khoảng thời gian t1 – t2

Hệ số k có thể là 1, 10, 100, 1000…

•Không có một quy tắc chính thức nào để so sánh 2

đại lượng trong thành phần của tỷ số Người ta

thường sử dụng các tỷ số trong dịch tễ học để so

sánh các tỷ lệ

Thí dụ: trong một mẫu nghiên cứu về đại gia súc,

trong đó có 600 trâu, 300 bò Tỷ số trâu/bò là 2

hoặc bò/trâu là 0,5 hoặc 1/2, cả 2 tỷ số này hệ số k

đều bằng 1

2 Tỷ lệ (Proportion)

•Tỷ lệ là một phân số nói lên sự biến đổi của một đại

lượng này (ghi ở tử số) so với sự thay đổi của một

đại lượng khác (ghi ở mẫu số) Đại lượng ghi ở

mẫu số này thường dùng là đơn vị thời gian, nên có

sự quan hệ chặt chẽ giữa tử số và mẫu số

•Tỷ lệ là một dạng đặc biệt của tỷ số, mà sự kiện

được nêu đều xảy ra trong một khoảng thời gian

xác định, trong đó số đo của tử số là một bộ phận

của mẫu số, cả hai đại lượng này đều được đo

đồng thời

Trang 6

•Một tỷ lệ có dạng: {a/(a+b)}x100

•Trong đó:

a là tần số xuất hiện sự kiện, hiện tượng cần quan

tâm, thí dụ: số con nhiễm, mắc bệnh, chết…

b là tần số không xuất hiện sự kiện, hiện tượng cần

quan tâm trong quần thể xảy ra sự kiện, hiện

tượng đó, thí dụ: số con không nhiễm, không mắc

bệnh, số con khoẻ…

•Một tỷ lệ nói chung đều được biểu thị bằng phần

trăm, thường dùng để đánh giá những hiện tượng

rủi ro

•Đơn vị đánh giá của bất kỳ tỷ lệ nào là thời gian,

được tính bằng đơn vị thích hợp nhất: ngày, tuần,

tháng, quý, năm

VD: tỷ lệ lợn mắc bệnh THT trong tháng 12 của trại

lợn khoa CNTY, được tính bằng số con mắc bệnh

trong tháng (25 con)/tổng số lợn của trại có trong

tháng 12 (1000 con): 25/1000) x 100 = 2,5%

3 Tỷ suất (Rate)

•Tỷ suất là số đo xác suất xuất hiện một hiện tượng

xảy ra trong một đơn vị thời gian Được biểu thị

đơn giản bằng cách lấy số nọ chia cho số kia dưới

dạng một phân số, mà không có một liên hệ gì đặc

biệt giữa tử số và mẫu số

•Tử số và mẫu số có thể là hai đại lượng khác nhau

(đơn vị khác nhau) hoặc là cùng một hiện tượng,

nhưng ở những quần thể khác nhau, thời gian khác

nhau, không gian khác nhau Số đo của mẫu số

không bao gồm số đo của tử số

Trang 7

•Tỷ suất được biểu thị dưới dạng: (a/b) x k

•Trong đó:

Tử số a của tỷ suất: là tần số xuất hiện sự kiện,

hiện tượng A (nhiễm, ốm, bệnh, chết) ở một quần

thể xảy ra trong một khoảng thời gian t1 – t2

Mẫu số b là tần số xuất hiện của sự kiện, hiện

tượng B, trong thời gian đó, quần thể đó b là tần

số xuất hiện sự kiện A nhưng ở một thời gian khác,

quần thể khác Đại lượng mẫu số này (b) thường

khó ước lượng được chính xác

•Hằng số k là một luỹ thừa của 10, nó phụ thuộc vào

kích thước tương đối của các đại lượng a và b

Chọn hằng số k sao cho tỷ suất chỉ có 1 đến 2 chữ

số đứng trước dấu phẩy để dễ dàng khi đọc tỷ lệ

•Chú ý: tính tỷ suất trong dịch tễ học là để so sánh

cùng một hiện tượng ở 2 quần thể khác nhau, 2

thời gian khác nhau, 2 khu vực khác nhau, 2 hiện

tượng khác nhau ở cùng một quần thể, cùng một

thời gian và ngược lại

• VD: trong một trại lợn có 500 con, sau bữa ăn trưa khoảng 5

tiếng có 50 lợn bị tiêu chảy, trong đó có 32 lợn con và 18 lợn hâu

bị, ta có thể tính:

Tỷ lệ lợn trong trại bị tiêu chảy sau khi ăn: (50/500)x100 = 10%

Tỷ suất mắc bệnh của lợn sau khi ăn là: (50/450)x100 = 11,11%

= 0,1111

Tỷ lệ lợn con trong trại bị tiêu chảy so với tổng số lợn bị tiêu chảy

sau khi ăn là: (32/50)x100 = 64%

Tỷ lệ lợn hậu bị bị tiêu chảy/tổng số lợn bị tiêu chảy sau khi ăn là:

(18/50)x100 = 36%

Tỷ xuất giữa tỷ lệ lợn con bị tiêu chảy/tỷ lệ lợn hậu bị bị tiêu chảy

là: (64%/36%)x100 = (32/18)x100 = 177,78% = 1,7778

Trang 8

4 Đặc điểm tử số của tỷ lệ

•Trong một số trường hợp có hơn một lần sự kiện

xảy ra trên cùng một đối tượng động vật trong thời

gian nghiên cứu theo dõi, điều này sẽ dẫn tới 2 thứ

tỷ lệ đối với cùng một loại sự kiện

•VD: Động vật có thể bị tái nhiễm nhiều lần đối với

một bệnh nào đó trong thời gian nghiên cứu kéo

dài, ta có thể tính đuợc 2 loại tỷ lệ sau:

Số động vật mắc bệnh

Tỷ lệ 1 = x 100

Tổng số động số động vật có nguy cơ mắc bệnh

•Tỷ lệ này cho biết xác suất của bất kỳ động vật nào

trong quần thể có nguy cơ sẽ có thể bị mắc bệnh

trong thời gian nghiên cứu

Số lần động vật bị mắc bệnh

Tổng số động vật có nguy cơ mắc bệnh

•Tỷ lệ này ước tính số lần động vật có thể bị mắc

bệnh trong quần thể có nguy cơ trong thời gian

nghiên cứu

• Chú ý: Cả 2 tỷ lệ này đều được tính cùng trong một

thời gian nghiên cứu, khi có số sự kiện khác nhau

như trên thì trong cả hai trường hợp tử số phải

được xác định rõ ràng

• Khi không có sự khác biệt thì tử số thường được

tính là số động vật mắc bệnh và tỷ lệ mắc bệnh là

biểu thị xác suất đối với một đối tượng động vật

Trang 9

5 Đặc điểm mẫu số của tỷ lệ

• Mẫu số của tỷ lệ (nhiễm, mắc, chết…) là tổng số

các cá thể có trong quần thể được đếm một cách

chính xác trong thời gian nghiên cứu

• Tuy nhiên, vì số mắc và số chết phải phủ kín trong

thời gian nghiên cứu nên tổng số động vật trong

quần thể có thể có những thay đổi, nhất là trong

khoảng thời gian nghiên cứu dài

• Nên khi tính mẫu số cách đơn giản nhất là lấy tổng

số động vật trong quần thể vào thời điểm giữa của

thời kỳ nghiên cứu hoặc lấy số trung bình cộng của

các đợt biến động trong thời kỳ nghiên cứu

III CÁC THÔNG SỐ ĐO LƯỜNG DỊCH TỄ HỌC

•Đo lường bệnh tật của động vật là hết sức cần thiết

và quan trọng, muốn vậy người làm công tác dịch

tễ phải hiểu và nắm được những sự việc, những

hiện tượng đã xảy ra trong quần thể

•Trên cơ sở những thông tin, số liệu thu thập được

trong quá trình điều tra, giám sát dịch bệnh có thể

thiết lập được các thông số đo lường về dịch tễ

Cũng trên cơ sở các thông số đo lường này có thể

khái quát được: tính chất của dịch, khả năng kiểm

soát, đề ra chiến lược phòng chống bệnh phù hợp

1 Số mắc bệnh và tỷ lệ mắc bệnh

•S mc bnh: là số hiện mắc của một bệnh nhất

định nào đó, bao gồm tất cả các cá thể đang có

bệnh đó mà ta có thể đếm được trong một quần

thể ở một thời điểm nhất định hoặc trong khoảng

thời gian nhất định

•Tlmc (phát) bnh:là cơ sở nền móng của điều

tra dịch tễ học, nó đánh giá sự rủi ro bình quân trở

thành một ca bệnh hay đánh giá khả năng gây bệnh

trong một giai đoạn nhất định

Trang 10

•Tỷ lệ mắc bệnh có thể tính theo 2 cách:

Tỷ lệ mắc bệnh so với tổng đàn bình quân:

Số gia súc mắc bệnh trong giai đoạn nhất định

TLMB/TĐBQ= x 100

Tổng đàn gia súc trung bình trong thời gian đó

Tỷ lệ mắc bệnh so với tổng đàn gia súc bị đe doạ:

Số gia súc mắc bệnh trong giai đoạn nhất định

TLMB/TĐBĐD= x 100

Tổng đàn gia súc bị đe doạ trong thời gian đó

Chú ý: Tỷ lệ mắc bệnh là sự đánh giá khả năng gây bệnh

của một “tác nhân” nào đó đối với quần thể Nên tỷ lệ

mắc bệnh phải bao gồm cả sự đánh giá về thời gian nằm

trong mẫu số, vì vậy nó được đánh giá bằng những đơn vị

thời gian nhất định

• Do vậy khi nói tỷ lệ mắc bệnh bao giờ cũng phải xác định

thời gian kèm theo, nếu không sẽ không mang ý nghĩa gì

về mặt dịch tễ học

• Trong nghiên cứu dịch tễ học thì mẫu số cũng quan trọng

như tử số, các đại lượng này có quan hệ chặt chẽ với

nhau, nếu không có một trong 2 đại lượng trên thì không

thể tính được các thông số của dịch tễ học

• Bởi vì tử số là các trường hợp bệnh hoặc chết, còn mẫu

số là các trường hợp không bệnh, các động vật khoẻ hoặc

số động vật bị đe doạ

2 Tỷ lệ nhiễm

•T l nhim: là tỷ lệ mắc bệnh ở dạng đặc biệt

dùng trong trong điều tra dịch tễ, thông thường là

đồng nhất với tỷ lệ phát bệnh

•Bởi vì các ổ dịch thường xảy ra trong thời gian

tương đối ngắn nên tử số là số ca bệnh mới phát

bệnh trong một giai đoạn nhất định còn mẫu số là

tổng đàn gia súc bị đe doạ

•Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm trong các bệnh KST và một

số bệnh truyền nhiễm không hẳn đã đồng nhất với

tỷ lệ mắc bệnh Đối với các trường hợp này phải

căn cứ vào mức độ, vào cường độ nhiễm, hiệu giá

gây nhiễm để đánh giá động vật đó có mắc bệnh

hay không

Trang 11

3 Số hiện mắc và tỷ lệ hiện mắc

•Số hiện mắc của một bệnh nhất định bao gồm tất

cả số cá thể hiện đang có bệnh đó mà ta có thể

đếm được trong một quần thể ở một thời điểm

nhất định (trong nghiên cứu ngang) hoặc trong một

khoảng thời gian nhất định (các nghiên cứu dọc)

•Tỷ lệ hiện mắc sẽ có được bằng cách đem số hiện

mắc chia cho tổng số cá thể của quần thể (quần thể

có nguy cơ, quần thể định danh…) tuỳ mục tiêu của

nghiên cứu Tỷ lệ hiện mắc được ký hiệu là P

(Prevalence)

•Có 2 số đo của tỷ lệ hiện mắc:

T l hin mc đim: Tỷ lệ này được thu thập khi

tiến hành một nghiên cứu ngang, nó cho biết chính

xác tỷ lệ bệnh trong quần thể ở vào một thời điểm

nhất định khi nghiên cứu

Shin mc ca qun thvào mt thi đim

Pđ =

Tng scá thtrong qun thvào thi đim đó

Chú ý: gọi là thời điểm cho dễ hình dung nhưng

trên thực tế thời điểm ở đây được hiểu là một thời

gian ngắn: một ngày, một tuần, 2 tuần

Tlhin mc k:Tỷ lệ này được thiết lập khi tiến

hành một cuộc nghiên cứu dọc (nghiên cứu hồi cứu

hay tương lai)

Shin mc ca qun thtrong thi knghiên cu

Pkỳ=

Tng scá thtrung bình ca qun thtrong thi kđó

Tỷ lệ hiện mắc kỳ là một tỷ lệ được dùng khá phổ

biến, cần nhớ là khi nói tỷ lệ hiện mắc bao giờ cũng

phải xác định thời gian kèm theo, nếu không sẽ

không có ý nghĩa gì cả VD: Tỷ lệ mắc bệnh Nhiệt

thán ở trâu bò trong năm 1998 ở tỉnh Lai Châu là

4/1000 hay 0,4%

Trang 12

4 Số mới mắc và tỷ lệ mới mắc

•S mi mc: Có được khi tiến hành một cuộc

nghiên cứu dọc Nghĩa là một nghiên cứu được tiến

hành trong một khoảng thời gian dài, mà trong

khoảng thời gian đó người ta chỉ đếm số mới mắc

là số động vật mắc bệnh có thời điểm phát bệnh

nằm trong khoảng thời gian nghiên cứu (Không

gồm số động vật bệnh có thời điểm phát bệnh xảy

ra trước thời điểm bắt đầu nghiên cứu)

•T lmi mc:Có được khi đem số mới mắc chia

cho tổng số cá thể đại diện cho quần thể nghiên

cứu trong khoảng thời gian nghiên cứu

•Tỷ lệ mới mắc có nhiều ý nghĩa và ứng dụng thiết

thực trong dịch tễ học, rất có ích trong việc đánh

giá nguy cơ phát bệnh theo thời gian, nghiên cứu

vai trò của các yếu tố nguy cơ nghi ngờ một cách

sát thực, đánh giá được hiệu lực của các biện pháp

thú y đã được áp dụng hoặc can thiệp trong quần

thể để làm giảm tỷ lệ mới mắc, có ích trong quá

trình đánh giá một hiện tượng mắc hàng loạt, ước

lượng được thời kỳ tiềm tàng của bệnh (thời kỳ ủ

bệnh), đề ra được các biện pháp hợp lý và hữu

hiệu để ngăn chặn bệnh

•Tỷ lệ mới mắc được biểu thị dưới nhiều dạng khác

nhau, tuỳ tính chất và mục tiêu của nghiên cứu

Tc đmi mc:Là tỷ lệ mắc trong một đơn vị thời

gian xảy ra dịch tuỳ theo tình hình, diễn biến của

dịch mà đơn vị thời gian tính có thể là ngày, tuần,

tháng, quí, năm

Tlmi mc trong thi knghiên cu

TĐMM =

Đơn vthi gian nghiên cu

Số này còn gọi là số mắc trung bình hoặc tốc độ

mắc trung bình hoặc tốc độ tấn công trung bình

ngày, tuần, tháng, quí, năm của bệnh đó

Ngày đăng: 24/07/2014, 21:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN