1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf

21 459 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 254,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giống gà chuyên trứng và kiêm dụng đang nuôi phổ biến ở nước ta Gà chuyên trứng 1 Tam Hoàng 882 Trung Quốc 1992 Còn lại không nhiều 2 Tam Hoàng Jiangcun Hông Công 1995 Còn lại kh

Trang 1

Nhìn chung tổ chức công tác giống đều theo hướng phát triển những xí nghiệp chuyên môn hóa sau đây:

- Các xí nghiệp giống gốc và ngân hàng gen

- Các xí nghiệp nhân giống, nuôi gà ông bà, bố mẹ

- Các xí ngiệp và trại nuôi thương phẩm, các trại ấp

Các cơ sở này có nhiệm vụ và chức năng khác nhau, nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau tạo thành một hệ thống

Các xí nghiệp giống gốc và ngân hàng gen

Nhiệm vụ của các xí nghiệp này là giữ các dòng thuần và đảm bảo cung cấp cho các trại nhân giống những gà giống trứng và giống thịt tốt Bên cạnh đó các xí nghiệp này phải có

cơ sở để kiểm tra sức sản xuất của từng cá thể dòng thuần Các xí nghiệp này chỉ cung cấp cho các xí nghiệp nhân giống những gà đã qua kiểm tra về khả năng sản xuất để không ngừng nâng cao và bảo đảm năng xuất cho các xí nghiệp đó cũng như các trại thương phẩm

Các xí nghiệp nhân giống

Nhiệm vụ của các xí nghiệp nhân giống là nhân các đàn gia cầm đã nhận được từ các

xí nghiệp giống gốc để có thể cung cấp cho các xí nghiệp thương phẩm những đàn gia cầm tốt nhất Vì các xí ngiệp nhân giống không làm công tác giống chuyên môn nên tại đây không tiến hành kiểm tra sức sản xuất Các xí nghiệp giống có nhiệm vụ đảm bảo kế hoạch cung cấp con giống lâu dài, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cho các xí nghiệp nhân giống trên cơ sở các hợp đồng chặt chẽ Các xí nghiệp này cần được quy hoạch khoa học trên cơ sở nghiên cứu khả năng tiêu thụ của các trại thương phẩm Các nhà nuôi gia cầm của các xí nghiệp nhân giống cần được nhận gà cùng tuổi và xuất đi những gà mà tuổi của chúng đã được biết chắc chắn qua theo dõi trên sổ sách

ở miền Bắc nước ta, những xí nghiệp này có quy mô khá lớn như xí nghiệp nhân giống

gà hướng trứng Lương Mỹ, xí nghiệp nhân giống gà thịt Tam Dương… các xí nghiệp này đã được trang bị đầy đủ để đảm bảo việc sản xuất gà con tốt

Các xí nghiệp và trại nuôi thương phẩm

Nhiệm vụ của các cở sở này tương đối đơn giản, chủ yếu là sản xuất trứng, thịt để cung cấp cho thị trường

Các xí nghiệp sản xuất trứng nuôi gà mái đẻ thương phẩm nhận từ các cơ sở nhân giống khi chúng mới nở Sau khi khai thác trứng, đến khi gà mái đẻ giảm, không đạt hiệu quả kinh tế thì loại thải để giết thịt và lại nuôI đàn mới

Các xí nghiệp nuôi gà thịt nhận gà con thương phẩm mới nở, nuôi đến độ tuổi nhất định, thường là 6- 12 tuần tuổi thì xuất bán Thời gian nuôi ngắn hay dài tùy thuộc vào giống, điều kiện nuôi dưỡng, thị hiếu của khách hàng…

Các xí nghiệp sản xuất thương phẩm nên có quy mô lớn để có thể cơ giới hóa hoặc tự động hóa sản xuất, nhờ đó làm giảm chi phí và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn Tại các cơ

sở này có thể nuôi gà bằng loại thức ăn phù hợp để đảm bảo sức sản xuất cao và hạ giá thành sản phẩm

Các trạm ấp

Trang 2

Các trạm ấp nhận trứng từ các xí nghiệp nhân giống, quy mô của các trạm ấp được xác định dựa trên khả năng cung cấp trứng ấp của các xí nghiệp nhân giống và khả năng tiêu thụ

gà con của thị trường Gà con nở ra từ các trạm ấp này được cung cấp cho các xí nghiệp nhân giống, các cơ sở sản xuất thương phẩm, các hợp tác xã, và có thể bán rộng rãi cho nhân dân địa phương Trạm ấp không chỉ làm nhiệm vụ kinh doanh đơn thuần mà còn làm nhiệm vụ kiểm tra, thông báo chất lượng trứng ấp kịp thời cho các cơ sở sản xuất trứng ấp mà trạm nhận trứng Vì là trạm “đầu mối” nên các trạm ấp cần làm tốt công tác an toàn sinh học, vệ sinh, tiêm phòng ban đầu để đảm cảo cung cấp ra thị trường các đàn gà con sạch bệnh

2.1.5.Lai kinh tế (lai công nghiệp)

Là phương pháp cho giao phối giữa những con trống và con mái khác giống hay khác dòng với mục đích dùng con lai lấy sản phẩm Đây là phương pháp lai phổ biến nhất hiện nay trong chăn nuôi gia cầm

Cũng có thể lai kinh tế 4 máu (dòng)

Đây là phương pháp phổ biến nhất hiện nay để tạo con thương phẩm (cả thịt và trứng) Thông thừơng, các hãng cung cấp giống có một số lượng rất lớn các dòng thuần (hãng Sasso

có hàng trăm dòng khác nhau) Khi mua giống ông bà, người ta thường mua 3-4 dòng thuần,

đó chính là dòng ông bà (nội và ngoại), thường được ký hiệu là A; B; C và D Khi gà chuẩn bị vào đẻ, người ta ghép dòng ông nội A với dòng bà nội B để tạo ra con trống bố AB (bỏ con mái đi), ghép dòng ông ngoại C với dòng bà ngoại D để tạo con mẹ CD (bỏ con trống đi) Cho bố AB ghép với mẹ CD sẽ tạo ra con thương phẩm

Một ví dụ về công thức lai tạo gà trứng thương phẩm từ 4 dòng (theo Smith,1995) như sau:

Từ 4 dòng, gà A, B tạo ra dòng trống, C và D tạo ra dòng mái

Xin nhắc lai, ở gà siêu trứng, con trống thương phẩm có màu trắng, loại bỏ ngay, chỉ

để lại con mái có màu nâu nuôi đẻ trứng thương phẩm (ở gà siêu thịt, con trống và mái thường đều có màu trắng, gà thả vườn thì cả trống, mái thương phẩm đều có màu nâu)

Thế hệ ông bà cố (Great grandparents):

Trang 3

Bảng 16 Một số giống gà chuyên trứng và kiêm dụng đang nuôi phổ biến ở nước ta

Gà chuyên trứng

1 Tam Hoàng 882 Trung Quốc 1992 Còn lại không nhiều

2 Tam Hoàng Jiangcun Hông Công 1995 Còn lại không nhiều

3 Lương Phượng Trung Quốc 1997 Phát triển mạnh

11 Yellow Godollo Hungari 2002 ít phát triển

(Nguån: Bé N«ng nghiÖp vµ PTNT)

Năng suất trứng của một số tổ hợp chuyên trứng theo giới thiệu của các hãng gà nước

ngoài

Số lượng trứng đẻ Tên tổ hợp gà trứng

thời gian được tính Số trứng đẻ (quả)

Thức ăn tiêu tốn (kg) Leghorn Ba Vì 23-74 TT

2,3/kg trứng 1,4/10 trứng

2,2-2.5/kg trứng

Lohmann Brown 12 tháng đẻ

14 tháng đẻ

290-300 340-345

Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted

Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted

[1] [2] [3] [4] [5]

[28] [6]

[29] [7]

[30] [8]

[31] [9]

[32] [10]

[33] [11]

[34] [12]

[35] [13]

[36] [14]

[37] [15]

[38] [16]

[39] [17]

[40] [18]

[41] [19]

[42] [20]

[43] [21]

[44] [22]

[45] [23]

[46] [24]

[47] [25]

[48] [26]

[49] [27]

[50]

Trang 4

52 tuần đẻ Dekalb Brown 19-78 TT

2.2.Chọn lọc và đánh giá năng suất của gà mái đẻ

2.2.1.Chọn lọc giống theo ngoại hình và phương pháp phân biệt trống mái

Chọn lọc gà con 1 ngày tuổi

Việc chọn lọc gà con được bắt đầu từ lúc gà nở ra ở trạm ấp Đây là công việc được

tiến hành bắt buộc ở các cơ sở giống thuần, cũng như các cơ sở giống bố mẹ, thương phẩm

Gà con 1 ngày tuổi được chọn lọc tru?c h?t là ph?i cú ngu?n g?c rừ ràng và cú các đặc điểm

ngoại hình như sau: lông có màu đặc trưng của phẩm giống, bông, xốp, mắt sáng, nhanh

nhẹn, khối lượng sơ sinh lớn, chân bóng, cứng cáp, dáng đi vững vàng, phản xạ nhanh nhẹn

Bụng thon, rốn kín

Cần loại những cá thể có khuyết tật về ngoại hình như khoèo chân, hở rốn, bụng phệ, vẹo mỏ,

hậu môn dính phân, tầm vóc nhỏ, lông bết

Chọn lọc gà hậu bị

Trong giai đoạn này thường có hai thời kỳ chọn lọc đó là chọn lọc lúc kết thúc giai

đoạn gà con (42 hoặc 49 ngày tuổi đối với gà hướng thịt, 63 ngày tuổi đối với gà hướng

trứng), và chọn lọc lúc kết thúc giai đoạn gà hậu bị vào lúc 133 ngày tuổi đối với gà

hướng trứng và 140 ngày tuổi đối với gà hướng thịt

Chọn lọc giai đoạn này cũng dựa vào ngoại hình và khối lượng cơ thể Nhìn chung các

giống gà phát triển bình thường thì có đặc điểm mọc lông như sau: cuối tuần lễ thứ nhất đã

nhìn thấy lông đuôi, đặc biệt ở gà mái Trong tuần lễ thứ hai, lông mọc theo hình rẻ quạt ở

vai, sau đó mọc từ trong ra ngoài Dọc theo ranh giới phía dưới của cánh xuất hiện lông mọc

phía dưới đùi Trong tuần lễ thứ ba lưng đã có lông và xuất hiện lông ở phía diều Sau 20

ngày có lông gáy và tuần lễ thứ 5 có lông cổ Chỉ ở tuần lễ thứ 6 ở hai bên sườn của vùng

ngực mới xuất hiện hai mảng lông Đến tuần lễ thứ 7, gà hướng trứng đã có bộ lông tương đối

hoàn chỉnh Đối với gà hướng thịt thì bộ lông phát triển che kín thân muộn hơn từ 1 - 2 tuần

lễ Căn cứ vào mức độ mọc lông trên cơ thể gà có thể nhận biết tương đối tuổi gà Dựa trên cơ

sở này có thể rút ra kết luận về phương thức trao đổi chất và khả năng sản xuất sau này của

gia cầm Trong giai đoạn gà hậu bị, nhìn chung gà có chân tương đối cao và thân mình hẹp

Chỉ chọn những cá thể phát triển hoàn chỉnh, tầm vóc cân đối, mào và tích tai phát triển, bộ

lông óng mượt Đối với gà mái cần xem xét khoảng cách xương háng và khoang bụng Gà

trống cần có dáng đi hên ngang, lườn (bụng) càng dựng theo chiều đứng càng tốt (loại những

gà có lườn song song với mặt phẳng ngang - đó là gà broiler), tốt nhất là tạo một góc trên 45o

so với mặt phẳng ngang, hai chân vững chắc, đi đứng vững vàng, nhanh nhẹn, tính tình hiếu

Nhỏ, nhợt nhạt

Formatted: Centered Formatted: Centered

Formatted: Font: 14 pt Formatted: Font: 14 pt Formatted: Level 1 Formatted: Font: 5 pt, English

(U.S.)

Trang 5

Phát triển tốt, khoảng cách giữa cuối

xương lườn và xương háng rộng

Màu vàng, bóng, ngón chân ngắn

Mềm, sáng, phát triển tốt

Ưa hoạt động

Hẹp, ngắn, nông Kém phát triển, khoảng cách giữa cuối xương háng và xương lườn hẹp

Màu nhợt, thô giáp, ngón chân dài

Xù, kém phát triển

Dữ tợn hoặc uể oải

Chọn lọc gà mái đang đẻ

Trong quá trình nuôi dưỡng gà mái đẻ, đặc biệt gà bố mẹ, cần định kỳ chọn lọc, để

loại ra khỏi đàn những cá thể đẻ kém Chọn gà mái trong giai đoạn này cũng dựa vào các bộ

phận của cơ thể như mào, khoảng cách giữa xương háng và mỏm xương lưỡi hái, lỗ huyệt, bộ

lông

Những đặc điểm bên ngoài của gà mái mái đẻ tốt và đẻ kém

Mào và tích tai

Khoảng cách giứa xương háng

Khoảng cách giữa mỏm xương

lưỡi hái và xương háng

Lỗ huyệt

Bộ lông

Màu săc mỏ, chân

To, mềm, màu đỏ tươi Rộng, để lọt 3 - 4 ngón tay

Rộng mềm, để lọt cả 3 ngón tay

Ướt, to, cử động, màu nhạt

Không thay lông cánh hàng thứ nhất

Đã giảm màu vàng của mỏ, chân, mắt, tai

Nhỏ, nhợt nhạt, khô Hẹp, để lọt 1 - 2 ngón tay, cứng

Hẹp, cứng, chỉ để lọt 1 - 2 ngón tay

Khô, bé, ít cử động, màu sắc đậm

Đã thay 5 hoặc nhiều hơn lông cánh hàng thứ nhất Màu vẫn giữ nguyên

Căn cứ vào những đặc điểm trên chúng ta có thể chọn được những gà mái tốt Có thể

mổ một vài cá thể gà mái để xác định sự phát triển của buồng trứng và ống dẫn trứng

Về hình dạng bên ngoài, gà mái đẻ cũng khác với gà mái không đẻ Gà mái đẻ có mào

và tích đỏ tươi, căng và sáng, có lông trơn, phát triển tốt Gà mái đẻ đã lâu thì lông đuôi bị xơ

xác, xù, rụng lông ở lưng Khoảng cách giữa hai đầu xương hông và khoảng cách giữa xương

hông đến đầu xương mỏ ác ở gà mái đẻ rộng hơn gà mái không đẻ Gà mái đã đẻ một thời

gian dài thì màu mỏ, màu chân và các bộ phận khác trên trở nên nhợt nhạt, vì sắc tố xantofin

đã lần lượt bị tiêu phí vào lòng đỏ và không được bù đủ từ thức ăn

Theo Hutt, các vùng da bụng, mi mắt và dái tai sau khi gà bắt đầu đẻ được một tuần

thì đã bị mất sắc tố Sau một tháng thì mỏ nhợt nhạt, sau bốn đến sáu tháng thì sắc tố chân

hoàn toàn mất đi Hiện tượng mất màu bắt đầu từ đáy mỏ và kết thúc vào đầu mỏ Sau khi gà

tạm nghỉ đẻ hai tuần rồi tiếp tục đẻ lại thì quãng giữa mỏ có thể xuất hiện một vành vàng, do

sắc tố tụ lại đầy trong thời gian tạm nghỉ Ở đáy mỏ và đầu mỏ vẫn còn các phần có màu

Hiện tượng này không thấy ở các giống gà có mỏ và chân màu đen hay màu trắng

Dực vào các dấu hiệu đó, ấy người ta dàng xác định xem gà hiện đang đẻ hay đã đẻ từ

lâu và ước lượng tỷ lệ đẻ Phương pháp này và những phương pháp đánh giá năng suất tương tự

giúp ta khả năng phát hiện và kiên quyết thải loại những gà mái không đẻ

Những ý muốn xác định mối quan hệ giữa năng suất và độ lớn của một số bộ phận cụ

thể của cơ thể, trước hết là độ lớn của đầu gà, để trên cơ sở đấy có thể đánh giá sản lượng

trứng đã không mang lại kết quả Việc tìm mối quan hệ giữa thể trọng và năng suất cũng

không kém phức tạp hơn Ngay trong cùng một giống, những mái nhẹ cân nhất vì một lý do

Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese

Formatted: Vietnamese

Trang 6

rối loạn sinh trưởng nào đấy mà bị chậm lớn cũng như những mái nặng cân nhất, do béo quá

đều có năng suất thấp Giữa hai thái cực này là những cá thể có khối lượng trung bình và thể

trọng của chúng cũng không đại diện cho năng suất được

Người ta cũng nêu quan hệ giữa chiều dài và chiều rộng của lông với năng suất

Gericke và Erasmus xác định rằng, lông hẹp có quan hệ với năng suất cao ở gà mái Lơgo

trắng và mái Apstralo đen và dạng lông này thường hay gặp ở một số gà có lông ngắn hơn là

ở số có lông dài, nhưng đồng thời những mái có lông khá dài và rộng cũng đẻ nhiều

Vì người ta cho rằng, có mối quan hệ giữa hiện tượng thay lông và sản lượng trứng nên

người ta đề nghị dùng khoảng thời gian thay lông làm thước đo năng suất Như đã biết, những

gà mái thay lông muộn có năng suất cao hơn những gà mái thay lông sớm Vì vậy vào mùa thu,

quan sát gà mái có thể biết những mái thay lông sớm và loại chúng ra khỏi đàn

Về vấn đề này Marble nghiên cứu chi tiết hơn, sau khi theo dõi quá trình thay lông

ông xác định rằng, hiện tượng thay lông diễn ra trên các bộ phận cơ thể theo tuần tự có tính

quy luật Lông ở thân rụng sớm hơn lông đuôi và lông cánh một ít Những gà mái xấu bắt đầu

thay lông sớm hơn và lông ở thân của chúng rụng nhiều hơn Nhưng tính chất hay lông không

thể dùng làm chỉ tiêu phân loại gà theo năng suất

Tất cả những ý định chọn lọc gà mái theo mức tăng của khối lượng trứng, theo thân

nhiệt hoặc theo nốt sinh dục trong lỗ huyệt gà mái con khi mới nở đều tỏ ra không có kết quả

Ổ sập và việc sử dụng ổ sập Để đánh giá năng suất các cá thể của gia cầm thì phương pháp

dùng ổ sập là tiện lợi và phổ biến hơn cả Phương pháp tính này đơn giản và chắc chăn hơn phương

pháp “sờ nắn” gia cầm

Ổ sập đầu tiên do Bibra đóng ở Viên năm 1897 Ý nghĩa của ổ sập là ở chỗ gà mái khi

vào ổ ấy đẻ thì sẽ ở luôn tại đấy cho đến lúc người ta mở cho ra, do đó người chăn nuôi đọc

được số của nó mà ghi lên vỏ trứng Mỗi trứng gà đẻ ra đều được ghi vào sổ riêng Cách hai

giờ một lần (khi đẻ rộ thì thời gian này ngắn hơn) người ta thả cho gà mái ra khỏi ổ và ghi số

trứng đẻ vào sổ Do đó ổ sập làm tăng khối lượng công việc khá lớn Từ đấy có thể hiểu được

vì sao người ta không dùng phương pháp kiểm tra này suốt năm và cố tìm cách rút ngắn thời

gian kiểm tra đến mức có thể được Trong các tài liệu nghiên cứu có thống kê tỷ mỉ, Garrys

và những CTV chứng minh rằng, có thể dự tính được sản lượng đúng nhất của gà mái trên cơ

sở các số liệu thu được trong bốn tháng mùa đông (từ tháng mười đến tháng giêng) và hai

tháng mùa hè (tháng tám và tháng chín) Điều ấy có nghĩa là trong việc đánh giá gà mái, điều

quyết định là năng suất tính vào những tháng mà chỉ có những mái tốt mới đẻ nhiều Vì vậy,

nếu không yêu cầu chính xác cao thì tiến hành kiểm tra vào mùa đông và cuối mùa hè cũng có

thể đáp ứng được Trên cơ sở các số liệu tính toán thích hợp, Wolter và Korf chứng minh

rằng, trong nhiều trường hợp chỉ cần tiến hành kiểm tra vào quãng một vài tháng trong năm

và dựa vào các số liệu kiểm tra bộ phận ấy cũng đã có thể nêu lên các kết luận về năng suất cả

năm nói chung Thompson chia năm đẻ trứng ra làm ba giai đoạn: giai đoạn đầu gồm bốn

tháng mùa đông, giai đoạn hai xem là giai đoạn năng suất trứng lên cao và giai đoạn cuối

cùng kéo dài 30 ngày cuối năm đẻ trứng Tác giả kiểm tra năng suất trứng trong giai đoạn đầu

và giai đoạn cuối, cộng chung là 150 ngày Trong giai đoạn năng suất trứng lên cao thì không

tiến hành kiểm tra năng suất Cũng dựa trên cơ sở ấy, Wolter nêu ý kiến làm giảm bớt công

việc của người nuôi gia cầm vào những tháng mùa xuân khi công việc ở trại chăn nuôi đặc

biệt nhiều Thompson và Djeffry xác nhận rằng, năng suất tính trong năm dựa trên các số liệu

kiểm tra trong bốn tháng mùa đông (từ tháng một đến tháng giêng) và từ tháng sáu đến tháng

chín, bình quân chỉ chênh lệch 16 quả so với năng suất thực tế Veit đi đến kết luận rằng, chỉ

nên sử dụng ổ sập trong các tháng xuân – hè (từ tháng ba đến tháng bảy) và chỉ trong thời kỳ

này mới xác định năng suất chung toàn đàn Trường hợp bất đắc dĩ cũng có thể đặt ổ sập vào

cả trong tháng tám

Cũng có thể giảm bớt việc sử dụng ổ sập bằng cách thường xuyên kiểm tra năng suất

đẻ nhưng có thời gian cách quãng xen kẽ Ví dụ có thể kiểm tra năng suất trứng hằng tuần vào

Formatted: Vietnamese

Trang 7

một ngày nhất định Về vấn đề này Dadly (theo trích dẫn của Rauch, đã tìm được mối tương

quan giữa số liệu kiểm tra trong thời gian ngắn với năng suất thực tế là 0,90 – 0,92 Nếu tiến

hành kiểm tra bốn tuần một lần trong thời gian bốn ngày liên tục thì cũng có thể đạt mức

chính xác như thế Nếu hằng tháng kiểm tra một lần trong suốt thời gian một tuần lễ thì có thể

đạt mức chính xác cao hơn

Rauch kiểm tra năng suất trứng trong 13 ngày liền thì thấy mức độ chênh lệch hằng

tháng so với năng suất thực tế là ±8 trứng, chênh lệch tối đa là ±27 trứng Norskog và

Crump nghiên cứu khả năng rút ngắn việc kiểm tra: 1) tiến hành kiểm tra sau những thời gian

bằng nhau; 2) định một số ngày kiểm tra liên tục; 3) tiến hành kiểm tra một cách tuỳ tiện (so

sánh với số liệu kiểm tra trong những ngày 1, 2, 4, 7 và 14 tháng) Sai khác giữa ba phương

pháp không đáng kể Nếu kiểm tra các nhóm gà mái cần so sánh với nhau vào những ngày

khác nhau thì phương pháp đầu có kết quả chính xác hơn

Công trình của Rauch đã đặt cơ sở cho công tác nghiên cứu sau này về vấn đề tính

chính xác của việc kiểm tra có chọn lọc khi tính năng suất trứng Tác giả nêu công thức để dự

tính độ lệch trung bình và độ lệch tối đa so với năng suất thực tế khi kiểm tra có chọn lọc Ví

dụ nếu kiểm tra mỗi tuần sáu ngày thì độ lệch trung bình là ±4 trứng và tối đa là ± 11 trứng

Đối với công tác tuyển chọn gà thì độ chính xác này (±4 trứng) đã hoàn toàn đạt yêu cầu

Một khó khăn lớn là khi đánh giá năng suất cá thể, người ta không rõ là có độ lệch trung bình

hay độ lệch tối đa, vì vậy, khi kiểm tra hai gà mái cùng năng suất như nhau, trong thực tế có

thể chênh lệch tối đa là 22 trứng tức là gấp đôi độ lệch tối đa

Nếu người ta cho rằng, đối với những giống gà hiện nay có năng suất tương đối cao

khi chọn lọc mà chênh lệch nhau mười trứng là đã đạt yêu cầu thì trong lúc kiểm tra có chọn

lọc, mức chính xác trong việc xác định năng suất không được phép vượt quá con số ấy Trong

thực tiễn, việc kiểm tra sáu ngày liền vẫn thường là đề tài tranh luận vì theo phương pháp này

thì ngày chủ nhật có thể không tiến hành kiểm tra Tuy nhiên, do bỏ một ngày cách quãng

trong tuần nên việc đặt lại các ổ sập không còn ý nghĩa nữa là do đó, số ngày kiểm tra bị giảm

xuống ít nhất là từ hai đến ba ngày Theo Rauch, nếu hằng tuần kiểm tra năm ngày thì độ lệch

trung bình tăng lên ±6, độ lệch tối đa đến ±18, nếu kiểm tra bốn ngày thì sẽ có ±8 và ±24

trứng Các độ lệch ấy đều vượt quá giới hạn chênh lệch cần chú ý khi chọn lọc, vì vậy các độ

lệch ấy phải là đáng tin về mặt thống kê Meller và Coombs nghiên cứu lại phương pháp kiểm

tra từ hai đến ba ngày trong tuần đã đi đến kết luận rằng, phương pháp này mang lại kết quả

rất chính xác, nếu so sánh số trứng bình quân do 25 gà mái, con của một gà trống sinh ra hoặc

do các nhóm gà mái cùng bố mẹ, năm con hoặc trên năm con trong cùng một nhóm với năng

suất bình quân đã được xác định của những nhóm này Kết luận này không có gì là đột ngột vì

khi tập hợp một số gà để có số liệu trung bình thì tự nhiên những độ lệch có thể có sẽ bù trừ

nhau, đồng thời cũng trung bình hoá khả năng tuyển chọn, nghĩa là người nuôi gà có thể chọn

nhóm gà tốt nhất nhưng lại không có khả năng chọn những cá thể mang nhiều đặc tính di

truyền tốt nhất trong quần thể này

Khi kiểm tra có chọn lọc thì không thể xác minh thời gian kéo dài của thời kỳ đẻ trứng

- một trong các yếu tố quan trọng của năng suất, vì không thể xác định chính xác thời gian bắt

đầu và kết thúc đẻ trứng Cũng đúng như thế, kiểm tra có chọn lọc không cho phép đánh giá

những lứa trứng điển hình cho mỗi gà mái khác nhau

Sản lượng hàng năm

Khái niệm về “sản lượng hàng năm” rất phổ biến, vì những mái tơ tốt đẻ trứng kéo dài

gần một năm cho đến khi thay lông lần đầu tiên Có thể tính thời gian bắt đầu năm đẻ trứng

theo nhiều cách khác nhau Cách đơn giản nhất là bắt đầu tính từ lúc gà đẻ quả trứng đầu tiên

Ưu điểm của phương pháp này là có tính đến kỳ hạn gà mái con nở ra Nhưng trước khi tiến

hành một sự so sánh nào đấy hoặc tiến hành tính toán theo các nhóm chị em hoặc các nhóm

con gái thì cần phải đợi đến khi các mái tơ nở muộn nhất và các mái tơ bắt đầu đẻ muộn nhất

Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese

Trang 8

đẻ xong Như vậy việc chọn đôi để tiếp tục nhân giống bị trở ngại và kéo dài Nhược điểm

này càng bộc lộ rõ khi các cơ sở giống cùng tiến hành ghi lý lịch gà nhằm mục đích tổ chức

bán gà trống ra ngoài địa phương mình Vấn đề này có liên quan đến một công tác cực kỳ

khẩn trương và hầu như quá khả năng và tính năng suất trứng của gà mái trong địa phương

Có thể nêu thêm một nhược điểm nữa của cách tính sản lượng cá thể hằng năm: những gà mái

đẻ muộn nếu đẻ một số trứng giống như các mái đẻ sớm thì cũng được đanh giá cao như các

mái đẻ sớm

Vì vậy, ở một số địa phương người ta quy ước thời gian bắt đầu năm đẻ trứng của tất

cả gà mái cùng nở trong năm đều quy vào một kỳ hạn nhất định Kỳ hạn này được xác định

vào quãng thời gian khi đại đa số gà mái, cùng nở vào mùa ấp trứng bình thường bắt đầu đẻ

trứng Trong trường hợp này những mái nở sớm hơn kỳ hạn thông thường được đánh giá quá

cao, còn những mái nở muộn bị đánh giá quá thấp Nếu thời gian ấp trứng không kéo dài quá

thì có thể nhân nhượng với nhược điểm này: khi so sánh sản lượng trứng theo các nhóm chị

em hoặc các con gái thì mức chênh lệch giảm bớt nhiều, vì thông thường mỗi nhóm đều có

một số gà nở sớm, muộn và bình thường, gần như nhau Phương pháp này cho phép bắt đầu

tính sản lượng trứng vào một thời gian nhất định, là một phương pháp rất có ích khi phải tính

toán số liệu ở những cơ sở nuôi gà lớn Ví dụ ở Đức, ở trong các cơ sở nuôi gà giống, người ta

tính sản lượng trứng từ ngày một tháng mười đến 30 tháng chín năm sau và để tránh chênh

lệch quá nhiều, người ta quy định thời gian ấp trứng gà giống giới hạn trong chín tuần Số

trứng đẻ ra trước ngày bắt đầu năm đẻ được ghi lại trước số trứng đẻ trong năm và có một

gạch nghiêng để phân biệt Vì các xí nghiệp giống không phải có mục đích tự cấp, mà mục

đích của nó là cung cấp gà tốt cho các xí nghiệp thương phẩm nên khi xác định thời gian bắt

đầu năm đẻ trứng, cần phải tính đến khả năng của các xí nghiệp thương phẩm Quy định kỳ

hạn bắt đầu tính sản lượng năm có nghĩa là người chọn giống phải chọn nuôi những mái nào

đẻ nhiều trứng nhất, vào thời gian có lợi nhất cho ngành chăn nuôi gà Nếu hoàn cảnh của đa

số xí nghiệp thay đổi thì người chọn giống phải thay đổi kỳ hạn năm tính

Trong trường hợp kiểm tra năng suất không tiến hành ở những cơ sở giống, mà ở các

trạm đặc biệt nhằm mục đích này thì việc kiểm tra phải bắt đầu và kết thúc vào cùng một lúc

ở tất cả các cơ sở Dù người chọn giống được tự do chọn gà đến bao nhiêu đi nữa cũng vẫn

phải kiểm tra những mái đẻ nhiều nhất vào thời gian này

Trường đại học Cornell ở Mỹ nêu một phương pháp kiểm tra khác, theo đấy chỉ tính

số trứng đẻ ra trước khi gà được 500 ngày tuổi Đó là cách tính sản lượng trứng theo năm đẻ

trứng sinh học Hutt thấy ưu điểm của phương pháp này là ở chỗ việc kiểm tra kết thúc tương

đối sớm, năm sau có thể tiến hành chọn lọc kịp thời và có thể bố trí các mái tơ vào chuồng đẻ

Nếu tính gà bắt đầu đẻ trứng khi được 180 ngày tuổi thì phương pháp kiểm tra này chỉ kéo dài

trong vòng 320 ngày tức là ít hơn phương pháp tính năng suất cả năm là 45 ngày Ngoài sự

khác biệt đó, không có gì khác với cách tính sản lượng trứng cá thể hằng năm, vì vậy nó cũng

mang những ưu điểm và nhược điểm như đã nêu trên

Có thể bắt đầu tính năm đẻ trứng từ quả trứng đầu tiên nhưng kết thúc đúng vào một ngày

quy định Ví dụ vào ngày 30 tháng chín năm sau Phương pháp này loại bỏ những khó khăn khi tính

toán tổng kết do thời gian kết thúc đẻ trứng trong năm của những cá thể không giống nhau nhưng

cần phải bắt đầu kiểm tra sớm hơn và làm cho các mái nở muộn bị thiệt thòi

Đến nay vẫn chưa tìm được phương pháp có thể làm thoả mãn mọi yêu cầu cần xác định

năm đẻ trứng đầu tiên và hiện nay vẫn chưa có sự nhất trí quốc tế về phương pháp kiểm tra trong

năm đẻ trứng đầu tiên Ở những nước khác nhau đều được tiến hành việc kiểm tra này theo các

phương pháp khác nhau.Kết quả là so sánh các số liệu về năng suất trở nên rất khó khăn, vì khi so

sánh các số liệu ấy trong năm đẻ trứng đầu tiên mà không tính đến phương pháp thu thập số liệu

thì sẽ phạm sai lầm lớn Hiện nay, khi tiếp thu các số liệu về năng suất ở những nước khác nhau thì

cần thiết phải hỏi xem số liệu ấy đã được tính theo phương pháp nào

Trang 9

Giá như dùng số lượng trứng đẻ ra không những chỉ trong năm đầu mà còn trong hai

ba năm liền để xác định năng suất thì vấn đề sẽ đơn giản hơn nhiều Nếu tính năng suất trong

thời gian vài năm thì sự chênh lệch do một số mái cá biệt đẻ sớm hay muộn vài tuần sẽ không

có ý nghĩa gì quan trọng; những nhân tố khác như tình trạng sức khoẻ, khả năng đề kháng,

khoảng thời gian thay lông và đẻ trứng, khoảng thời gian của các chu kỳ sẽ có ảnh hưởng

quyết định đối với sản lượng trong thời gian vài năm

Đối với việc đánh giá sản lượng của gà mái trong ba năm tuổi thì vấn đề dùng phương

pháp nào để tính sản lượng trong năm đầu sẽ không còn ý nghĩa nữa Nếu tiến hành chọn lọc

theo sản lượng dài hạn (ví dụ như trong chăn nuôi gà giống ở Đức người ta chuộng những gà

có năng suất hàng năm đều nhau, tính trong ba năm liền) thì phương pháp tiến hành chọn lọc

trong năm đầu không có ý nghĩa gì cả Theo ý kiến của Hutt có thể hy vọng rằng, sau này khi

tiến hành tuyển chọn gà mái có năng suất cao trong thời gian một vài năm thì đồng thời có thể

nâng cao năng suất trong năm đẻ trứng đầu tiên Phương pháp này đặt ra yêu cầu cấp bách

hơn về việc tuyển các gà mái khoẻ mạnh

Không thể đánh giá sản lượng trứng hàng năm theo tỷ lệ đẻ Chỉ tiêu này chỉ nêu được

cường độ đẻ trứng toàn đàn bằng cách tính số trứng được đẻ ra trong 100 mái (Romer) Như

khi xây dựng các đàn mái, đôi khi người ta cần xác định vào thời gian nào thì đạt tỷ lệ đẻ 25

hoặc 50%

2.3.Thức ăn cho gà đẻ các loại

2.3.1 Thức ăn cho gà sinh sản hướng thịt

Gà sinh sản hướng thịt được chia làm 5 giai đoạn: giai đoạn gà con, giai đoạn gà dò,

giai đoạn đẻ khởi động, gà đẻ pha I, gà đẻ pha II Tuy vậy tuỳ điều kiện chăn nuôi của mỗi

nước có thể thêm hoặc rút bớt sự chia giai đoạn cho phù hợp

Ứng với mỗi giai đoạn tuổi, có tiêu chuần khẩu phần thức ăn riêng cho nó, gọi là tiêu

chuẩn khẩu phần thức ăn theo giai đoạn (TCKPTA) nói chung có 5 TCKPTA sau:

- TCKPTA gà con - giai đoạn 0 - 6 tuần tuổi

- TCKPTA gà dò - giai đoạn từ 7 - 19 tuần tuổi

- TCKPTA gà đẻ khởi động - giai đoạn từ 20 - 22 tuần tuổi

- TCKPTA gà đẻ pha I - giai đoạn từ 23 - 40 tuần tuổi

- TCKPTA gà đẻ pha II - giai đoạn từ 41 - 66 tuần tuổi

a Thức ăn cho gà con 0 - 6 tuần tuổi (hoặc 0-4 tuần tuổi)

Gà con giai đoạn này sinh trưởng, tăng trọng nhanh Vì vậy chất lượng và số lượng

thức ăn phải đảm bảo theo đúng nhu cầu sinh lý của chúng, thức ăn tốt, gà khoẻ mạnh, sức

sống cao, chọn lên đàn hậu bị nhiều (bảng 17)

Chế độ cho gà ăn tự do 23 - 34 giờ/ngày trong 2 -3 tuần tuổi Có thể kéo dài thời gian

cho gà ăn tự do đến 5 - 6 tuần tuổi

Sau đó rút số lượng thức ăn từ từ, đó chính là phương pháp cho ăn hạn chế nhằm

đảm bảo không để gà hậu bị quá béo, đẻ đúng tuổi… sức khoẻ tốt, gà sẽ đẻ trứng to, năng suất

trứng cao và đúng quy luật Nuôi gà hậu bị với thức ăn hạn chế đã trở thành một kỹ thuật, một

nghệ thuật… rất khó thực hiện, đòi hỏi người chăn nuôi có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm Mấu

chốt của vấn đề là gà có khối lượng hàng tháng luôn luôn đạt tiêu chuẩn (theo bảng khối lượng

chuẩn hướng dẫn của hãng cung cấp) và vào đẻ đúng tuổi theo quy định

Riêng giống gà thuần và bố mẹ được thuần dưỡng ở Việt Nam như BE88, HV85, kể

cả gà bố mẹ nhập nội AA, ISA, người ta chia làm 2 KPTA, KPTA khởi động 0 - 2 (hoặc 3)

tuần tuổi và 3 (hoặc 4) - 6 tuần tuổi

Nuôi gà trống giống, tách riêng gà mái ngay từ 1 ngày tuổi được hướng dẫn ở bảng 17

Bảng 17 Yêu cầu dinh dưỡng thức ăn cho gà con mái và trống hậu bị

0 - 6 (4) tuần tuổi (viết tắt TT)

Formatted: Font: 14 pt Formatted: Level 1 Formatted: Font: 6 pt Formatted: Font: 14 pt

Formatted: Font: 3 pt, Vietnamese

Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Vietnamese, Condensed

by 0.2 pt

Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Vietnamese, Condensed

by 0.2 pt

Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Vietnamese, Condensed

by 0.2 pt

Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Vietnamese Formatted: Font: 1 pt

Trang 10

Thành phần dinh dưỡng

trong 1 kg thức ăn

Gà nhập nội BE88, AA, ISA, Lohmann, Ros-308 0 - 6 TT

Gà AA

0 - 4 TT

Gà Isavedette

66

44

44 1,1 5,0 0,10

11000

3300

22 2,2 5,5 11,0 33,0 1,1 0,11 0,13 4,40 0,88 + 0,66

17 - 18

2800 - 2915 3,00 3,00 - 5,00 0,90 - 1,00 0,45 - 0,50 0,45 - 0,50 0,90 - 0,95 0,34 - 0,36 0,68 - 0,72 0,17 - 0,18

66

44

44 1,1 5,0 0,10

11000

3300

22 2,2 5,5 11,0 33,0 1,1 0,11 0,13 4,40 0,88 + 0,66

120

18

2800 3,00 - 4,00 3,00 - 5,00 1,05 - 1,1 0,50 0,45 0,86 0,44 0,75 0,20

60

50

50 1,0 5,0 0,2

1300

3000

30 2,0 2,0 8,0 10,0 60,0 3,0 0,15

1000 0,02 0,50

-

Bảng 18 Lượng thức ăn và khối lượng cơ thể (KLCT) của gà con hậu bị (đơn vị g)

Các giống gà nhập nội (VN)* Gà AA (Mỹ) Gà ISA dòng lùn chân (Pháp)

KLC

T

TA/co n/ngày

KLC

T

TA/co n/ngày

KLC

T

TA/co n/ngày

KLC

T

TA/co n/ngày

* Gà nhập nội vào Việt Nam

Một số giống thuần BE88, một số giống bố mẹ như AA, Isavedetle (ISA), Lohmann

Formatted: Font: 2 pt Formatted: Condensed by 0.5 pt Formatted: Condensed by 0.9 pt Formatted: Condensed by 1 pt Formatted: Condensed by 1 pt Formatted: Condensed by 1 pt Formatted: Condensed by 1 pt

Deleted: ¶

Ngày đăng: 24/07/2014, 17:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 16. Một số giống gà chuyên trứng và kiêm dụng đang nuôi phổ biến ở nước ta - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 16. Một số giống gà chuyên trứng và kiêm dụng đang nuôi phổ biến ở nước ta (Trang 3)
Bảng 18. Lượng thức ăn và khối lượng cơ thể (KLCT) của gà con hậu bị (đơn vị g) - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 18. Lượng thức ăn và khối lượng cơ thể (KLCT) của gà con hậu bị (đơn vị g) (Trang 10)
Bảng 20. Lượng thức ăn và khối lượng cơ thể gà dò (hậu bị) 7 - 20 TT - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 20. Lượng thức ăn và khối lượng cơ thể gà dò (hậu bị) 7 - 20 TT (Trang 11)
Bảng 19. Yêu cầu dinh dưỡng trong thức ăn cho gà dò hậu bị mái - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 19. Yêu cầu dinh dưỡng trong thức ăn cho gà dò hậu bị mái (Trang 11)
Bảng 21. Yêu cầu chất dinh dưỡng trong thức ăn của gà mái và gà trống ở thời kỳ đẻ - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 21. Yêu cầu chất dinh dưỡng trong thức ăn của gà mái và gà trống ở thời kỳ đẻ (Trang 13)
Bảng 22. Lượng thức  ăn, khối lượng cơ thể  của gà mái và gà trống giai đoạn sản xu ất trứng - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 22. Lượng thức ăn, khối lượng cơ thể của gà mái và gà trống giai đoạn sản xu ất trứng (Trang 14)
Bảng 23. Sức sản xuất trứng giống và gà con/mái qua các tuần khai thác (tính bình quân - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 23. Sức sản xuất trứng giống và gà con/mái qua các tuần khai thác (tính bình quân (Trang 15)
Bảng 24. Tiêu chuẩn dinh dưỡng trong khẩu phần của gà đẻ các giai đoạn nuôi trong - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 24. Tiêu chuẩn dinh dưỡng trong khẩu phần của gà đẻ các giai đoạn nuôi trong (Trang 16)
Bảng 25. Khối lượng cơ thể và tiêu thụ thức ăn hàng tuần qua các giai đoạn nuôi (bình - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 25. Khối lượng cơ thể và tiêu thụ thức ăn hàng tuần qua các giai đoạn nuôi (bình (Trang 17)
Bảng 26. Bổ sung các vitamin vào thức ăn hỗn hợp cho gà đẻ - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 26. Bổ sung các vitamin vào thức ăn hỗn hợp cho gà đẻ (Trang 18)
Bảng 27. Tiêu chuẩn dinh dưỡng TAHH cho giống gà Tam hoàng nuôi đẻ trứng - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 27. Tiêu chuẩn dinh dưỡng TAHH cho giống gà Tam hoàng nuôi đẻ trứng (Trang 20)
Bảng 29. Tiêu chuẩn thức ăn, sản lượng trứng và gà con của gà Tam Hoàng - TRỨNG VÀ ẤP TRỨNG GIA CẦM part 4 pdf
Bảng 29. Tiêu chuẩn thức ăn, sản lượng trứng và gà con của gà Tam Hoàng (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN