1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kỹ thuật chăn nuôi dê part 8 pot

13 302 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 355,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh thối móng có tính truyền nhiễm rất cao, khi phát hiện ra một con bệnh thì phải kiểm tra toàn bộ chân của đàn dê để điều trị.. Triệu chứng lâm sàng Các nốt nhú đỏ phát triển nhanh t

Trang 1

chân bị mềm và ẩm dễ bị viêm da và chấn thương cơ học Các yếu tố môi trường

và quản lý khác dẫn đến các dạng bệnh trên là: Sân ướt, lầy bùn, bãi cỏ chăn thả

không thoát nước, móng chân mọc dài, nhốt chật chội, dê mới nhập đàn bị bệnh, dê

vận chuyển từ xa về thải mầm bệnh vào đồng cỏ Móng chân mọc dài nhanh là một

trong nguyên nhân chính gây bệnh, vì vậy phải thường xuyên kiểm tra và cắt móng

chân cho dê

Điều kiện để lây lan bệnh là gia súc nhiễm bệnh và mẫn cảm với bệnh tiếp xúc với

nhau trên đồng cỏ trong môi trường ẩm và nóng

Triệu chứng lâm sàng

Dê bị què rõ rệt khi thấy có hoại tử ở xung quanh móng Lúc đầu dê chống 2 khuỷu

chân trước dể đi, sau đó thì không đi được nữa Biểu bì giữa các móng chân bị

xưng lên Lớp móng sừng bong ra khỏi ngón chân, mủ xuất hiện Mùi thối do hoại

tử rất đặc trưng Thể lực suy sút và khả năng sản xuất giảm

Điều trị

Trang 2

Bệnh thối móng có tính truyền nhiễm rất cao, khi phát hiện ra một con bệnh thì

phải kiểm tra toàn bộ chân của đàn dê để điều trị

Một số kỹ thuật điều trị cần quan tâm như cắt móng chân, sử dụng bể thuốc ngâm

chân và điều trị kháng sinh Gọt bỏ những phần tổ chức bị chết, tìm các bọc mủ và

loại bỏ hết mủ đi, sau đó ngâm chân mắc bệnh vào bể thuốc sát trùng Dao gọt

móng nên sát trùng bằng dung dịch formalin 10% để tránh sự lây lan bệnh Các

vẩy cắt từ móng thối phải đem đốt

Sử dụng dung dịch ngâm chân sát trùng phải đảm bảo không gây kích thích da

người và dê khi bước vào bể Dung dịch Sun-phát kẽm 10% là nồng độ phù hợp và

có tác dụng tốt Trong trường hợp nặng cần ngâm chân trong 1 giờ, lặp lại 3

lần/tuần Sau khi ngâm xong nên để dê ở nền đất khô để cho móng khô

Có thể dùng một số thuốc kháng khuẩn thay cho việc ngâm chân sau khi cắt gọt

móng Các thuốc đó là: sulfat kẽm, sulfat đồng Một số kháng sinh như

Trang 3

Tetracyclin, và Penicillin cần được rắc hoặc bôi trực tiếp vào phần móng viêm Sau

khi rắc thuốc cần băng móng để chóng hồi phục

Tiêm kháng sinh cũng có thể có tác dụng (1 liều tiêm penicillin 40.000 IU/kg, tiêm

bắp)

Trong khi điều trị không được cho dê vào chỗ ướt, lầy bẩn Không cho chăn thả

cùng với đàn dê khoẻ ít nhất 14 ngày sau điều trị

Phòng bệnh

Phải kiểm tra chân dê mới mua về thật kỹ để phát hiện các vết loét Nếu có dấu

hiệu bệnh thì phải điều trị (bể ngâm chân, thuốc bột) và nuôi nhốt cách ly trong 2

tuần trước khi nhập đàn

Nên kiểm tra móng chân thường xuyên xem có mọc dài quá không Thường xuyên

cắt móng là việc làm rất cần thiết

Bệnh viêm loét miệng truyền nhiễm

(Contagious Ecthyma)

Trang 4

Đây là bệnh truyền nhiễm có tính chất lây lan mạnh Người dễ bị nhiễm bệnh khi

tiếp xúc với con vật bệnh Vì vậy người chăn nuôi, điều trị dê nên đeo găng tay!

Nguyên nhân và dịch tễ

Bệnh được gây nên bởi một loại vi rút (parapox virus) Nó xâm nhập vào dê qua

chỗ bị trầy da Tỷ lệ mắc bệnh ở dê con thường tới 100% Tỷ lệ chết do đói hoặc

bệnh thứ phát có thể tới 20% Dê trưởng thành thường mắc bệnh nhẹ Những vẩy

rơi xuống đất có thể là nguồn truyền bệnh quan trọng cho những con khác trong

thời gian vài tháng hoặc thậm chí một năm sau Nguồn truyền bệnh quan trọng

khác là dê mắc bệnh

Triệu chứng lâm sàng

Các nốt nhú đỏ phát triển nhanh thành các mụn nước, mụn mủ và tạo vẩy Các vết

thương mọc nhanh có vẩy cứng chủ yếu ở trên môi, mép, nhưng cũng có thể xuất

hiện ở mật, tai, bầu vú, núm vú, bìu dái, âm hộ, vách móng và sườn Các vết loét

có thể xuất hiện ở lưỡi hoặc ở niêm mạc miệng được phủ lớp bựa trắng Dê đau,

Trang 5

kém ăn, chảy dãi có mùi hôi Trường hợp này dễ bị nhiễm trùng thứ phát Dê mới

chuyển vùng, nhất là dê con dễ cảm nhiễm bệnh hơn

Điều trị

Vì bệnh do vi rút gây nên nên kháng sinh không có hiệu lực Nhưng các loại kháng

sinh lại có tác dụng đối với bệnh thứ phát xuất hiện Một số dung dịch sát trùng

được dùng để điều trị các vết loét ở môi, mồm của những con mắc bệnh Có thể sử

dụng Ecthymatocid (Hỗn hợp pha chế bởi 40 ml cồn Iốt 20% và 20 g bột tetran hoà

với 1 lít mật ong) để bôi vào vết loét 2-3 lần/ngày

Bệnh lở mồm long móng

(Foot and Mouth Disease - FMD)

Nguyên nhân

Bệnh gây ra do một loại vi-rút có khả năng truyền nhiễm rất cao Mầm bệnh có thể

tồn tại trong cơ thể và có nguy cơ xảy ra sau một năm hoặc lâu hơn nữa khi đã hết

Trang 6

triệu chứng lâm sàng Bệnh lây lan theo đường thức ăn, nước uống và không khí

hoặc do vi-rút xâm nhập vào mắt, niêm mạc của cơ thể

Triệu chứng lâm sàng

Khi mắc bệnh này, người ta thường phát hiện bằng một số triệu chứng như dê lờ

đờ, đi tập tễnh, kém ăn rồi bỏ ăn, sốt cao Triệu chứng lâm sàng đặc trưng là xuất

hiện các mụn nước nhỏ ở trên lớp niêm mạc mồm, lưỡi Các mụn đó khi vỡ ra để

lại các vết loét, tạo thành các lỗ nhỏ ăn sâu vào lớp tế bào dưới niêm mạc Các mụn

này còn xuất hiện ở móng và trên bàn chân làm cho da vùng này trở nên tái xám

Sau khi các mụn vỡ ra để lại các vết loét sâu, có thể gây long móng Mụn cũng có

thể xuất hiện trên bầu vú, làm dê đau đớn, nếu đang nuôi con thì không cho con bú

nữa Dê con mắc bệnh hay bị chết đột ngột, dê mẹ có chửa hay bị xảy thai

Khi thấy dê có những biểu hiện lâm sàng như trên cần báo ngay cho cơ quan thú y

biết để kiểm tra và xử lý kịp thời

Điều trị và phòng bệnh

Trang 7

Không có biện pháp nào điều trị được bệnh này khi dê đã mắc bệnh ở mức nặng

Nếu dê mới bị nhiễm ở mức nhẹ thì nhốt cách ly và dùng cồn iốt 10% bôi cục bộ

liên tục 2-3 lần/ngày và tiêu độc bằng thuốc sát trùng mạnh như formalin có thể

cứu vãn được tình thế

Trong khi nước ta chưa sản xuất được vắc xin, tốt nhất nên sử dụng vắc xin đa giá

nhập từ nước ngoài để tiêm phòng cho dê, nhất là ở những vùng đã có tiền sử mắc

bệnh này

B Những bệnh gây nên do ký sinh trùng

Bệnh giun tròn

Nhiễm giun tròn đường tiêu hoá là một trong những nguyên nhân chính của sự hao

tổn và giảm khả năng sản xuất của dê ở mọi lứa tuổi, đặc biệt trong điều kiện nuôi

chăn thả

Nguyên nhân và cách lan truyền

Trang 8

Có nhiều loài giun tròn cư trú ở những phần khác nhau của đường tiêu hoá dê như

ở thực quản, dạ cỏ, dạ múi khế, đường ruột Có một số loài giun tròn trưởng thành

có thể sống bám vào màng nhầy và lớp dưới màng nhầy của thực quản dạ cỏ, ruột

thừa, kết tràng, nhưng không gây bệnh và ít có biểu hiện triệu chứng lâm sàng rõ

rệt Chúng chỉ kết hợp với bệnh khác để làm giảm thể lực Những loài giun tròn có

khả năng gây bệnh, làm dê chết và giảm khả năng sản xuất của dê thường tồn tại

đáng được quan tâm trong chăn nuôi dê Loài giun gây bệnh nặng nhất là giun

xoăn (Haemonchus contortus) Nó là loài hút máu nhiều và có thể dẫn đến thiếu

máu cấp Một số loài giun khác như giun móc (Bunostomum trigoncephalum) và

giun đầu gai (Gaigena pachyscelis) là giun tròn sống ở ruột non, chúng hút máu và

gây nên tình trạng thiếu máu rõ rệt

Giun trưởng thành sống ở đường tiêu hoá, đẻ và thải trứng theo phân ra ngoài môi

trường Sau thời gian phát triển của trứng giun, các ấu giun gây nhiễm được dê

nuốt vào theo thức ăn, nước uống và gây bệnh cho dê ấu trùng đó phát triển thành

giun trưởng thành và tiếp tục chu kỳ mới

Trang 9

Bệnh lý và triệu chứng lâm sàng

ảnh hưởng cơ bản của các loài giun đối với ký chủ là tình trạng thiếu máu tăng dần

Ví dụ, mỗi con giun xoăn trưởng thành ở dạ múi khế có thể làm mất 0,02-0,05 ml

máu/ngày Khi tỷ lệ nhiễm cao (hơn 10.000 con/ký chủ) dê có thể chết do thiếu

máu cấp Các loài giun tròn khác không hút máu sẽ dẫn đến sự ăn mòn biểu mô,

viêm, xung huyết, thủy thũng và ỉa chảy

Triệu chứng lâm sàng của dê mắc bệnh giun tròn thường được thể hiện ở một số

nhóm điển hình như sau:

Nhóm triệu chứng thứ nhất: do những loài giun không gây bệnh (Tnchostrongylus,

Ostertagia, Cooperia và Nematodirus) sinh ra sự suy giảm thể lực, tăng trọng kém

và kém ăn Trường hợp nhiễm nặng thì thấy ỉa chảy, phân xanh thẫm đến màu đen,

làm bẩn lông da đuôi và khu vực xung quanh đuôi Sau một thời gian thì thủy

thũng biểu hiện rõ Trường hợp mãn tính thì thấy lông xù, da khô, và nứt da

Thông thường không xuất hiện thiếu máu

Trang 10

Nhóm triệu chứng thứ hai: do một số loài giun gây bệnh nhẹ (Oesophagostomum

columbianum) có thể gây nên triệu chứng lâm sàng đau bụng như cong lưng,

không muốn hoạt động, có thể là hậu quả của viêm phúc mạc Dê có thể sốt Dê ỉa

chảy phân nhão lẫn chất nhầy ở dê con và có lẫn máu ở dê lớn hơn Dê giảm thể

lực ngày càng rõ rệt

Nhóm triệu chứng thứ ba: do giun tròn hút máu (Haemon- chus contortus) hay

nhiễm ở dê, gây nên hiện tượng thiếu máu rất rõ rệt Khi nhiễm nặng bệnh xuất

hiện với triệu chứng xuất huyết dạ dày Các dạng cấp tính và mãn tính rất phổ biến

Các niêm mạc và kết mạc bị nhợt nhạt, nhịp thở và nhịp tim tăng lên Hay xuất

hiện thủy thũng ở dưới hàm Dê ốm yếu, ít hoạt động Trong nhiều trường hợp

giun xoăn không kết hợp, phân bị táo bón nhiều hơn là ỉa chảy Bệnh kéo dài dê bị

sút cân cũng rất phổ biến

Điều trị và phòng bệnh

Trang 11

Một số loại thuốc và liều dùng có hiệu lực với giun tròn là: Tetramisole (15 mg/kg

thể trọng) hoặc levamisole (7,5 mg/kg thể trọng), mebendasole (15-20 mg/kg thể

trọng), albendazole (10 mg/kg thể trọng)

ở vùng nhiệt đới, với điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao, kết hợp với việc chăn thả dê

tạo điều kiện cho ấu trùng tồn tại và phát triển ở môi trường Như vậy việc sử dụng

thuốc tẩy giun định kỳ thường xuyên là phương pháp có hiệu quả để hạn chế mức

độ nhiễm giun và hạn chế tối thiểu tác hại cho dê về bệnh ký sinh trùng

Bệnh sán dây

Nguyên nhân và bệnh lý

Moniezia expansa và Moniezia benedeni là hai loài sán dây đường ruột chủ yếu

của dê, rất phổ biến ở Việt Nam Sán dây trưởng thành phát triển ở trong ruột dê có

thể dài vài mét Sán bao gồm các phần đầu, cổ ngắn và thân đốt dài có các đốt sán

Các đốt sán phía sau chứa đầy trứng và được thải ra theo phân Những túi trứng

màu trắng, dài 1 - 1,5 cm Ve, bét ở đất, ở cỏ cây ăn phải trứng sán Trứng sán phát

Trang 12

triển trong ve, bét thành ấu sán gây nhiễm (Cysticercoids) Dê ăn phải ve, bét có ấu

sán theo đường thức ăn, sau đó ấu sán phát triển thành sán dây ở đường ruột dê

Sán dây không hút dinh dưỡng bằng mồm, nhưng các chất dinh dưỡng của dê được

hấp thụ từ ruột qua biểu bì sán Tối thiểu khi có 50 con sán ký sinh có thể làm cho

dê chết

Triệu chứng lâm sàng

Bệnh thường biểu hiện lâm sàng ở dê trên 6 tháng tuổi Những con dê mắc bệnh

thường thể hiện còi cọc, bụng xệ Nhìn thấy các đốt sán lẫn trong phân Phân nhão

hoặc không đóng viên Đôi khi phân lại ở dạng táo bón

Điều trị và phòng bệnh

Dùng niclosamide (50 mg/kg, cho uống) có hiệu lực cao và an toàn trong việc điều

trị bệnh sán dây

Các biện pháp phòng bệnh cũng tương tự như đối với bệnh giun tròn

Bệnh sán lá gan (Fasciolosis)

Trang 13

Bệnh sán lá gan là một bệnh phổ biến ở dê

Nguyên nhân

Có 2 loài sán lá gan: Fasciola hepatica và Fasciola gigantica Các loài Fasciola có

vòng đời gián tiếp thông qua ký chủ trung gian là ốc nước ngọt Sán trưởng thành

sống trong ống mật của vật chủ như dê (kể cả người) và đẻ trứng, trứng theo ống

mật vào phân ra ngoài ở đồng cỏ ướt, trứng phát triển thành ấu sán và xâm nhập

vào ốc nước ngọt ở trong ốc, ấu phát triển qua nhiều giai đoạn thành vĩ ấu, sau đó

chúng thoát ra khỏi ốc, bơi vào nước bám vào cây cỏ và cư trú ở đó ở cây cỏ

chúng phát triển thành vĩ ấu trung gian có khả năng gây bệnh Dê ăn phải cây cỏ

nhiễm ấu sán này, chúng xuyên qua xoang bụng ký chủ, rồi di chuyển vào gan và

cư trú ở đó ở trong ống mật chúng phát triển thành sán trưởng thành rồi lại đẻ

trứng, tiếp tục một chu kỳ mới

Bệnh lý và triệu chứng lâm sàng

Ngày đăng: 24/07/2014, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN