1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KINH TẾ PHÁT TRIỂN ppsx

22 841 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 55,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2Những quan điểm về nghèo đói - Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà làvấn đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cảnhững g

Trang 1

TIỂU LUẬN

KINH TẾ

PHÁT TRIỂN

1

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 3

CHƯƠNG 2 6

2.1.2 Thu nhập bình quân đầu người 7

2.1.3 Năng suất lao động 9

Nguyên nhân khách quan: 12

2.1.6.2 Giáo dục: 15

2.1.6.3 Ảnh hưởng đến giới: 15

CHƯƠNG 3 17

Thực trạng,giải phápvà kiến nghị 17

3.1Việc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay 17

3.1.1Công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam 17

3.1.2Thành tích xóa đói giảm nghèo mà Việt Nam đã đạt được 18

3.1.3Những tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam 18

3.2Giải pháp 19

3.2.1Giải pháp kinh tế quản lí 19

3.2.2Giải pháp cơ sở hạ tầng 19

3.2.3Giải pháp giáo dục và đào tạo nghề 19

3.2.4Giải pháp vốn 19

3.2.5Giải pháp công tác khuyến nông 20

3.2.6Giải pháp ở hộ gia đình 20

3.3Kiến nghị 20

3.3.1Đối với nhà nước 20

3.3.2Đối với cơ quan địa phương 21

3.3.3Đối với từng hộ gia đình 21

Trang 3

CHƯƠNG 1 Khái quát về vấn đề nghèo đói

1.1Một số khái niệm về nghèo đói

- Nghèo làtình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu khôngthỏa mãn nhu cầu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp

- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống nhỏ hơn mứcsống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống

- Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân không được hưởng và thỏamãn những nhu cầu con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ pháttriển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương

1.2Những quan điểm về nghèo đói

- Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà làvấn đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cảnhững giàu mạnh thì người nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết người nghèokhi trong các xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môitrường và sự bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra Rủi ro quá nhiềutrong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạngnghèo Tháng 3/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội ởCopenhagen Đan Mạch, những người đứng đầu các quốc gia đã trịnh trongtuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên thếgiới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coiđây như một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị, kinh tế củanhân loại

- Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc Nó làmột khái niệm rộng, luôn thayđổi theo không gian và thời gian Đến nay, nhiều

3

Trang 4

nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau,trong đó có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn về xóađói giảm nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tạiThái Lan vào tháng 9/1993, các quốc gia đã thống nhất cho rằng: Đói nghèo làtình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu

cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triểnkinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương Đây là khái niệmkhá đầy đủ về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng, trong

đó có Việt Nam

Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: Nghèotuyệt đối và nghèo tương đối

- Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và

thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống như nhu cầu

về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế,…

- Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới

mức trung bình của địa phương, ở một thời kì nhất định

- Những quan điểm trên về đói nghèo phản ánh ba khía cạnh chủ yếu củangười nghèo là: không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểudành cho con người, có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng, thiếu cơ hộilựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng

Trang 6

CHƯƠNG 2

Vấn đề nghèo đói và xóa đói giảm

nghèo ở Việt Nam

2.1Tình trạng nghèo đói ở Việt Nam hiện nay

2.1.1Thực trạng nghèo đói

- Theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam, vàonăm 2004 chỉ số phát triển con người của Việt Nam xếp hạng 112 trên 177nước, chỉ số phát triển giới xếp 87 trên 144 nước và chỉ số nghèo tổng hợpxếp hạng 41 trên 95 nước Cũng theo số liệu của Chương trình Phát triển LiênHiệp Quốc, vào năm 2002 tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là12.9%, theo chuẩn thế giới là 29% và tỷ lệ nghèo lương thực (%số hộ nghèoước lượng năm 2002) là 10.87% Vào đầu thập niên 1990, chính phủ Việt Nam

đã phát động chương trình Xóa đói giảm nghèo cùng với lời kêu gọi của Ngânhàng thế giới UNDP cho rằng mặc dù Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh

tế bền vững và kết quả rất ấn tượng giảm tỷ lệ nghèo, song vẫn còn tồn tại tìnhtrạng nghèo cùng cực ở một số vùng Để đạt được các Mục tiêu Phát triểnThiên niên kỷ, Việt Nam cần phải giải quyết tình trạng nghèo cùng cực

- Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện cókhoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốchội Việt Nam, rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánhthực chất vì số người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tácđộng của lạm phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và

do là suy giảm kinh tế http://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%C3%A8o - VnE180110-1#cite_note-VnE180110-1 Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam

Trang 7

cite_note-hiện nay là gồm những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đến 260.000đồng/người/tháng Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễrớt trở lại vào cảnh nghèo đói Trong thập kỷ tới đây nỗ lực của Việt Namtrong việc hội nhập với nền kinh tế toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăngtrưởng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự nghiệp giảm nghèo.

- Ở khu vực nông thôn tỷ lệ đói nghèo giảm chậm hơn thành thị nhưng tươngđối ổn định từ 45,5% năm 1998 xuống 35,6% năm 2002 còn 27,5% năm 2004

- Khu vực đồng bào dân tộc tốc độ giảm nghèo chậm và còn rất cao, từ 75,2%xuống 69,3%

- Sự phân bổ hộ nghèo giữa các vùng, các miền là không đều Năm 2005 mặc

dù tỷ lệ hộ nghèo trên toàn quốc giảm xuống chỉ còn 7% nhưng sự chênh lệch

về số hộ nghèo giữa các vùng là rất lớn, cụ thể là tỷ lệ hộ nghèo ở vùng ĐôngNam Bộ là 1,7% trong khi số hộ nghèo ở vùng Tây Bắc chiếm đến 12% tổng

số hộ nghèo trong cả nước

- Người dân chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có các thiếtchế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như thiên tai, dịch bệnh, sâu hại,tai nạn giao thông, tai nạn lao động, thất nghiệp…

- Theo số liệu thống kê của Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã hội đếncuối năm 2006, cả nước có 61 huyện với số dân 2,4 triệu người thuộc 20 tỉnh

có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%

2.1.2 Thu nhập bình quân đầu người

GDP bình quân đầu người năm 2010 là 1.168 USD

- Con số trên được Tổng cục Thống kê đưa ra trong phiên họp báo tổng kếtsáng 31/12 Kết quả này dựa trên tỷ giá hối đoái bình quân năm 2010

- Như vậy, trong 5 năm 2006 - 2010, tổng thu nhập trong nước bình quân đầungười tăng 1,6 lần tương đương 438 USD Tính theo Việt Nam đồng, GDPbình quân đầu người năm 2010 đạt gần 22,8 triệu đồng, tăng gần 2 lần so vớinăm 2006

7

Trang 8

- Cũng trong cuộc họp này, Tổng cục Thống kê đưa ra thêm một cách tính

CPI khác dựa theo bình quân năm Theo đó, CPI bình quân năm 2010 tăng

9,19% so với bình quân năm 2009 Nếu so với chỉ số giá tiêu dùng tháng

12/2009, CPI năm nay tăng 11,75%

- Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm trong thời kỳ 2001 - 2010 đạt 7,2%;

GDP bình quân đầu người năm 2010 ước khoảng 1.200 USD Với mức này,

Việt Nam đã chuyển vị trí từ nhóm nước nghèo nhất sang nhóm nước có mức

thu nhập trung bình thấp

- Đáng chú ý, là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến

đổi khí hậu Việt Nam tiềm ẩn nguy cơ bị chậm tiến trình thực hiện mục tiêu

thiên niên kỷ Lụt lội, hạn hán và bão lốc ngày càng tăng ảnh hưởng không nhỏ

đến kế sinh nhai của người nghèo

- Theo số liệu thống kê năm 2008, gần 1/3 tổng thu nhập của người nghèo là từ

các hoạt động sinh kế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt

thủy sản Cùng lúc đó, mực nước biển tăng lên sẽ ảnh hưởng đến các vựa lúa

của Việt Nam, tác động đến an ninh lương thực quốc gia

- GDP bình quân đầu người khoảng 1.290 - 1.300 USD là một trong các chỉ

tiêu của năm 2011, được Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội

- Trong kế hoạch năm 2011, Chính phủ vẫn đặt mục tiêu tăng cường ổn định vĩ

mô và kiểm soát lạm phát lên hàng đầu và phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao

hơn năm 2010 gắn với chuyển đổi cơ cấu, nâng cao năng suất chất lượng và

sức cạnh tranh của nền kinh tế

-Về các chỉ tiêu cụ thể, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 7-7,5%

so với năm 2010; GDP theo giá thực tế khoảng 2255,2 - 2275,2 nghìn tỷ đồng,

tương đương khoảng 112,8 - 113,8 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng

1.290 - 1.300 USD

1999 2002 2004 2006 2008

Trang 9

Phân theo thành thị, nông thôn

Thành thị 517 622 815 1058 1605 Nông thôn 225 275 378 506 762

Phân theo vùng

Đồng bằng sông Hồng 282 358 498 666 1065 Trung du và miền núi phía Bắc 199 237 327 442 657 Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 229 268 361 476 728 Tây Nguyên 345 244 390 522 795 Đông Nam Bộ 571 667 893 1146 1773 Đồng bằng sông Cửu Long 342 371 471 628 940

2.1.3 Năng suất lao động

Việt Nam: Năng suất lao động ở mức thấp

- (Dân trí) - Tại Việt Nam, dù sự dịch chuyển sang các khu vực có năng suất

cao hơn có giúp cho tổng năng suất lao động tăng thêm 5,1%/năm, nhưng

năng suất lao động nhìn chung vẫn chỉ bằng 1/5 năng suất trung bình trong

ASEAN và khoảng 1/10 mức năng suất của Singapore

- Lực lượng lao động xấp xỉ 46 triệu người vào năm 2007 đóng một vai trò vô

cùng quan trọng đối với sự thịnh vượng về kinh tế của Việt Nam, cũng như đối

với sự mở rộng khu vực công nghiệp, hiện chiếm khoảng 1/5 số người lao

động Tuy nhiên, gần 3/4 tổng số lao động đang làm những việc làm bấp bênh

với tiền công và điều kiện làm việc nghèo nàn, và bảo trợ xã hội cũng như pháp

lý còn hạn chế Thực tế phần lớn lực lượng lao động chưa qua đào tạo nghề

cũng góp phần kìm hãm triển vọng phát triển của đất nước

- “Việt Nam đang chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội, vấn

đề quan trọng mà Chính phủ đang quan tâm là các chính sách đầu tư và phát

triển, đặc biệt là nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề cho người lao động để góp

phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,” Ông Đàm Hữu Đắc, Thứ trưởng

Thường trực Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, chia sẻ

- ILO nhận định, mặc dù đã bước đầu vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế

toàn cầu, nhưng để phục hồi được bền vững, Việt Nam cần tập trung hướng

9

Trang 10

các chính sách trung hạn vào phát triển toàn diện để tận dụng tối đa lực lượnglao động đang tăng trưởng và đầy năng động của mình.

- Một trong những khuyến nghị chính được đưa ra là Chính phủ cùng vớingười lao động và người sử dụng lao động cần ưu tiên các biện pháp thúc đẩynăng lực cạnh tranh của đất nước, bao gồm tăng cường các thể chế thị trườnglao động, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, xúc tiến chất lượng việc làm và mởrộng hệ thống an sinh xã hội

thap.htm

http://dantri.com.vn/c133/s133-404904/viet-nam-nang-suat-lao-dong-o-muc Báo cáo vừa nói cũng cho thấy, việc làm trong nông nghiệp giảm từ hơn 65%trong năm 2000, xuống còn trên 52% năm 2007, do người lao động chuyểndịch sang các ngành công nghiệp và dịch vụ, và sự chuyển dịch này làm chotổng năng suất lao động tăng thêm khoảng trên 5% hàng năm

http://www.thienanhdaovang.org/showthread.php?p=1443

- Theo đánh giá của Lãnh đạo Bộ Lao động, TBXH trong Hội nghị Tổng kếthoạt năm 2010, hoạt động xuất khẩu lao động là một hướng đi quan trọngnhằm tạo việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo cho người lao động nhưngchưa được các địa phương quan tâm đúng mức Chất lượng nguồn lao độngxuất khẩu chưa đáp ứng được cả yêu cầu về ngoại ngữ, tay nghề, ý thức chấphành pháp luật, tuân thủ các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng; nhiềudoanh nghiệp chưa chấp hành đúng các quy định của Nhà nước; còn tồn tại cáchành vi lừa đảo, thu tiền bất chính của các tổ chức, cá nhân không có chứcnăng XKLĐ, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận

- Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng lao động XKLĐ, giữ tín nhiệm lâu dàicủa lao động Việt Nam, Cục QLLĐNN yêu cầu và phối hợp với các doanhnghiệp XKLĐ chú trọng công tác đào tạo nghề, giáo dục định hướng cho ngườilao động trước khi xuất cảnh Đồng thời, Cục cũng tiếp tục phối hợp với cácđơn vị hữu quan và các địa phương thực hiện Đề án hỗ trợ 62 huyện nghèo đẩymạnh xuất khẩu lao động, thực hiện Sơ kết 02 năm triển khai Đề án này

http://vov.vn/Home/Nang-cao-chat-luong-lao-dong-de-giu-chu-Tin/

20111/165853.vov

Trang 11

2.1.4Chất lượng cuộc sống

Thị trường lao động Việt Nam: Chất lượng vẫn không theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế

Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) ước tính giai đoạn

2011 - 2020 cả nước sẽ tăng thêm gần 500.000 lao động/năm; đến năm 2020,ước đạt 53,14 triệu người, tuy nhiên tỉ lệ lao động qua đào tạo cũng chỉ phấnđấu đạt 58,5% Lao động tăng, tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng nhưng cũng chỉchiếm một nửa số lao động được đào tạo sẽ là nguyên nhân dẫn đến tình trạngthất nghiệp tăng, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng ước tính năm

2010, cả nước có 1,72 triệu người thất nghiệp

Lao động vẫn mất cân đối

Con số lao động không có việc làm đã giảm, tuy nhiên tình trạng thiếu việclàm ở nước ta vẫn còn phổ biến Năm 2008 tỉ lệ thất nghiệp chiếm 5,1%, ởnhững khu vực thành thị, dù đã giảm liên tục song còn tương đối cao (năm

2000 là 6,42%, năm 2008 là 4,65% và năm 2010 ước khoảng 4,6%) Chấtlượng lao động còn thấp, lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề còn ít,

ý thức kỷ luật lao động chưa cao, trong khi cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý vàchuyển dịch rất chậm

Dù số lượng việc làm được tạo hàng năm qua công bố khá lớn; song chủ yếu

ở khu vực công việc đơn giản, phổ thông, khu vực thu nhập thấp và khu vựcnông nghiệp Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, chậm, chưa được cải thiện,chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước Cơ cấu lao động theongành nghề, trình độ chưa hợp lý, thiếu chuyên gia có trình độ cao, đội ngũquản lý, nhà kinh doanh giỏi và công nhân lành nghề Nguyên nhân chính là

do chất lượng đào tạo nghề còn thấp Quy mô giáo dục nghề nghiệp còn nhỏ

bé, chất lượng thấp, bất hợp lý chậm điều chỉnh

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Theo đánh giá của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), khả năng cạnh tranh củalao động Việt Nam đang có xu hướng giảm Một trong nhiều nguyên nhân là

11

Trang 12

do chất lượng nguồn nhân lực không được cải thiện đáng kể, trong khi tốc độphát triển kinh tế, khoa học- kỹ thuật lại theo cấp số nhân Chính vấn đề giáodục và đào tạo chưa theo kịp nhu cầu thị trường như hiện nay đã kìm hãm sựphát triển nguồn nhân lực, kéo theo sự suy giảm năng suất lao động và khảnăng cạnh tranh quốc gia.

Theo bà Hương, cần sử dụng tổng hợp nhiều giải pháp nâng cao chất lượngnguồn nhân lực, như hỗ trợ đa ngành nghề nông thôn, tăng chất lượng đào tạocho các ngành sử dụng nhiều lao động, hỗ trợ hệ thống cơ sở hạ tầng chonhững vùng nông nghiệp, vùng khó khăn Tóm lại, muốn nâng cao chất lượngnguồn nhân lực phụ thuộc rất nhiều vào việc đẩy mạnh hiện đại hóa nông thôn,chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp

khong-theo-kip-toc-do-tang-truong-kinh-te/47/4823171.epi

http://www.baomoi.com/Thi-truong-lao-dong-Viet-Nam-Chat-luong-van-2.2Nguyên nhân

Nguyên nhân khách quan:

+ Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc chiếntranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang,bom mìn, nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị sút giảm do mất máttrong chiến tranh, thương tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh,học tập cải tạo trong một thời gian dài

+ Chính sách nhà nước thất bại: sau khi thống nhất đất nước việc áp dụngchính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sáchgiá lương tiền đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm yếu của ViệtNam làm suy kiệt toàn bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ở nông thôncũng như thành thị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700% năm

+ Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhànước và tập thể của các tư liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã làmthui chột động lực sản xuất

Ngày đăng: 24/07/2014, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w