tình hình lạm phát ở việt nam trong những năm gần đây
Trang 1
MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài (lí do chọn đề tài) 3
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3 Phương pháp nghiên cứu 4
4 Mục tiêu nghiên cứu 4
B NỘI DUNG 5
1 Thực trạng vấn đề 5
2 Nguyên nhân gây lạm phát 13
2.1 Lạm phát theo thuyết tiền tệ 13
2.2 Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát cầu kéo) 15
2.3 Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy 15
2.4 Các nguyên nhân khác 18
3 Biện pháp kiềm chế lạm phát 19
3.1 Biện pháp chung 19
3.2 Một số biện pháp cụ thể 23
C KẾT LUẬN 26
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài (lí do chọn đề tài).
Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay của nềnkinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây Trong nền kinh tế thị trường hoạtđộng đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vữngtrên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng
để tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới Bên cạnh bao vấn đề cần
có để kinh doanh còn là những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế Một trongnhững vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tếthị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian trítuệ mới có thể mong muốn đạt được kết quả khả quan Chống lạm phát không chỉ
là việc của các nhà doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ Lạm phát ảnhhưởng toàn bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới laođộng ở nước ta hiện nay, chống lạm phát giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định,cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đờisống nhân dân
Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan tâm,nghiên cứu và đề xuất các phương án khác Đã từ lâu tiền giấy xuất hiện và chẳngbao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạm phát Nét đặc trưngnổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cả của hầu hết các hàng hóađều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh
Bài viết này với đề tài: “ Tình hình Lạm phát ở Việt Nam trong những nămgần đây” Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc biệt
Trang 3chế, em thiết nghĩ nghiên cứu đề tài này cũng là một phương pháp để hiểu nó mộtcách thấu đáo hơn, sâu sắc hơn tài chính tiền tệ
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề án là vấn đề lạm phát Phạm vi nghiên cứu là ởViệt Nam trong những năm gần đây
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp logic học và phương pháp thờigian trong đó các công cụ phân tích thống kê và phân tích định lượng được sửdụng để giải quyết vấn đề
4 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống lý thuyết và thực tiễn về vấn đề lạm phát với các giảipháp phù hợp cho việc kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong những năm gần đây
Trang 4B NỘI DUNG
1 Thực trạng vấn đề.
Năm 2008 là năm có chỉ số lạm phát cao Giá tiêu dùng năm 2008 nhìnchung tăng khá cao và diễn biến phức tạp, khác thường so với xu hướng giá tiêudùng các năm trước Giá tăng cao ngay từ quý I và liên tục tăng lên trong quý II,quý III, nhưng các tháng quý IV liên tục giảm (so với tháng trước, tháng 10 giảm0,19%; tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm 0,68%) nên giá tiêu dùng tháng 12năm 2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng 19,89% và chỉ số giá tiêu dùng bình quânnăm tăng 22,97%
Nguôn: Tổng cục thống kê http://www.gso.gov.vn
Trang 5Nếu như năm 2008 là năm chứng kiến một tốc độ lạm phát cao kỷ lục trongvòng hơn một thập kỷ qua thì năm 2009 lại chứng kiến một mức lạm phát ở mứcdưới hai con số Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước qua 10 tháng đầu năm chỉ tăng4,49% so với tháng 12/2008 Đây là mức tăng chỉ số giá tiêu dùng khá thấp so vớinhững năm gần đây và là mức tăng hợp lý, không gây ảnh hưởng lớn đến đời sống
và sản xuất của người dân Nhiều loại hàng hoá có ảnh hưởng mạnh trong rổ hànghoá để tính CPI tăng thấp Chỉ số CPI lương thực tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm(0,59%) nhưng lại có xu hướng giảm trong những tháng cuối năm Như vậy, nếunhư lương thực, thực phẩm luôn là đầu tàu kéo lạm phát đi lên trong những năm
2007 và 2008 thì ở năm 2009 nhân tố này không còn đóng vai trò chính nữa
Duy trì tốc độ tăng lạm phát và giá cả của năm 2009 ở mức một con số làmột điểm sáng nữa trên bức tranh kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giớichưa thoát khỏi suy thoái kinh tế Thành tựu kiềm chế lạm phát trong năm 2009 cótác động tích cực đến ổn định kinh tế - xã hội cũng như tạo thuận lợi cho việc triểnkhai các chính sách kích thích kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo ansinh xã hội Mặc dù xu hướng tăng của giá tiêu dùng chưa có biểu hiện rõ rệt,nhưng một số yếu tố chủ yếu có thể sẽ tác động làm tăng nguy cơ tái lạm phát caotrở lại Đó là tăng trưởng tín dụng đang ở mức cao 3 do thực hiện các chính sách tàichính, tiền tệ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế; giá của các mặt hàng nước ta nhậpkhẩu với khối lượng lớn trên thị trường thế giới bắt đầu có xu hướng tăng cao do
sự phục hồi của kinh tế toàn cầu, đặc biệt giá xăng dầu Mặt khác, những nguyênnhân cơ bản gây ra lạm phát cao ở Việt Nam năm 2008 vẫn còn Đó là sự thiếu kỷluật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước(DNNN) và tập đoàn lớn Do vậy, kích cầu đầu tư thông qua nới lỏng tín dụng chocác DNNN và tập đoàn mà thiếu sự thẩm định và giám sát thận trọng chắc chắn sẽkích hoạt cho lạm phát trở lại
Trang 6Nguồn: nam-2009-la-688-2009122410051546ca33.chn
http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/lam-phat-binh-quan-12-thang-Năm 2010, lạm phát cả nước ở mức 11,75%:Chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng12/2010 của cả nước tăng 1,98%, qua đó đẩy mức lạm phát năm của cả nước 2010
Trang 7lên 11,75% so với năm 2009 Con số này vượt gần 5% so với chỉ tiêu được Quốchội đề ra hồi đầu năm (khoảng 8%).
Trong khi đó, nếu tính bình quân theo từng tháng (cách tính mới của Tổngcục thống kê) thì lạm phát năm 2010 tăng 9.19% so với năm 2009
Trang 8http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/cpi-thang-12-tang-198-ca-nam-Ta có thể thấy lạm phát tăng cao trong các tháng đầu năm và cuối năm, mứctăng có độ vênh lớn, tháng cao nhất so với tháng thấp nhất lệch nhau đến hơn1,5% 3 tháng đầu năm CPI tăng cao nhưng ngay sau đó có liền 5 tháng tăng thấp
về gần mức 0%, sau đó lại vượt lên trên 1% vào 4 tháng còn lại của năm Cáctháng từ tháng 9 đến tháng 11, mức tăng đều đạt mức kỉ lục của 15 năm trở lạiđây
Tính chung CPI năm 2010, CPI giáo dục tăng mạnh nhất gần 20% Tiếp đó
là hàng ăn (16,18%), nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74%) Các ngành Giao thông,hàng hóa & dịch vụ khác, thực phẩm đều có mức tăng trên 10% Bưu chính viễnthông là nhóm duy nhất giảm giá với mức giảm gần 6% trong năm 2010 Chỉ sốgiá vàng tăng 36,72%, chỉ giá USD tăng 7,63%.Về CPI của các vùng miền, đángchú ý là chỉ số CPI khu vực nông thôn tháng 12 tăng 2,04%; cao hơn 1,87% củakhu vực thành thị
Bước sang năm 2011, Chỉ số giá tiêu dùng tuy vẫn ở mức cao nhưng đã có
xu hướng giảm Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2011 tăng 0,53% so với tháng trước,thấp hơn nhiều so với mức tăng 1,38% và 1,98% của cùng kỳ năm 2009 và năm
2010 Tháng Mười Hai là tháng thứ năm liên tiếp trong năm nay có chỉ số giá tiêudùng tăng thấp hơn 1% Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, các nhóm có chỉ sốgiá tăng cao hơn mức tăng chung là: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,86%;nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,69% (Lương thực tăng 1,40%; thực phẩmtăng 0,49%); Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,68% Các nhóm hàng hóa và dịch
vụ có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựngtăng 0,51%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,49%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng0,35%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,24%; giao thông tăng 0,16%; giáo dục tăng0,05% Riêng nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá giảm 0,09%
Trang 9Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2011 so với tháng 12/2010 tăng 18,13% Chỉ
số giá tiêu dùng bình quân năm 2011 tăng 18,58% so với bình quân năm 2010
Biểu đồ so sánh lạm phát năm 2010 với 2011
Trang 10Nguồn: phat-2011-hai-dot-bien-va-su-di-hoang-cua-dong-tien.htm
http://vneconomy.vn/20111225091658359P0C9920/nhin-lai-lam-Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2012tăng 0,27% so với tháng trước, lạm phát năm 2012 được kiềm chế ở mức 6,81%
Trang 11Trong năm 2012 có tới 7 tháng CPI chỉ tăng dưới 1% và hầu hết các tháng chỉtăng dưới 0,5%”.
Cụ thể, theo phân tích của Tổng cục Thống kê, CPI tăng không quá cao vào
2 tháng đầu năm (Tăng 1,0% vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng 2) nhưng tăngcao nhất vào tháng 9 với mức tăng 2,20%, chủ yếu do tác động của nhóm thuốc vàdịch vụ y tế và nhóm giáo dục Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm dần trongnhững tháng cuối năm
Về nhóm hàng, CPI bình quân của nhiều nhóm hàng năm nay có mức biếnđộng nhiều và khác xu hướng so với năm trước Nhóm hàng lương thực, thựcphẩm tăng thấp hơn mức tăng chung (Lương thực tăng3,26%, thực phẩm tăng8,14%, CPI bình quân chung tăng 9,21%), trong khi năm 2011 đây là nhóm hàng
có chỉ số giá tăng cao nhất và cao hơn nhiều so với mức tăng chung (Lương thựctăng 22,82%, thực phẩm tăng 29,34%, CPI bình quân chung tăng 18,58%)
Riêng nhóm dịch vụ y tế có sự thay đổi lớn với chỉ số giá tăng mạnh ở mức20,37%, cao hơn nhiều lần mức tăng 4,36% của năm 2011 Trong 2 năm qua, chỉ
số giá nhóm giáo dục vẫn duy trì mức tăng cao (Năm 2011 tăng 23,18%; năm 2012tăng 17,07%) và chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông vẫn duy trì mức giảm (Năm
2011 giảm 5,06%; năm 2012 giảm 1,11%)
Chỉ số giá vàng tháng 12/2012 tăng 0,46% so với tháng trước; tăng 0,4% sovới tháng 12/2011 Chỉ số giá USD tháng 12/2012 tăng 0,03% so với tháng trước;giảm 0,96% so với tháng 12/2011
Trang 12
và mức tăng 18,13% của năm 2011, nhưng lại là năm giá có nhiều biến động bấtthường Cụ thể chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá cao vào 2 tháng đầu năm (tăng0,1% vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng 2), nhưng tăng cao nhất vào tháng 9 vớimức tăng 2,20%, chủ yếu do tác động của nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhómgiáo dục Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm dần trong những tháng cuối năm(chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 tăng 0,85%, tháng 11 tăng 0,47%) Điều này thể hiệntính kịp thời và hiệu quả của việc triển khai Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 26/9/2012của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình
ổn giá
Trang 13Lạm phát giai đoạn 2009-2012
Nguồn: oc-011050920.html
Trang 14http://www.tinmoi.vn/lam-phat-cao-se-tiep-tuc-nhan-chim-thi-truong-dia-2 Nguyên nhân gây lạm phát
2.1 Lạm phát theo thuyết tiền tệ
Kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền mất giá… có nhiều nguyên nhân dẫn đếnlạm phát Chẳng hạn thời tiết không thuận, mất mùa, nông dân thu hoạch thấp, giálương thực tăng lên Giá nguyên vật liệu tăng làm cho giá hàng tiêu dùng tăng lên.Khi tiền lương tăng, chi phí sản xuất cũng tăng theo, dẫn đến giá các mặt hàngcũng tăng Tăng lương đẩy giá lên cao Tóm lại, lạm phát là hiện tượng tăng liêntục mức giá chung và có thể giải thích theo 3 cách
Theo học thuyết tiền tệ, lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cungtiền
Theo học thuyết Keynes, lạm phát xảy ra do thừa cầu về hàng hoá và dịch vụtrong nền kinh tế (do cầu kéo)
Theo học thuyết chi phí đẩy, lạm phát sinh ra do tăng chi phí sản xuất (chiphí đẩy)
Trên thực tế lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên, mỗinguyên nhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau
Mức cung tiền là một biến số duy nhất trong đẳng thức tỷ lệ lạm phát, màdựa vào đó ngân hàng Trung ương đã tạo ra ảnh hưởng trực tiếp Trong việc chốnglạm phát, các ngân hàng Trung ương luôn giảm sút việc cung tiền
Tăng cung tiền có thể đạt được bằng 2 cách:
Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi suất thấp và điều kiện kinhdoanh tốt), hoặc Các ngân hàng thương mại có thể tăng tín dụng
Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi phí
Trang 15cung không tăng tương ứng với cầu, thì việc dư cầu sẽ được bù đắp bằng việc tănggiá Tuy nhiên, giá cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ tăng sau đó 2-3 năm In tiền
để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến lạm phát nghiêm trọng
Ví dụ:
Năm 1966-1967, chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng tiền để trả cho nhữngchi phí leo thang của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, lạm phát tăng từ 3% (năm1967) đến 6% (năm 1970)
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (y) đạt mức cânbằng, nghĩa là (i) và (y) ổn định Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũngkhông đổi Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên với
tỷ lệ tương ứng Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ Đây là lý do tại sao ngânhàng Trung ương rất chú trọng đến nguyên nhân này
2.2 Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát cầu kéo)
Tăng cung tiền là nguyên nhân duy nhất dẫn đến việc tăng cầu về hàng hoá
và dịch vụ Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là những nhân tố phitiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3 năm, nếu cầu vềhàng hoá vượt quá mức cung, song sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sửdụng máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đápứng được sự gia tăng của cầu Sự mất cân đối đó sẽ được giá cả lấp đầy Lạm phát
do cầu tăng lên hay lạm phát do cầu kéo được ra đời từ đó Chẳng hạn ở Mỹ, sửdụng công suất máy móc là một chỉ số có ích phản ánh lạm phát trong tương lai ở
Mỹ, sử dụng công suất máy móc trên 83% dẫn tới lạm phát tăng
2.3 Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy
Lạm phát chi phí đẩy vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lượng tăng thêm thất
Trang 16phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng Điềunày chỉ có thể được trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵnsàng trả với giá cao hơn.
Ví dụ:
Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ.Nếu tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tănglên Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thìgiá bán sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương cao hơntrước để phù hợp với chi phí sinh hoạt tăng lên, điều đó tạo thành vòng xoáy lượnggiá
Một yếu tố chi phí khác là giá cả nguyên vật liệu đặc biệt là dầu thơ Trongnăm 1972-1974 hầu như giá dầu quốc tế tăng 5 lần dẫn đến lạm phát tăng từ 4,6%đến 13,5% bình quân trên toàn thế giới
Ngoài ra sự suy sụp của giá dầu (1980) làm cho lạm phát giảm xuống mứcthấp chưa từng thấy
Bên cạnh những yếu tố gây nên lạm phát đó là giá nhập khẩu cao hơn đượcchuyển cho người tiêu dùng nội địa Nhập khẩu càng trở nên đắt đỏ khi đồng nội tệyếu đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác Ngoài ra yếu tố tâm lý dân chúng, sựthay đổi chính trị, an ninh quốc phòng… Song nguyên nhân trực tiếp vẫn là sốlượng tiền tệ trong lưu thông vượt quá số lượng hàng hoá sản xuất ra Việc tăng độtngột của thuế (VAT) cũng làm tăng chỉ số giá
Trang 17Lạm phát dự kiến
Trong nền kinh tế, trừ siêu lạm phát, lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có
xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó Giá cả trong
trường hợp này tăng đều một cách ổn định Mọi người có thể dự kiến đượctrước nên còn gọi là lạm phát dự kiến
Trang 18Trong lạm phát dự kiến AS & AD dịch chuyển lên trên cùng, độ sản lượngvẫn giữ nguyên, giá cả tăng lên theo dự kiến.
2.4 Các nguyên nhân khác
Giữa lạm phát và lãi suất khi tỷ lệ lạm phát tăng lên lãi suất danh nghĩa tăngtheo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt Điều nàyđặc biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát, tiền mất giá càng nhanh, tăng mức độtiền gửi vào ngân hàng, vào quỹ tiết kiệm hoặc đẩy ra thị trường để mua về mọiloại hàng hoá có thể dự trữ gây thêm mất cân bằng cung cầu trên thị trường hànghoá và tiếp tục đẩy giá lên cao
Giữa lạm phát và tiền tệ khi ngân sách thâm hụt lớn các chính phủ có thể inthêm tiền để trang trải, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân gây ralạm phát Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới nảy sinh, đòi hỏi phải
in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt Kiểu lạm phát xoáy ốcnày thường xảy ra trong thời kỳ siêu lạm phát Tuy nhiên, chính phủ có thể tài trợ