1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

11111111111 tieu luan kinh te quoc dan[1] chuyen de doc

30 502 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách, Pháp Luật Đất Đai Đối Với Ngành Nông Nghiệp Qua Các Thời Kỳ Lịch Sử Và Ý Nghĩa Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 174,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách đất đai thời đại Văn minh Hùng Vương Xã hội Việt Nam trải qua hàng ngàn nǎm dưới chế độ phong kiến, bắt đầu từ nhànước Văn lang - Âu lạc khoảng thế kỷ thứ III trước công nguyê

Trang 1

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động Trong quá trình lao động conngười tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ cho con người, vìvậy đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời vừa là sản phẩm lao động của conngười Đất đai giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, là tài nguyên quốc gia vô cùng quýgiá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống,

là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh

và quốc phòng Sự khẳng định vai trò của đất đai như trên là hoàn toàn có cơ sở Đất đai

là điều kiện chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc doanh vàhoạt động của con người Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sốngcủa động - thực vật và con người trên trái đất Đất đai là điều kiện rất cần thiết để conngười tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người Bởi vậy việc sử dụngđất tiết kiệm có hiệu quả và bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vôcùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia

Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội Tuy vậy, đối với từngngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau Trong công nghiệp và các ngành khác ngoàinông nghiệp, trừ công nghiệp khai khoáng, đất đai nói chung làm nền móng, làm địađiểm, làm cơ sở để tiến hành các thao tác Trái lại, trong nông nghiệp đặc biệt là ngànhtrồng trọt đất đai có vị trí đặc biệt Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp,

nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động

Trong nông nghiệp, nếu sử dụng hợp lý đất đai thì sức sản xuất của nó khôngngừng được nâng lên Sức sản xuất của đất đai tăng lên gắn liền với sự phát triển của lựclượng sản xuất, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, với việc thực hiện phương thức thâm canh

và chế độ canh tác hợp lý Sức sản xuất của đất đai biểu hiện tập trung ở độ phì nhiêucủa đất đai Vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp hữu hiệu để nâng cao độ phì nhiêucủa đất đai, cho phép năng suất đất đai tăng lên Chính vì vậy, bản thân lựa chọn chủ đề;

Trang 2

“Chính sách, pháp luật đất đai đối với ngành nông nghiệp qua các thời kỳ lịch sử và

ý nghĩa của nó trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài tiểu luận.

I Chính sách đất đai dưới các triều đại phong kiến.

1.1 Chính sách đất đai thời đại Văn minh Hùng Vương

Xã hội Việt Nam trải qua hàng ngàn nǎm dưới chế độ phong kiến, bắt đầu từ nhànước Văn lang - Âu lạc khoảng thế kỷ thứ III trước công nguyên, với nền kinh tế nôngnghiệp lúa nước nên nhân dân ta coi đất là nền tảng hàng đầu của sự sinh tồn, ruộng đấtthuộc quyền chiếm đoạt và chi phối của giai cấp địa chủ phong kiến Thời kỳ này, quyền

sở hữu tối cao ruộng đất đã thuộc về nhà vua Do vậy, người dân cày cấy ruộng có nghĩa

vụ phải đóng góp lương thực để nuôi sống bộ máy của Nhà nước với lực lượng quân độiđông đảo

1.2 Chính sách đất đai thời kỳ Bắc thuộc

Nhìn chung suốt mấy trăm năm, trải qua 9 triều đại phong kiến Trung quốc thốngtrị nước ta; Triệu, Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường, phương Bắc chỉ có thểcoi miền đất nước ta là miền đất ngoài (ngoại địa), chỉ áp đụng được chính sách thống trị

“ràng buộc" lỏng lẻo ở các châu, quận, huyện Nhưng ở những nơi phong kiến phươngBắc đóng quân và cai trị, bên cạnh chính sách thống trị tàn bạo, chúng vẫn đẩy mạnhchính sách bóc lột ráo riết và đồng hóa nặng nề Ruộng đất được coi là quyền sở hữu củabọn đô hộ

Do không nắm được cơ sở bên dưới của xã hội, nhà Hán chủ trương muốn giữđược đất đai mới chiếm thì phải thực hiện chính sách đồn điền Chúng tiến hành dời tộinhân, dân nghèo người Hán xuống ở lẫn với người Việt, xâm chiếm và khai phá ruộngđất để lập đồn điền Đồn điền là một loại ruộng quốc khố do chính quyền đô hộ trực tiếpquản lý Một bộ phận nhân dân lao động bị trói buộc vào đồn điền trở thành nông nô củachính quyền đô hộ Hình thức bóc lột chính là tô, dung, điệu (tô là thuế ruộng đất, dung

là thuế lao dịch và điệu là căn cứ vào hộ khẩu mà thu thuế- thuế thân) Bên cạnh đó còn

có thuế hộ (với 3 loại là thượng hộ, thứ hộ và hạ hộ chia ra theo tài sản gia đình) Chínhsách đồn điền Chính sách tô thuế Chính sách lao dịch cưỡng bức Nắm độc quyền muối

và sắt

Trang 3

Do hậu quả của chế độ tô thuế nặng nề, chiến tranh tàn phá, ruộng đất công bịcường hào chiếm đoạt mà nhiều thành viên công xã người Việt bị phá sản, phải rơixuống thân phận làm nô tì cho các nhà quyền quý hay trở thành nông dân lệ thuộc, thuộc

hạ của địa chủ quan lại địa phương Như thế, bên cạnh sự tồn tại phổ biến của làng xã,người Việt vẫn giữ được tính tự trị, thời kỳ này đã xuất hiện một số đồn điền của chínhquyền đô hộ, một số trại ấp của quan lại địa chủ, cũng như một số thị trấn và xóm làngcủa người Hoa

Trong lịch sử thế giới thật hiếm có một đất nước đã mất chủ quyền hơn 1000 năm

mà vẫn có thể giành lại nước Trong lịch sử khu vực, Việt Nam là đại diện cuối cùng vàduy nhất còn sót lại của đại gia đình Bách Việt vừa giành lại được độc lập, giữ đượctruyền thống văn hóa của người Việt, vừa hiên ngang trong tư thế của một quốc gia tựchủ, tự cường, tự lập Vì sao tổ tiên ta lại có thể giành được những thắng lợi lẫy lừngnhư vậy?

Chúng ta bước vào thời Bắc thuộc không phải từ hai bàn tay trắng, không phải từcon số không, mà từ những thành tựu rực rỡ của lịch sử và văn hoá Đó là hàng chục vạnnăm văn hóa tiền sử và nền văn hóa Đông Sơn đã định hình lối sống, cá tính và truyềnthống Việt Nam Đó là một cơ cấu văn minh riêng, một thể chế chính trị xã hội riêng xáclập những cơ sở ban đầu nhưng rất vững chắc về ý thức quốc gia, dân tộc Đây chính là

ưu thế căn bản, là cội nguồn sức mạnh của người Lạc Việt và Âu Việt trong cuộc đọ sứcnghìn năm này

Nền đô hộ của phong kiến Trung Quốc trong thời Bắc thuộc tuy hết sức tàn bạo

và nguy hiểm nhưng cũng bộc lọ nhiều hạn chế, nhiều chỗ yếu căn bản của nó Đó làthời kỳ Bắc thuộc tuy kéo dài hơn 1000 năm, nhưng lại có nhiều gián đoạn bởi nhân dân

ta liên tục vùng lên đấu tranh và nhiều lần đã giành được độc lập tạm thời Đó là kẻ thùthống trị chúng ta trong thực tế không có thời kỳ ổn định lâu dài để cai trị và thực hiện

âm mưu đồng hóa Nhiều lần thay đổi triều đại và hỗn chiến phong kiến triền miên ởphương Bắc cũng tác động không nhỏ đến cơ sở thống trị của chúng ở nước ta Nhân cơhội này, một số quan lại đô hộ mưu đồ cát cứ và cũng có một số đã bản địa hóa Bộ máychính quyền đô hộ với tất cả khả năng và cố gắng đến mức cao nhất của nó cũng không

Trang 4

làm sao trực tiếp kiểm soát và khống chế nổi toàn bộ lãnh thổ nước ta Nhiều vùng rộnglớn vẫn nằm ngoài phạm vi cai trị của chính quyền đô hộ.

Đặc biệt, về mặt cấu trúc xã hội, sau khi cướp nước ta, kẻ thù đã thủ tiêu chủ quyền quốcgia, xóa bỏ thể chế Nhà nước của các vua Hùng, vua Thục, nhưng trong suốt thời Bắcthuộc chúng không thể nào với tay tới và can thiệp làm biến đổi được cơ cấu xóm làng

cổ truyền của ta Các xóm làng dựa trên cơ sở công xã nông thôn vẫn tồn tại như thế giớiriêng của người Việt, là nơi nuôi dưỡng và phát huy những tinh hoa của văn hóa truyềnthống làm cơ sở nền tảng cho cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hóa Nhândân ta đã giữ được làng, bảo tồn làng, dựa vào làng và xuất phát từ làng mà đấu tranhbền bỉ kiên cường để giành lại độc lập cho đất nước

1.3 Chính sách đất đai thời kỳ xây dựng và thịnh đạt của phong kiến Việt Nam đến khi thực dân pháp xâm lược.

Thời kỳ này, đất đai thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà vua Đó là sở hữu danhnghĩa, thực chất có 4 quuyền sở hữu tồn tại đối với ruộng đất đó là Ruộng quốc khố,ruộng phong cấp, rộng công làng xã, hay công điền công thổ và ruộng tư của địa chủ vànông dân tự canh Công điền công thổ phát triển mạnh vào thời Lý đặc biệt thời Trần.chế độ phong kiến rất quan tâm đến phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là gốc.thường xuyên quan tâm đến các công trình thủy lợi, đắp đê…

Năm 1397, Hồ Quý Ly đã thực hiện chính sách hạn điền, qui định dân thườngkhông được quá 10 mẫu ruộng Chính sách hạn điền của nhà Hồ tạo cơ hội cho ngườicày có ruộng và thu hẹp sở hữu đất đai của tầng lớp quý tộc nhà Trần Chính sách nàynhằm tranh thủ lòng dân và làm suy yếu lực lượng quan chức của triều đại cũ Nhưngchính sách hạn điền của Hồ Quý Ly chỉ có hiệu lực với thường dân, không thi hànhđược với các bậc vương giả

Đất đai đã có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm ổn định về chính trị vàlòng trung thành của người dân đối với triều đình Vì vậy, Nhà Lê đã có nhiều chínhsách ruộng đất theo khuynh hướng không để đất hoang, tăng hiệu quả sử dụng đất, đadạng hoá các hình thức sử dụng Lê Lợi đã tiến hành kiểm kê ruộng đất, tịch thu ruộngđất của giới quí tộc nhà Trần, của đại địa chủ, của quan chức chính quyền đô hộ, của

Trang 5

thương gia và người dân tuyệt tự để ban thưởng cho công thần nhà Lê, mỗi người từ 200đến 500 mẫu ruộng tuỳ theo công trạng Năm 1468, vua Lê Thánh Tông định ra lệnhdùng ruộng công để làm lộc trả lương cho các quan Ông còn có sáng kiến lập ra các đồnđiền để “khai thác hết những lợi thế của việc làm ruộng, để cho kho chứa của Nhà nước

có nhiều thóc lúa” Đặc biệt Bộ luật Hồng Đức năm 1442 đã dành trọn chương 6 gồm 59điều về điền sản để qui định chế độ sở hữu, sử dụng và bảo vệ ruộng đất, ví dụ như quiđịnh về việc cấp chia ruộng, chuyển dịch ruộng đất, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữuthừa kế đất đai v.v…

Năm 1664 Lê Huyền Tông sửa đổi chế độ thuế ruộng đất của thời nhà Trần, theo

đó ruộng công hạng nhất “mỗi mẫu định 1 quan tiền, ruộng tư điền không phải đóngthuế” Đến Nhà Nguyễn, chính sách đất đai vẫn được duy trì kể từ thời nhà Đinh, Tiền

Lê, người dân nhận ruộng cày cấy và nộp tô thuế cho triều đình Tuy nhiên, trên thực tếnhững ruộng đất do người dân cày lâu ngày được coi như của riêng, có thể mua bán,cầm cố hay thừa kế Nếu triều đình muốn trưng dụng phải trả tiền bồi thường Công điền(ruộng công) là đất của công, do chính phủ giao cho xã, thôn sử dụng và cấm bán, trừ 1vài trường hợp có thể cầm cố trong hạn 3 năm, hết hạn phải lấy lại Về thời hạn sử dụng,

cứ 3 năm phân chia lại 1 lần cho dân đế mỗi người đều có một số ruộng tương tự nhaumột cách công bằng, cách này gọi là phép quân điền

Cuối thế kỷ XVIII, khi diễn ra cuộc nội chiến, đất công ngày càng bị thu hẹp dẫntới việc tư hữu hóa ruộng đất Đàng ngoài ngày càng tiêu điều, nông dân bỏ làng lưu tánkhắp nơi Ở đàng trong (1669) chúa Nguyễn công hữu hoá toàn bộ ruộng đất đang canhtác, ruộng đất được đo đạc, lập sổ và giao cho xã để nộp thuế đồng thời thành lập cácquan điều trang; quan đồn điền để phục vụ cho ngân khố nhà nước và là nguồn để cungcấp ruộng đất cho các quan chức cao cấp Chúa Nguyễn cho mọi người được tổ chứckhai hoang để làm ruộng

Khi nhà Tây Sơn lên nắm quyền năm 1771, đã đánh bại hai chế độ cai trị của hai

họ Nguyễn, Trịnh, chấm dứt việc chia đôi đất nước và bãi bỏ nhà Hậu Lê Nguyễn Huệtrở thành vua Quang Trung của nhà Tây Sơn tiếp tục thực hiện chính sách đất đai bằngviệc đề ra “chiếu khuyến nông”, theo đó ai cày ruộng công phải đóng thuế nặng gấp hơn

Trang 6

3 lần so với cày ruộng tư của mình (công điền hạng nhất mỗi mẫu đóng thuế 130 bátthóc, tư điền cùng hạng chỉ đóng 40 bát thóc một mẫu).

Đặc biệt, khi lên ngôi Vua Gia Long đã phải ra lệnh cấm bán ruộng đất công vàquy định chặt chẽ việc cầm cố loại công điền công thổ để bảo đảm đất cày cho mọingười nông dân Đạo dụ năm Gia Long thứ 2 (1803) có ghi rõ: "Theo lệ cũ thì công điềncông thổ cho dân quân cấp, đem bán riêng là có tội, do đó nhân dân đều được lợi cả Từđời Tây Sơn bỏ hết luật cũ, dân gian nhiều người đổi ruộng công làm ruộng tư, Phàm

xã dân có công điền công thổ đều không được mua bán riêng, làm trái là có tội Ai muanhầm thì mất tiền ” Bên cạnh đó, Nhà Vua còn dùng đất để thưởng công cho các quanlại, đồng thời tìm cách giành lại diện tích đất công do các địa chủ chiếm giữ từ thời khởinghĩa Tây sơn Còn đất tư được thừa nhận nhưng không thuộc hẳn về một cá nhân nào

vì tất cả đều thuộc quyền sở hữu của Nhà Vua

Vào năm 1803, thời Minh Mạng đã định lại phép quân cấp ruộng khẩu phần, quanlại, binh lính, công tượng (thợ làm quan xưởng) cùng các hạng dân đinh, không kể phẩmtrật cao thấp đều được hưởng 1 phần khẩu phân, người già, người tàn tật thì được nửaphần Cô nhi, quả phụ được 1/3, nhưng các chức sắc trong làng, xã đòi hỏi quyền lợinhiều hơn nên dẫn tới việc ‘‘giấu giếm công điền, công thổ’’, gây đau đầu cho triềuđình, nên triều đình đã quyết định mở cuộc điều tra về đất đai

Cuối thế kỷ XIX (giữa những năm 1880) vua quan phong kiến triều Nguyễn đầuhàng và bán rẻ nước ta cho thực dân Pháp trong cuộc xâm chiếm của Pháp ở Miền Bắc

và Miền Trung Việt Nam Trong quá trình khai thác thuộc địa, Thực dân Pháp tiếp tụcduy trì quan hệ sản xuất phong kiến, đồng thời cho phép tư bản Pháp chiếm hữu và khaithác ruộng đất ở nước ta trên quy mô lớn Trong quá trình khai thác thuộc địa của thựcdân Pháp, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hình thành ở nước ta, sự thống trị của tưbản độc quyền không có nghĩa là quan hệ sản xuất phong kiến bị loại trừ; trái lại, chúngduy trì nó để kìm hãm sự phát triển, tạo ra cơ sở kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của chế

độ thực dân ở Việt Nam

Nhà Nguyễn và triều đại phong kiến nhà Nguyễn bắt đầu khi Vua Gia Long lênngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và chấm dứt khi vua Bảo Đại thoái vị vào

Trang 7

năm 1945 - tổng cộng là 143 năm Với 13 đời Vua đã làm được một số việc lớn tronglĩnh vực ruộng đất Đầu tiên phải kể đến công trình đo đạc và lập sổ địa bạ trên phạm vitoàn quốc từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau Công trình này được tiến hành từ năm 1805đến năm 1836, như vậy mất 31 năm Nhà Vua đã cử các quan lại có đủ tài đủ đức để phụtrách công việc đo đạc, lập sổ địa bạ tới từng mảnh đất để biết rõ diện tích, hiện trạng sửdụng, chủ sở hữu và tất cả các thông số khác về mảnh đất Dựa vào kết quả của côngtrình này triều đình nhà Nguyễn đã hoạch định ra chính sách khai thác, sử dụng từng loạiđất, nắm được sự biến động của đất đai trong phạm vi cả nước Hiện nay chúng ta cònlưu giữ khoảng 10.044 tập địa bạ Theo tập địa bạ này thì ruộng đất thuộc sở hữu tưnhân được thể hiện như sau: ở Bắc bộ là 65-70%, Trung bộ là 60-65%, Nam bộ là 92-93% Đặc biệt, mức độ tập trung ruộng đất tư điền của chủ Nam Bộ là rất lớn Phổ biếnmỗi điền chủ có từ 100 đến 500 mẫu ruộng có người tới 2000 mẫu ruộng

Chính sách đất đai của nhà Nguyễn dựa trên nguyên tắc: Vua có quyền sở hữu tốicao đối với đất đai, bên cạnh đó cũng tôn trọng quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai Ví

dụ mỗi khi Nhà nước thu hồi đất để làm các công trình của nhà nước phải được đền bùđầy đủ, người bỏ nhà, bỏ xứ đi hàng chục năm khi trở về vẫn được khôi phục quyền sởhữu của mình trên mảnh đất đó

Từ năm 1839-1840 triều đình nhà Nguyễn thực hiện chính sách chia lại ruộng đất,vận động các điền chủ lớn hiến ruộng cho Nhà nước Nhà Nguyễn đã thực hiện thànhcông chính sách đất đai như cấm các chủ sở hữu bỏ hoang ruộng, san sẻ ruộng đất củađịa phương nhiều đất cho địa phương ít đất Ngoài ra còn thực hiện chính sách khaihoang, lập ấp mới Đi đầu trong thực hiện chính sách khai hoang, lấn biển là NguyễnCông Trứ và Nguyễn Tri Phương

Tóm lại: Diễn biến tình hình đất đai trong lịch sử phong kiến Việt Nam có thể tóm lượcmột số nét sau: Toàn bộ diện tích đất của lãnh thổ quốc gia chia làm 2 loại: Đất công vàđất tư Thời kỳ đầu ruộng đất công được hình thành và củng cố trên cơ sở chế độ cônghữu nguyên thuỷ về đất đai Trong quá trình phát triển nhà nước phong kiến nhất là thời

kỳ nhà nước phong kiến độc lập đồng thời là thời kỳ củng cố chế độ công hữu về ruộngđất Tuy các nhà nước phong kiến đều cố gắng củng cố chế độ công hữu để phục vụ cho

Trang 8

bộ máy quản lý nhà nước, nhưng thực tế do lực lượng sản xuất phát triển, bộ máy hànhchính quan liêu đã làm thúc đẩy quá trình tư hữu hoá ruộng đất Cho đến trước Cáchmạng Tháng 8 năm 1945 thì ruộng đất tư vẫn chưa chiếm tuyệt đối ở nông thôn ViệtNam Tuy nhiên ý thức và thực tế về ruộng đất tư ở miền Nam mạnh mẽ hơn miền Bắc.chính sách công điền công thổ có ảnh hưởng sâu sắc đến cố kết cộng đồng làng xã.Chính sách coi trọng nông nghiệp vô tình tạo ra mặt thứ hai đó là ức chế công thươngnghiệp, tác động đến hàng chục thế kỷ.

1.4 Chính sách đất đai ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.

Sau khi đặt ách thống trị, thực dân Pháp bắt đầu tìm cách chiếm đoạt đất đai, đưapháp luật của Pháp để củng cố quyền sở hữu đất đai của Tư Bản Pháp ở Việt Nam TạiNam kỳ khi đã thành thuộc địa, Thực dân Pháp đã áp dụng các qui định của Bộ luật Dân

sự Napoleon năm 1804 trong quản lý đất đai và các tài sản gắn liền với đất Sau này tinhthần của Bộ luật Dân sự Napoleon 1804 cũng được thể hiện trong Bộ luật Dân sự Bắc kỳ(1931) và Bộ luật Dân sự Trung kỳ (1936 - 1939) Còn ở Bắc và Trung kỳ là 2 xứ bảo

hộ thì chính quyền Pháp áp dụng theo qui định của Bộ luật Gia Long và theo phong tụctập quán, tức là vẫn tôn trọng quyền sở hữu đất của quan lại, vua quan và quyền sở hữuđất đai của làng xã Vì vậy, giai cấp địa chủ khoảng 50% ruộng đất, và tư bản thực dântrong quá trình duy trì chế độ chiếm hữu ruộng đất đã chiếm dụng trong tay khoảng 20

% ruộng đất, trong khi nông dân chiếm trên 90% số dân chỉ có khoảng 20 % ruộng đất.Ruộng công làng xã chiếm 10 % Bình quân một người Pháp chiếm 23 ha, trong khi đóbình quân người dân chiếm 0,24 ha Mức chiếm hữu ruộng đất như trên tạo cho giai cấpthống trị có đầy đủ phương tiện vật chất để áp bức bóc lột nông dân

Thực dân Pháp thực hiện việc củng cố chế độ tư hữu về điền sản Thể hiện ở chỗtôn trọng triệt để các loại ruộng đất tư hữu như ruộng hương hoả, ruộng cúng giỗ, ruộngdùng cho dưỡng lão Những ruộng này hình thành theo qui định của Bộ luật Hồng Đứchoặc theo Luật Gia Long Những ruộng tư nếu phải trưng thu vào việc công ích thì đềuđược bồi thường thoả đáng bằng các chính sách thuế

Ưu điểm của chính sách thuế về ruộng đất thời kỳ này là được thực hiện dựa trên

cơ sở các phân loại về ruộng đất và cách nâng cấp đất hạng hai, hạng ba khác nhau:

Trang 9

Thuế đất thường dao động trong khoảng từ cao nhất là 1,5 đồng cho ruộng loại một (đấttrồng một vụ lúa và có tưới tiêu), đến thấp nhất là 30 xu cho đất ruộng loại 3 Các hồ aonhỏ cũng bị đánh thuế với mức chuẩn là 18 xu/đơn vị Bên cạnh đó, những vi phạm vềqui định pháp luật trong lĩnh vực đất đai không bị xử lý hình sự như thời phong kiếntrước đó, mà thường được xử lý bằng biện pháp hành chính, phạt tiền theo qui định Bộluật Dân sự ở 3 xứ Bắc - Trung - Nam Bên cạnh một số chính sách tích cực về đất đainhư trên thì thực dân Pháp cũng đẩy mạnh chính sách cướp đoạt ruộng đất của ngườidân Việt Nam để lập đồn điền Đến nǎm 1890, ở Việt Nam đã có 126 đồn điền, hầu hết

là của bọn tay sai và thực dân người Pháp Số ruộng đất mà Thực dân Pháp khai thác ởTrung Kỳ là 3484 hécta, Bắc Kỳ là 3068 hécta và Nam Kỳ là 4346 hécta Trong khoảngthời gian từ nǎm 1890 đến nǎm 1900, tư bản Pháp chiếm 320.000 hécta ruộng đất trồnglúa và cao su Đặc biệt từ nǎm 1907 trở đi, thực dân Pháp tập trung khai thác vùng đất

đỏ tại Nam Bộ, và Nam Trung Bộ, đồng thời mở rộng các đồn điền ở Sơn Tây, BắcGiang, Thái Nguyên Từ nǎm 1921 đến nǎm 1926, chúng chiếm trên 100.000 hécta đồnđiền cao su, từ nǎm 1926 đến nǎm 1928 chúng chiếm 215.000 hécta Ngoài ra, Pháp,Nhật còn trồng café, đay…Như vậy, từ khi trở thành thuộc địa của Pháp cho đến nǎm

1930, ruộng đất ở Việt Nam tập trung trong tay tư bản Pháp lên tới 1.025.000 hécta(riêng đồn điền cao su là 706.000 hécta), chiếm 1/4 diện tích canh tác của Việt Nam baogồm cả những nhà tư bản tài chính (Đông Pháp ngân hàng, Địa ốc ngân hàng và các chinhánh của nó) Nông khố ngân hàng có ở hầu khắp các tỉnh bằng hình thức cho vay rồichiếm đoạt ruộng đất của cả địa chủ và nông dân

Tuy nhiên, việc mở mang đồn điền cũng có mặt tích cực của nó, đó là góp phầnlàm tăng thêm diện tích đất canh tác, từng bước phá thế độc canh của cây lúa, đổi mới

cơ cấu cây trồng, nâng cao năng suất và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Cùng vớiviệc đặt ách thống trị của mình, thực dân Pháp cũng mang theo luật pháp của Pháp vào

áp dụng cho công cuộc quản lý và khai thác đất đai thuộc địa tại Việt Nam cùng với việcduy trì hình thức sở hữu và sử dụng đất theo kiểu phong kiến bản địa

Chính sách cướp đoạt ruộng đất lập đồn điền của Pháp ở Việt Nam đã đẩy hàngvạn nông dân Việt Nam vào cảnh mất ruộng thiếu ruộng, họ buộc phải trở thành tá điền

Trang 10

để làm thuê cho các chủ đất, hoặc ra thành thị để kiếm việc Nông dân không hăng háisản xuất Chưa bao giờ thực dân Pháp đặt vấn đề kỹ nghệ hóa nông nghiệp

II Chính sách ruộng đất của Nhà nước Việt Nam và ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay

2.1 Chính sách ruộng đất của Nhà nước Việt Nam thời kỳ 1930 - 1957

Trước khi ĐCS Việt Nam ra đời, trong hơn nửa thế kỷ, nhiều giai cấp và tầng lớp

đã đứng lên lãnh đạo nhân dân ta chống xâm lược Nhưng do hạn chế về mặt giai cấp,nên VN chưa có một tầng lớp hay một giai cấp nào nhận thức được tính bức thiết củavấn đề ruộng đất cũng như mối quan hệ của nó với vấn đề giải phóng dân tộc Đó chính

là nguyên nhân khiến cho họ không lôi kéo được đông đảo nông dân tiến hành cuộc cáchmạng giải phóng dân tộc và không tránh khỏi thất bại

Từ bản Cương lĩnh đầu tiên năm 1930, Đảng ta đã nhận định “Có đánh đổ đếquốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm Cách mạng thổ địa được thắnglợi” Xuất phát từ nhận định đúng đắn này, Đảng ta đã giương cao khẩu hiệu “Tịch kýhết thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bốn xứ và các giáo hội, giao ruộng ấycho trung và bần nông” Trong Luận cương chính trị năm 1930, Đảng ta đã xác định

“Quyền sở hữu ruộng đất thuộc về chánh phủ công nông”

Sau khi giành độc lập dân tộc năm 1945, vấn đề ruộng đất và vấn đề nông dânmới được nhận thức đúng đắn: đó là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam

và được thể hiện trong Chính cương vắn tắt và Điều lệ vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc khởithảo và được thông qua tại Hội nghị thành lập ĐCSVN (3-2-1930) và Luận cương chínhtrị tháng 10-1930 khẳng định tính chất của cách mạng Việt Nam là "cách mạng tư sảndân quyền, nó phải giải quyết hai nhiệm vụ chiến lược là đánh đế quốc giành độc lậpdân tộc và đánh đổ phong kiến giành ruộng đất cho nông dân

Lần đầu tiên trong lịch sử, nhà nước Việt Nam đã nhận thức đúng vị trí của vấn đềruộng đất và vấn đề nông dân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến và đặt thành mộtnhiệm vụ chiến lược gắn liền với nhiệm vụ giải phóng dân tộc Việc giải quyết vấn đềruộng đất cho nông dân chính là bảo đảm quyền dân chủ cơ bản về mặt kinh tế của nông

Trang 11

dân Nó không chỉ được thực hiện trong cách mạng dân tộc dân chủ, mà còn được địnhhướng cho sự phát triển tiếp theo trong giai đoạn sau này

Trên cơ sở Cương lĩnh và Luận cương CT, một phong trào cách mạng của công nông mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ Tĩnh đã nổ ra Lần đầu tiên nhân dân ta đã nắm quyền

-ở một số địa phương, thực hiện ngay những quyền dân chủ đối với nông dân, trong đó

có vấn đề ruộng đất cho dân cày

Từ nǎm 1939 đến nǎm 1945, mục tiêu trực tiếp của cách mạng Việt Nam là giànhđộc lập dân tộc Vì vậy, NN chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng thổ địa để tập hợplực lượng toàn dân tộc chống đế quốc, phátxít Về vấn đề ruộng đất trong thời kỳ này,nhà nước đã nêu cao khẩu hiệu tịch thu tài sản của bọn phát xít Nhật - Pháp và bọn việtgian, thi hành giảm tô, chia lại công điền theo chương trình của Mặt trận Việt Minh

Vấn đề ruộng đất được đặt ra ở đây tuy mới chỉ là chủ trương, chính sách, song nó

có ý nghĩa thực tiễn là: chủ trương, chính sách đó đã phù hợp với lợi ích của giai cấpnông dân nên đã sớm phát huy tác dụng, phát triển phong trào cách mạng của quầnchúng, tạo nên sức mạnh vật chất, góp phần cùng toàn dân tiến hành cuộc Cách mạngtháng Tám 1945 thành công, lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

Năm 1945, nhà nước ta chia lại công điền cho nhân dân, trồng màu nơi côngcộng Do đó, từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1945, ở Bắc Bộ diện tích trồng màu tăng 3lần Năm 1946 so với năm 1944 sản lượng lúa vượt 38 % Nạn đói đã được chặn đứng

Đó là thành công to lớn của chế độ mới Vấn đề này vẫn còn nguyên giá trị cho đếnngày nay

Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh giảm tô và ra chỉ thị chia ruộngđất các đồn điền, trại ấp vắng chủ cho nông dân Sau khi giành chính quyền, vấn đềruộng đất đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra thành một hệ thống các chính sách

và từng bước giải quyết ruộng đất cho nông dân, cụ thể: Tịch thu ruộng đất của thực dânPháp để chia cấp cho nông dân Tính đến trước cải cách ruộng đất 1952 - 1953, đã tịchthu 81,3% ruộng đất từ tay thực dân Pháp chia cho nông dân Chia cấp lại công điền,công thổ cho nông dân Tính đến nǎm 1953 đã chia cấp 77,8% ruộng công điền chonông dân Tạm giao ruộng đất của địa chủ, PK và địa chủ vắng mặt cho nông dân,

Trang 12

84,7% loại ruộng đất này đã được chia cho nông dân Nhà nước đã ban hành sắc lệnhgiảm tô 25%, cho nông dân lĩnh canh ruộng đất của địa chủ, thu thuế nông nghiệp (nǎm1952) Tính đến nǎm 1953 đã có 58,3% tổng số ruộng đất của tư bản Pháp, địa chủ, cùngruộng công được chia cho nông dân Kết quả trên có ý nghĩa thực tiễn đối với sự nghiệpcách mạng của nhà nước Việt Nam: quyền sở hữu ruộng đất đã thay đổi, từng bướcchuyển từ tay giai cấp địa chủ phong kiến và đế quốc sang tay nông dân, thu hẹp thế lựckinh tế và chính trị của họ; tǎng cường thế và lực của Nhà nước dân chủ nhân dân ViệtNam, từ đó, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, củng cố liên minh công - nông -nòng cốt của mặt trận dân tộc thống nhất, đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp.

Năm 1953, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Luật Cải cáchruộng đất Nhà nước chủ trương tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào trao cho dâncày, đồng thời xác định quyền sở hữu của họ trên những diện tích đất đó Năm 1954,Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đất nước ta tạm thời chia cắt thành hai miền Việc thựchiện từng bước chính sách ruộng đất của NNVN từ sau năm 1945 đến đầu nǎm 1953 đãtạo ra những chuyển biến sâu sắc về sở hữu ruộng đất và quan hệ giai cấp ở nông thôn.Tuy vậy, chế độ chiếm hữu và bóc lột phong kiến chưa bị thủ tiêu, khẩu hiệu "Ngườicày có ruộng" chưa được giải quyết cǎn bản, giai cấp địa chủ vẫn tồn tại Vì vậy, tháng1-1953, Ban chấp hành trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 4 kiểm điểm chính sáchruộng đất trong kháng chiến và phát động triệt để giảm tô nhằm bước đầu thực hiện yêucầu về kinh tế của nông dân Tháng 11-1953, Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảnglần thứ 5 quyết định cải cách ruộng đất và đề ra chủ trương, biện pháp tiến hành cải cáchruộng đất

Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, tháng 12-1953 Luật Cải cách ruộng đấtđược ban hành với các biện pháp thực hiện gồm: Tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộngđất của địa chủ để chia cho nông dân Sau hai năm thực hiện cải cách ruộng đất đã đemchia được hơn 810.000ha ruộng đất cho 2.104.138 hộ với 8.223.636 nhân khẩu tức72.78% số hộ nông dân Ngoài ra nông dân còn được chia hàng triệu nông cụ, hàng chụcvạn trâu bò và nhà ở Việc cải cách ruộng đất xuất phát từ thực tế miền Bắc lúc bấy giờ

Trang 13

là 75% ruộng đất canh tác nằm trong tay địa chủ, thực dân, Nhà thờ, nông dân chiếm87% dân số mà chỉ chiếm có 25% diện tích ruộng đất

Như vậy, cải cách ruộng đất ở miền Bắc đã xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất vàbóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến, xác lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dân,bước đầu thực hiện dân chủ hoá về mặt kinh tế đối với nông dân - cơ sở của dân chủ vềmặt chính trị ở nông thôn Trên cơ sở đó, nǎng lực sản xuất trong nông nghiệp được giảiphóng, sức lao động và ruộng đất của nông dân được gắn với nhau trong quá trình sảnxuất Đợt hai được tiến hành ở 270 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên, Thanh Hóa, Bắc Giang.Kết quả thu được 44.500 ha ruộng đất và 10.000 trâu bò chia cho nông dân Từ đó tạo rasức mạnh vật chất, tinh thần to lớn cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đặc biệt

là chiến thắng Điện Biên Phủ

Trong thời gian này, nhà nước tiến hành tiếp 3 cuộc cải cách ruộng đất nữa và cácthời gian; đợt ba từ tháng 2 năm 1955 đến tháng 6 năm 1955; đợt 4 từ tháng 6 năm 1955đến tháng 12 năm 1955; đợt 5 từ tháng 12 năm 1955 đến tháng 7 năm 1956, tổng cộng

đã tiến hành 5 đợt ở 3.653 xã, 22 tỉnh, phần lớn ở đồng bằng và trung du Đã chia 81 vạn

ha ruộng đất, 100.000 trâu bò, 150.000 nhà cửa, 2 triệu nông cụ cho 2,1 triệu hộ nôngdân, với 9,5 triệu người, làm thay đổi hẳn quan hệ ruộng đất ở nông thôn, giai cấp địachủ phong kiến bị xóa bỏ hoàn toàn Sức sản xuất nông nghiệp được giải phóng, ngườinông dân được tự do, có ruộng đất thêm tin tưởng và Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, cảicách ruộng đất không chỉ giải quyết vấn đề kinh tế mà còn giải quyết cả vấn đề giai cấptrong xã hội với một tinh thần triệt để, chính vì thế mà nó đã trở thành cuộc cách mạngmang tính giai cấp nên đã gây ra những sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo thực hiện:

Do chủ quan, giáo điều, không xuất phát đầy đủ từ thực tiễn VN, nên không thấy rõđược những thay đổi quan trọng về sở hữu ruộng đất ở nông thôn Việt Nam từ sau Cáchmạng tháng Tám, nhất là trong 9 nǎm kháng chiến Từ đó, trong chỉ đạo tiến hành cảicách ruộng đất đã cường điệu tính chất đấu tranh giai cấp ở nông thôn, dẫn đến mở rộngquá mức đối tượng đấu tranh, gây ra tình trạng đánh nhầm vào nội bộ nông dân, nhất làtrung nông lớp trên Trong chỉnh đốn tổ chức, đã nhận định sai về tổ chức cơ sở đảng ở

Trang 14

nông thôn, cho là bị địch lũng đoạn Từ đó, đã dẫn đến việc xử lý oan nhiều cán bộ,đảng viên tốt.

Việc tổ chức ra một hệ thống tổ chức chỉ đạo cải cách ruộng đất từ Trung ươngđến cơ sở tách rời sự chỉ đạo và kiểm soát của các cấp uỷ ở khu, tỉnh, huyện; hệ thốngnày được giao quyền hạn quá rộng, dẫn đến mệnh lệnh, độc đoán, hạ thấp vai trò của cáccấp lãnh đạo, nhiều cán bộ theo lập trường tư tưởng của giai cấp nông dân được đưa ra

áp dụng để giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội nông thôn Vì thế tại Hội nghị lầnthứ 10 (khoá II) của Ban chấp hành Trung ương đã nghiêm khắc kiểm điểm những sailầm trong thực hiện cải cách ruộng đất cùng với việc xác lập quyền làm chủ ruộng đấtcủa nông dân, tháng 5-1955, Quốc hội đã ban hành các chính sách kinh tế quan trọngnhằm khuyến khích khôi phục và phát triển kinh tế hộ nông dân, nội dung cơ bản là bảođảm quyền sở hữu ruộng đất, bảo vệ tài sản của nông dân và các tầng lớp khác, khuyếnkhích khai hoang phục hoá (khai hoang được miễn thuế 5 nǎm, phục hoá được miễn thuế

3 nǎm), tǎng vụ, tǎng nǎng suất, tự do thuê mướn nhân công, tự do thuê mướn trâu bò, tự

do vay mượn, khuyến khích các hình thức đổi công tương trợ, khuyến khích khôi phụccác nghề thủ công truyền thống, bảo hộ, khuyến khích, khen thưởng nông dân sản xuất,nghiêm cấm phá hoại sản xuất

Như vậy, sau khi giải phóng khỏi phương thức sản xuất phong kiến các chính sách

về quyền sở hữu và sử dụng đất là phù hợp và được pháp luật bảo hộ, đã làm cho sứcsản xuất ở nông thôn cuối thập kỷ 50 có những tiến bộ rõ rệt Ở vào thời điểm đất nướcvừa trải qua chiến tranh, kinh tế nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu, quan hệ hợp tác quốc tếchưa có gì đáng kể, nhưng với hệ thống chính sách phù hợp trong việc quy định vềquyền sở hữu và quyền sử dụng đất đã đưa lại quyền làm chủ ruộng đất cho nông dân,giải phóng mọi nǎng lực sản xuất trong nông nghiệp, tạo ra động lực mới phát triển sảnxuất góp phần khôi phục kinh tế và ổn định đời sống của người dân

Năm 1955 đến năm 1957, nhiều làng xã ở miền Bắc, miền Trung còn tồn tại phầnlớn ruộng đất công thuộc sở hữu nhà nước và các loại ruộng công của làng Những diệntích này hình thành từ nhiều nguồn gốc, lịch sử khác nhau Những đất này do các cánhân hiến, tiến cúng dưới nhiều hình thức: làm phúc, đặt hậu hoặc do khai phá tập thể

Trang 15

hoặc là trong quỹ đất của làng Cả hai loại ruộng đất trên được các làng xã sử dụng theoquy tắc trong Hương ước của làng Hoa lợi thu được từ những diện tích này, họ dànhcho việc thờ cúng, lễ hội làng, tặng đồ vật cho những người đi lính, đi phu, cho nhữngngười già không nơi nương tựa, cho trẻ em mồ côi Lợi tức còn lại, làng sẽ chia đềucho các thành viên là nam giới từ 18 đến 60 tuổi Làng nào giàu có thì chia cho cả nhữngngười từ 15 tuổi đến 18 tuổi Cứ khoảng 3 năm đến 6 năm thì diện tích ruộng này lạiđược chia lại một lần Việc sử dụng, chia cấp ruộng đất công lúc đầu được các giai tầng

xã hội đồng tình ủng hộ, vì dân có đất để cày cấy và không phải đi thuê của địa chủ,đồng thời, khi cần các chi phí cho cộng đồng thì người dân không phải đóng góp vì đã

có các khoản ruộng đất phục vụ cho thờ cúng và chi phí hành chính Các quan lại tronglàng cũng đồng tình vì họ có quyền lợi từ cả hai loại ruộng đất đó Vì vậy, qua nhiềuđời, ruộng đất công làng xã không bị xâm phạm Các Hương ước của các làng quy định

về thể lệ sử dụng, chia cấp ruộng đất, xử phạt, tạo ra sự công bằng

Từ năm 1954-1957, Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện khôi phục nền kinh

tế sau chiến tranh và phấn đấu hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dânchủ Với khẩu hiệu người cày có ruộng, Đảng và Nhà nước ta đã hoàn thành Cải cáchruộng đất với một loạt các biện pháp giúp nông dân sau khi được chia ruộng đất và các

tư liệu sản xuất khác đã từng bước khôi phục nền kinh tế nông nghiệp Với chính sáchnày, trong xã hội có rất nhiều các thành phần kinh tế, nhiều cá nhân, cộng đồng dân cư

sử dụng đất Mỗi một chủ thể, một thành phần kinh tế tương ứng với một hình thứcSHĐĐ, tài sản nhất định

Năm 1955 đến năm 1957, nhiều làng xã ở miền Bắc, miền Trung còn tồn tại phầnlớn ruộng đất công bao gồm đất thuộc sở hữu nhà nước và các loại ruộng công của làng.Những diện tích này hình thành từ nhiều nguồn gốc, lịch sử khác nhau Những đất này

do các cá nhân hiến, tiến cúng dưới nhiều hình thức: làm phúc, đặt hậu hoặc do khai phátập thể hoặc là trong quỹ đất của làng Cả hai loại ruộng đất trên được các làng xã sửdụng theo quy tắc trong Hương ước của làng Hoa lợi thu được từ những diện tích này,

họ dành cho việc thờ cúng, lễ hội làng, tặng đồ vật cho những người đi lính, đi phu, chonhững người già không nơi nương tựa, cho trẻ em mồ côi Lợi tức còn lại, làng sẽ chia

Ngày đăng: 28/06/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w