1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chương 1: Nhập môn pps

21 260 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 860,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh lịch sử đó, giới lãnh đạo chính trị của nước Mỹ khuyến khích các nhà khoa học xã hội của họ nghiên cứu các vấn đề của các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển

Trang 1

Hơn ắ dõn số thế giới sống ở cỏc nước đang phỏt triển, nhưng

họ chỉ cú được 16% thu nhập của thế giới-trong khi đú 20% người giàu nhất chiếm 85% thu nhập toàn cầu

- Chương trỡnh phỏt triển liờn hợp quốc, Bỏo cỏo phỏt triển con người, 1995

Mục tiờu cuối cựng của phỏt triển phải là giảm sự khụng cụng bằng giữa và bờn trong cỏc quốc gia… Thỏch thức lớn nhất của

sự phỏt triển của chỳng ta hiện nay là thỏch thức của sự khụng

bị loại trừ

- James D Wolfensohn, Giỏm đốc, Ngõn hàng thế giới, 1998

(Todaro and Smith1 2003, 3)

1.1 Kinh tế phát triển Học

1.1.1 Bối cảnh lịch sử về sự ra đời Kinh tế phát triển học

Sau Chiến tranh thế giới thư II, có ba sự kiện quan trọng của thế giới

Thứ nhất là sự vươn lên mạnh mẽ của nước Mỹ như là một cường quốc

Trong khi các nước Tây Âu (Vương Quốc Anh, Pháp, và Đức) bị suy yếu sau chiến tranh, nước Mỹ nổi bật lên thành một cường quốc, và bắt đầu Kế hoạch Marshall tái thiết Tây Âu từ hậu quả của chiến tranh Trong những năm

1950s, nước Mỹ nắm lấy vai trò điều khiển các vấn đề của thế giới Thứ hai

là sự lan rộng của hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa Liên Xô mở rộng sự

ảnh hưởng không chỉ ở khu vực Đông Âu mà còn đến Châu á như Trung

Quốc, Triều Tiên và Việt Nam Thứ ba, sự khai sinh các nhà nước độc lập ở

Châu á, Châu Phi, và Châu Mỹ La Tinh sau khi giải phóng khỏi ách thống trị của các nước thực dân đã hình thành nên các nước Thế giới thứ 3, hay các nước chậm phát triển (Less Developed Countries – LDCs) Các nhà nước mới

Trang 2

thành lập này chập chững tìm kiếm mô hình/đường lối phát triển đất nước để

đẩy mạnh nền kinh tế và tăng cường sự độc lập chính trị của mình

Trong bối cảnh lịch sử đó, giới lãnh đạo chính trị của nước Mỹ khuyến khích các nhà khoa học xã hội của họ nghiên cứu các vấn đề của các nước

đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, sự ổn định chính trị ở các nước Thế giới thứ 3 với mục đích tranh giành sự ảnh hưởng đến các nước này với Liên Xô Với sự tài trợ hào phóng từ chính phủ Mỹ và các quỹ tài trợ tư nhân, thế hệ các nhà nghiên cứu kinh tế, chính trị, xã hội trẻ tuổi bắt tay vào nghiên cứu những vấn đề kinh tế – chính trị – xã hội của các nước Thế giới thứ 3 Trong bối cảnh lịch sử đó, Kinh tế phát triển học được hình thành và là một lĩnh vực nghiên cứu độc lập với các môn kinh tế khác

(Alvin Y So2 1990, 17)

1.1.2 Bản chất của Kinh tế phát triển học

Kinh tế học quan tâm đầu tiên đến vấn đề hiệu quả Nó nghiên cứu

các xã hội làm cách nào để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm để sản xuất ra những hàng hoá và dịch vụ có giá trị và phân phối chúng cho các thành viên khác nhau trong xã hội Kinh tế học truyền thống gắn liền với các nền kinh tế tư bản tiên tiến: thị trường tự do, khách hàng là thượng đế, sự tự

động điều chính của giá cả, các quyết định được đưa ra dựa trên cơ sở các tính toán của giá trị cận biên, lợi nhuận, và lợi ích; và sự cân bằng của các sản phẩm đầu ra của tất cả các thị trường sản phẩm và thị trường các yếu tố sản xuất Kinh tế học truyền thống giả định rằng các quyết định kinh tế dựa trên sự hợp lý, tính thuần vật chất, và mang tính cá nhân (Samuelson and Nordhaus3 2005, 4; Todaro and Smith 2003, 8-9)

Kinh tế chính trị vượt qua kinh tế học truyền thống nghiên cứu các

quá trình thay đổi xã hội qua đó các nhóm lãnh đạo kinh tế, chính trị nhất

định ảnh hưởng đến việc phân bổ các nguồn lực sản xuất khan hiếm để đảm bảo lợi ích của họ cũng như lợi ích cho toàn xã hội Như vậy, kinh tế chính trị quan tâm đến mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế, với sự nhấn mạnh đến vai trò của quyền lực trong các quyết định kinh tế

Kinh tế phát triển học có phạm vi nghiên cứu rộng hơn Thêm vào

việc quan tâm đến sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm, kinh tế phát triển còn phải giải quyết các vấn đề về cơ chế xã hội, chính trị, và thể chế (cả công cộng và tư nhân) cần thiết để mang lại sự cải thiện nhanh và rộng lớn về mức sống của đa số người nghèo, thiếu dinh dưỡng, và mù chữ ở Châu Phi, Châu á, và Châu Mỹ La Tinh Không giống như các nước phát triển, ở các nước đang phát triển, hầu hết thị trường hàng hoá và thị trường các yếu tố sản xuất là những thị trường không hoàn hảo, người tiêu dùng và người sản xuất

Trang 3

thiếu thông tin, những thay đổi cấu trúc lớn diễn ra ở cả xã hội và nền kinh tế, tiềm năng cho trạng thái đa cần bằng hơn là đơn cân bằng là phổ biến, và trạng thái không cân bằng thường xuyên xảy ra (giá cả không phản ánh cân bằng cung – cầu) Trong rất nhiều trường hợp, các tính toán kinh tế bị chi phối bởi những ưu tiên về xã hội hay chính trị Ví dụ, việc xây dụng một quốc gia mới ở Châu Phi, thay thế các chuyên gia nước ngoài bằng các nhà hoạch định chính sách nội địa, giải quyết các vấn đề xung đột sắc tộc, bảo tồn các giá trị văn hoá, tôn giáo truyền thống ở cấp cá nhân, lợi ích của gia

đình, nhóm xã hội có thể được đặt lên trên lợi ích của cá nhân hay mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận

Như vậy, kinh tế phát triển, hơn cả kinh tế học và kinh tế chính trị, quan tâm cả đến các yêu cầu về chính trị xã hội mà có ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cấu trúc và thể chế của toàn xã hội Những sự thay đổi này của xã hội sẽ làm cho đại bộ phận dân cư được hưởng những thành quả kinh tế của xã hội Kinh tế phát triển cũng phải tập trung nghiên cứu những cơ chế tạo ra cái bẫy của sự nghèo đói mà các hộ gia đình, các vùng, và các quốc gia mắc phải; và nghiên cứu những chiến lược hiệu quả nhất để phá vỡ những cái bẫy này Như vậy, một vai trò lớn hơn của chính phủ, và ở một mức độ nào đó, sự

điều phối các quyết định kinh tế dẫn đến sự thay đổi nền kinh tế thường được xem xét là một phần quan trọng của kinh tế phát triển

Vì sự đa dạng của các nước Thế giới thứ 3 và sự phức tạp của quá trình phát triển, kinh tế phát triển phải mềm dẻo, cố gắng kết hợp các khái niệm và các học thuyết từ kinh tế học truyền thống đến các mô hình mới và sự tiếp cận đa ngành Mục tiêu cuối cùng của kinh tế phát triển là cố gắng tìm hiểu các nền kinh tế của các nước đang phát triển góp phần cải thiện đời sống vật chất cho những người nghèo của thế giới

(Todaro and Smith 2003, 8-9) Tóm lại, kinh tế phát triển là một môn khoa học riêng biệt có phạm vi nghiên cứu rộng hơn kinh tế học và kinh tế chính trị Trong khi vẫn quan tâm

đến hiệu quả phân bổ các nguồn lực khan hiếm và sự tăng trưởng bền vững, kinh tế phát triển còn tập trung vào các cơ chế kinh tế, xã hội, và thể chế cần thiết để đem lại sự cải thiện nhanh và rộng lớn về mức sống của đại bộ phận người nghèo ở các nước đang phát triển Như vậy, kinh tế phát triển phải quan tâm đến các cách thức phù hợp của các chính sách công, những chính sách này được thiết kế để tác động đến sự chuyển đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, và thể chế trong toàn xã hội trong một thời gian ngắn nhất có thể

(Todaro and Smith 2003, 23)

Trang 4

1.1.3 Các vấn đề nghiên cứu của kinh tế phát triển học

Các nước đang phát triển, trong quá trình phát triển nền, cần phải trả lời những câu hỏi then chốt sau:

1 í nghĩa thực sự của phỏt triển là gỡ? Và quỏ trỡnh phỏt triển là gỡ?

2 Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế của quốc gia và quốc tế là những gỡ? Ai

là người được hưởng những thành quả của sự tăng trưởng đú và tại sao? Tại sao một số nước tiến nhanh trong quỏ trỡnh phỏt triển trong khi một số nước khỏc lại chịu cảnh nghốo đúi chậm phỏt triển kộo dài?

3 Những lý thuyết phỏt triển nào là cú ảnh hưởng nhất? Tỡnh trạng kộm phỏt triển được tạo lờn bởi cỏc yếu tố nội tại (trong nước) hay bởi cỏc yếu tố bờn ngoài (quốc tế)?

4 Bài học nào cú thể rỳt ra được từ những kinh nghiệm lịch sử về quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế của cỏc nước phỏt triển hiện nay? Những điều kiện ban đầu của cỏc nước kộm phỏt triển hiện nay giống hay khỏc so với những điều kiện mà cỏc nước phỏt triển đó từng trải qua trong giai đoạn cụng nghiệp hoỏ của chỳng?

5 Làm thế nào để sự nõng cao vị trớ và vai trũ của phụ nữ cú ảnh hưởng tớch cực đến triển vọng phỏt triển?

6 Sự tăng dõn số cú phải đang là một đe doạ đến quỏ trỡnh kinh tế của cỏc nước đang phỏt triển?

7 Những nguyờn nhõn của nghốo đúi là gỡ, và những chớnh sỏch nào đó

và đang cải thiện cuộc sống của những người nghốo nhất?

8 Những xó hội giàu cú cũng là những xó hội mà người dõn cú sức khoẻ tốt, bởi vỡ chỳng cú nhiều nguồn lực để cải thiện dinh dưỡng và chăm súc sức khoẻ cho dõn cư Nhưng dõn cư cú sức khoẻ tốt cú thỳc đẩy sự phỏt triển thành cụng khụng?

9 Tại sao thất nghiệp là tỡnh trạng rất phổ biến ở những nước đang phỏt triển, nhất là ở khu vực thành thị? Tại sao người dõn/lao động nụng thụn vẫn tiếp tục di cư vào thành phố tỡm việc làm trong khi cơ hội tỡm được việc làm của họ rất ớt?

10 Hệ thụng giỏo dục ở cỏc nước đang phỏt triển cú đẩy mạnh sự phỏt triển kinh tế hay khụng? Hay nú chỉ đơn giản là một cơ chế để duy trỡ

sự giàu cú, quyền lực, và sự ảnh hưởng của một nhúm dõn cư nào đú?

11 Gần 60% đến 70% dõn số của cỏc nước đang phỏt triển sinh sống ở khu vực nụng thụn, làm cỏch nào để phỏt triển nụng nghiệp và nụng thụn tốt nhất? Giỏ nụng sản cao cú đủ để thỳc đẩy sản xuất nụng

nghiệp, hay sự thay đổi thể chế nụng thụn (chia lại ruộng đất, đường

xỏ, phương tiện giao thụng, giỏo dục, tớn dụng v.v.) cũng là cần thiết?

Trang 5

12 Chúng ta hiểu “phát triển bền vững” là gi? Có hay không những chi phí kinh tế của việc theo đuổi phát triển bền vững thay vì chỉ quan tâm đến tăng trưởng kinh tế? Và ai là người phải nhận trách nhiệm chính

về sự phá huỷ môi trường toàn cầu – các nước giàu hay các nước nghèo?

13 Mở rộng thương mại quốc tế có phải là sự khao khát của các nước nghèo? Ai thực sự thu lợi từ thương mại quốc tế, và sự lợi thế được phân phối như thế nào giữa các quốc gia?

14 Xuất khẩu sản phẩm thô (primary products) như nông sản có nên được khuyến khích hay không? Các nước đang phát triển có nên công

nghiệp hoá bằng việc phát triển các ngành công nghiệp chế tạo trong nước càng nhanh càng tốt hay không?

15 Các nước đang phát triển lâm vào khủng hoảng nợ nước ngoài như thế nào? Và sự dính líu của những món nợ này vào nền kinh tế của cả các nước phát triển và các nước đang phát triển là gi?

16 Khi nào và trong điều kiện nào thì chính phủ của các nước đang phát triển nên áp dụng chính sách điều tiết ngoại thương, tăng hàng rào thuế quan, hay ấn định hạn ngạch cho các mặt hàng nhập khẩu với mục tiêu bảo hộ các ngành sản xuất trong nước hay cải thiện cán cân thanh toán?

17 Có nên khuyến khích sự đầu tư của các công ty/tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh vào các nước đang phát triển, nếu có thì trong điều kiện nào? Ảnh hưởng của sự bùng phát các “nhà máy toàn cầu” và của toàn cầu hoá tài chính và thương mại đến quan hệ kinh tế quốc tế như thế nào?

18 Sự ảnh hưởng của hỗ trợ kinh tế nước ngoài là gì? Các nước đang phát triển có nên tiếp tục tìm kiếm các nguồn hỗ trợ này không, nếu có thì trong điều kiện gì, và với mục đích gì? Các nước phát triển có nên tiếp tục hỗ trợ, và nếu có thì trong điều kiện nào, với mục đích gì?

19 Thị trường tự do và tư nhân hoá kinh tế là câu trả lời cho các vấn đề phát triển, hay chính phủ của các nước đang phát triển vẫn có vai trò chính trong vận hành nền kinh tế của họ?

20 Toàn cầu hoá là gì, và nó đang ảnh hưởng đến các nước đang phát triển như thế nào?

21 Vai trò của chính sách tài khoá và tiền tệ trong thúc đẩy phát triển là gì? Sự chi tiêu lớn cho quân đội thúc đẩy hay kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế?

22 Tại sao khoảng cách giữa nước giàu và nước nghèo lại quá lớn và ngày càng rộng ra?

(Todaro and Smith 2003, 10-11)

Trang 6

1.2 ý nghĩa của phát triển

1.2.1 Tiờu chuẩn đỏnh giỏ phỏt triển của kinh tế học truyền thống

“Tăng trưởng kinh tế, phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động”

(Liên Hợp Quốc 1946) Theo thuật ngữ kinh tế, trỡnh độ phỏt triển là khả năng của một nền kinh tế tạo ra và duy trỡ một sự tăng trưởng hàng năm của Tổng sản phẩm quốc dõn (Gross National Product-GNP), khoảng 5% đờn 7% hoặc cao hơn Một chỉ tiờu kinh tế khỏc cũng thường được sử dụng để đỏnh giỏ trỡnh độ phỏt triển là thu nhập bỡnh quõn đầu người hoặc GNP bỡnh quõn đầu người, chỉ tiờu này phản ỏnh khả năng tăng trưởng của một đất nước cao hơn tốc độ tăng dõn số

Thờm vào đú, phỏt triển kinh tế trong quỏ khứ cũng được xem xột như một sự thay đổi về cấu trỳc của nền sản xuất và sự phõn bổ lao động trong cỏc ngành sản xuất: tỷ trọng của ngành nụng nghiệp giảm trong khi tỷ trọng của cụng nghiệp và dịch vụ tăng Do vậy, cỏc chiến lược phỏt triển thường tập trung vào cụng nghiệp hoỏ nhanh, và phỏt triển nụng nghiệp và nụng thụn thường bị bỏ qua

Cuối cựng, bờn cạnh cỏc chỉ tiờu về kinh tế, một số chỉ tiờu xó hội cũng thường được sử dụng để bổ sung cho việc đỏnh giỏ trỡnh độ phỏt triển Một số chỉ tiờu thụng dụng đú là tỷ lệ người lớn biết chữ, điều kiện giỏo dục,

y tế và dịch vụ v.v

Túm lại, trong quỏ khứ, ớt nhất là trước những năm 1970, phỏt triển được nhỡn nhận như một hiện tượng kinh tế Trong giai đoạn này, tăng trưởng kinh tế (sự tăng trưởng nhanh của GNP cũng như GNP bỡnh quõn đầu người) được đặc biệt coi trọng trong cỏc chiến lược phỏt triển của cỏc quốc gia Tăng trưởng kinh tế nhanh được tin là sẽ tạo ra hoặc việc làm cho nhõn dõn hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết để mở rộng sự phõn phối cỏc lợi ớch kinh tế xó hội cho nhõn dõn Cỏc vấn đề nghốo đúi, phõn biệt đối xử, thất nghiệp, và phõn phối thu nhập chỉ là những vấn đề quan trọng thứ hai sau tăng trưởng kinh tế

(Todaro and Smith 2003, 15-16)

1.2.2 Quan điểm mới về phỏt triển

Kinh nghiệm của những năm 1950 và đầu những năm 1960, rất nhiều nước đang phát triển đạt được mục tiêu tăng trưởng (thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh) nhưng mức sống của đại bộ phận dân số vẫn không có gì thay đổi Dấu hiệu này cho thấy có điều gì đó rất sai trong việc coi tăng

Trang 7

trưởng kinh tế nhanh là phát triển Ngày càng có nhiều nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách kêu gọi “hạ bệ quan điểm tăng trưởng nhanh” và khuyến khích tấn công trực tiếp vào nghèo đói tràn lan, tình trạng bất bình

đẳng trong phân phối thu nhập và nạn thất nghiệp

Tóm lại, trong thập kỷ 70, phát triển được định nghĩa là việc xoá đói giảm nghèo, giảm bất công, và giải quyết vấn đề thất nghiệp trong bối cảnh một nền kinh tế có tăng trưởng

Sang những năm 1980, 1990 tình trạng của rất nhiều nước đang phát triển còn trở lên tồi tệ hơn khi mà tốc độ tăng trưởng kinh tế âm, phải đối mặt với vấn đề nợ nước ngoài Chính phủ của các nước này đứng trước áp lực phải cắt giảm các khoản chi tiêu vốn đã hạn chế cho các chương trình kinh tế xã hội

Hơn nữa, hiện tượng phát triển hay tình trạng kém phát triển dai dẳng không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế hay việc đo lường thu nhập, việc làm,

và bất bình đẳng Kém phát triển thực chất là cuộc sống của hơn 3 tỷ người

trên thế giới Như Denis Goulet diễn tả một cách hùng hồn rằng “kém phát

triển thực sự gây sốc: sự nghèo khổ, bệnh tật, những cái chết không cần thiết,

Thách thức của sự phát triển… là nâng cao chất lượng cuộc sống Đặc biệt

là trong thế giới của các nước nghèo, một chất lượng cuộc sống tốt hơn chắc chắn đòi hỏi phải có thu nhập cao hơn nhưng nó còn liên quan đến nhiều thứ hơn thế nữa Nó bao gồm giáo dục tốt hơn, tiêu chuẩn về sức khoẻ và dinh dưỡng cao hơn, giảm nghèo đói, môi trường sống trong sạch hơn, cơ hội công bằng hơn, con người được tự do hơn, và đời sống văn hoá phong phú hơn

Như vậy, phát triển phải được hiểu đó là một quá trình nhiều mặt liên quan đến những thay đổi cơ bản trong kết cấu xã hội, những quan điểm phổ thông, thể chế quốc gia cùng với sự tăng trưởng kinh tế nhanh, giảm bất công, và giảm nghèo đói Phát triển, về bản chất, phải thể hiện sự thay đổi

đồng bộ, trong đó xã hội đảm bảo những nhu cầu cơ bản, những mong muốn của các cá nhân, các nhóm dân cư trong xã hội đó; chuyển từ trạng thái mà người dân phải đối mặt với sự thiếu thốn, không thoả mãn sang trạng thái mà người dân được hưởng cuộc sống vật chất cũng như tinh thần tốt hơn

Trang 8

Phát triển bền vững (PTBV) Năm 1987, khái niệm phát triển bền vững

lần đầu tiên xuất hiện: "Phát triển bền vững là sự phát triển liên tục trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực đáp ứng nhu cầu hiện tại và bảo tồn chúng cho thế hệ tương lai" - World Commision on Environment and Development's Report Our Common Future - The Brundtland Commision - Offord University Press, 1987

Tóm lại, phát triển bền vững liên quan đến 3 giác độ là kinh tế - xã hội – môi trường, được mô phỏng như hình 1.1 ở dưới

Phát triển kinh tế

Phát triển bền vững

Tiến bộ xã hội

Bảo vệ môi trường

Hình 1.1 Phát triển

Về kinh tế “Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hoà

giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc

độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch” (Văn phòng Phát triển bền vững – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Dự án VIE/01/021 2006, 71) Theo các nhà kinh tế, con đường phát triển là bền vững “nếu và chỉ nếu lượng vốn của tất cả các loại tài sản được bảo toàn hoặc tăng lên theo thời gian.” Điều này thực chất là sự tăng trưởng trong tương lai

và chất lượng cuộc sống phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng của môi trường (Todaro and Smith 2003, 465)

Trang 9

Về xã hội Bền vững về xã hội là xây dựng một xã hội có nền tăng

trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ

và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội

Các mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (UNDP) tập trung vào khía cạnh xã hội của phát triển (xem Phụ Lục 1)

Về môi trường Bền vững về môi trường là các dạng tài nguyên thiên

nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất

(Văn phòng Phát triển bền vững – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Dự án VIE/01/021 2006, 71-72)

Hộp 1: Quan điểm phát triển của Việt Nam- Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam: 8 nguyên tắc

Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững Đáp ứng ngày càng

đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển

Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển

sắp tới, đảm bảo an ninh lương thực, năng lượng để PTBV, đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền Từng bước thực hiện nguyên tắc

“mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi”

Thứ ba, bảo vệ và cải thiện môi trường phải được coi là một yếu tố không thể

tách rời của quá trình phát triển Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc “người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn” Xây dựng hệ thống phát luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ môi trường; chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế – xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững

Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu

của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội công bằng để phát triển, được tiếp cận đến các nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không tái tạo được, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi và yêu quý thiên nhiên.

Trang 10

Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá,

hiện đại hoá, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất, trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành

và lĩnh vực sản xuất khác

Thứ sáu, PTBV là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ,

ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là phụ nữ, thanh niên, đồng bào dân tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về các

dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước

Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế Phát triển các quan hệ song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để PTBV Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu về môi trường do quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra

Thứ tám, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi

trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

(V¨n phßng Ph¸t triÓn bÒn v÷ng – Bé KÕ ho¹ch vµ §Çu t−, Dù ¸n VIE/01/021

+ (Thu nhËp cña c− d©n trong n−íc tõ n−íc ngoµi chuyÓn vÒ)

Ngày đăng: 24/07/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: GDP, GNI của một số n−ớc, năm 2000 - Chương 1: Nhập môn pps
Bảng 1.1 GDP, GNI của một số n−ớc, năm 2000 (Trang 11)
Bảng 1.3: GNI, Dân số và GNI bình quân đầu ng− ời của một số n− ớc, năm 2000 - Chương 1: Nhập môn pps
Bảng 1.3 GNI, Dân số và GNI bình quân đầu ng− ời của một số n− ớc, năm 2000 (Trang 12)
Bảng 1.2: Tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước, năm 2000  N−íc  Tốc độ tăng trưởng GDP (%) Nước  Tốc độ tăng trưởng GDP (%) - Chương 1: Nhập môn pps
Bảng 1.2 Tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước, năm 2000 N−íc Tốc độ tăng trưởng GDP (%) Nước Tốc độ tăng trưởng GDP (%) (Trang 12)
Bảng 1.6: Tỷ lệ giá trị xuất khẩu, nhập khẩu so với GDP của một số n− ớc, - Chương 1: Nhập môn pps
Bảng 1.6 Tỷ lệ giá trị xuất khẩu, nhập khẩu so với GDP của một số n− ớc, (Trang 13)
Bảng 1.5: Cơ cấu kinh tế của một số n−ớc, năm 2000 - Chương 1: Nhập môn pps
Bảng 1.5 Cơ cấu kinh tế của một số n−ớc, năm 2000 (Trang 13)
Bảng 1.6: Một số chỉ tiêu về dân số của Việt Nam - Chương 1: Nhập môn pps
Bảng 1.6 Một số chỉ tiêu về dân số của Việt Nam (Trang 15)
Hình 1.3. Vòng luẩn quẩn của các n−ớc ĐPT - Chương 1: Nhập môn pps
Hình 1.3. Vòng luẩn quẩn của các n−ớc ĐPT (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w