1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chương 5: Quan hệ quốc tế và sự phát triển pdf

11 330 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 640,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ quốc tế: Đơn giản ----> phức tạp Song phương ----> đa phương - Song phương: Đại sứ đặc mệnh toàn quyền - Đa phương: ASEAN: Khối các nước Đông Nam á APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế

Trang 1

Chương V

Quan hệ quốc tế và sự phát triển

5.1 Các khía cạnh quan hệ quốc tế

Hầu hết các lĩnh vực qua nhiều mối quan hệ khác nhau (thể thao, văn hoá, ngoại giao, kinh tế, xã hội chính trị) nhưng cuối cùng là vì mục tiêu kinh tế và chính trị

Quan hệ quốc tế: Đơn giản > phức tạp

Song phương > đa phương

- Song phương:

Đại sứ đặc mệnh toàn quyền

- Đa phương:

ASEAN: Khối các nước Đông Nam á APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á thái bình dương UN: Liên Hợp Quốc

- Các quan hệ đa phương: Mục tiêu kinh tế là mục tiêu hàng đầu

ặ Quan hệ Kinh tế - quốc tế

Quan hệ Kinh tế quốc tế của một nước bao gồm ba nội dung cơ bản:

- Hoạt động thương mại quốc tế (ngoại thương), đó là hoạt động xuất - nhập khẩu hàng hoá

- Hoạt động tài chính quốc tế

- Hoạt động hợp tác đầu tư:

- Hoạt động du lịch - dịch vụ: đó là các hoạt động vận tải, bảo hiểm, ngân hàng và hoạt động du lịch

5.2 Thương mại quốc tế và sự phát triển

5.2.1 Các vấn đề cơ bản của thương mại quốc tế

+ Khái niệm

Thương mại quốc tế là sự trao đổi lưu thông hàng hoá giữa một quốc gia với các quốc gia khác trên thế giới Các đối tượng buôn bán trao đổi:

- Hàng tiêu dùng

- Các yếu tố đầu vào, phương tiện kĩ thuật, công nghệ để phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế

Hai hoạt động đặc thù của thương mại quốc tế là Xuất khẩu và Nhập khẩu

Trang 2

+ Xuất khẩu - Nhập khẩu

ắ Xuất khẩu trực tiếp: Tự tìm kiếm thị trường ặ đàm phán ặ quyết định

ắ Thông qua một hoặc một vài tổ chức:

9 Mỗi tổ chức có những quy chế về phương thức hoạt động, về kế hoạch sản xuất và trao đổi hàng hoá, về khối lượng hạn ngạch đối với từng loại mặt hàng

mà mỗi quốc gia hay tổ chức thành viên được đưa ra thị trường

9 Các quốc gia thành viên còn yếu trong sản xuất, tìm kiếm thì trường, chưa có

uy tín trên thị trường sẽ nhận được hỗ trợ chung của tổ chức để tăng cường thực lực hoạt động

+ Những yếu tố tác động đến hoạt động xuất - nhập khẩu

- Sức mạnh của nền kinh tế của quốc gia hoặc tổ chức tham gia hoạt động

- Sức mạnh của đồng tiền của quốc gia hoặc tổ chức tham gia hoạt động - tỷ giá hối

đoái

Tỷ giá thương mại

Tổng giá trị của thu nhập xuất khẩu không chỉ phụ thuộc vào số lượng hàng xuất khẩu

được bán ra nước ngoài, mà còn phụ thuộc vào giá cả của chúng Nếu giá xuất khẩu giảm thì một lượng hàng hoá lớn hơn được xuất khẩu chỉ để giữ tổng số thu nhập như trước

Tương tự, về mặt nhập khẩu, tổng ngoại khối chi ra phụ thuộc vào cả số lượng và giá cả nhập khẩu

Nếu giá hàng xuất khẩu của một nước giảm so với giá hàng hoá mà nó nhập vào thì nước đó phải xuất khẩu nhiều hàng hoá hơn và phải huy động nhiều hơn các nguồn lực của mình chỉ để đảm bảo một cùng mức hàng nhập khẩu như trước

Các nhà kinh tế có một tên gọi đặc biệt cho mối quan hệ này là: Tỷ giá thương mại

(Hệ số trao đổi hàng hoá (Term of Trade) - I n )

Px

In = ⎯⎯⎯⎯⎯

Pm

Px - chỉ số giá xuất khẩu; Pm - chỉ số giá nhập khẩu

(P x /P m được tính qui về cùng một thời điểm gốc

Tỷ giá thương mại của một nước bị coi là xấu đi nếu P x /P m giảm, tức là giá xuất khẩu giảm tương đối so với giá nhập khẩu, thậm chí cho dù cả hai có thể cùng tăng)

Trong lịch sử, giá của hàng sơ chế (nông sản) đã giảm so với giá của hàng công nghiệp Kết quả là tỷ giá mậu dịch có xu hướng xấu đi theo thời gian đối với những nước đang phát triển, những nước xuất khẩu nông sản và sản phẩm thô Điều đó làm bất lợi cho những nước nghèo, và những nước giàu hưởng phần lớn hơn từ thương mại quốc tế

Hội nhập kinh tế

Sự hội nhập kinh tế diễn ra bất kỳ khi nào có một nhóm nước ở trong cùng một khu vực, kết hợp với nhau tạo thành một liên minh kinh tế bằng cách dựng nên một bức tường thuế quan chung chống lại các sản phẩm của các nước phi thành viên, trong khi vẫn cho phép mậu

dịch tự do giữa các thành viên Về mặt thuật ngữ của hội nhập kinh tế các nước áp dụng một

mức thuế quan đối ngoại chung trong khi cho phép mậu dịch tự do nội tại được cho là đã thiết

lập một liên minh thuế quan; nếu thuế quan đối ngoại chống lại các nước nằm ngoài là khác nhau trong quan hệ với các nước thành viên, thì các nước này được cho là đã thiết lập một khu

Trang 3

vực mậu dịch tự do; một liên minh thuế quan cộng với sự di chuyển lao động và vốn tự do giữa các nước thành viên được cho là một thị trường chung

Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan

Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan "bảo hộ mới" hiện tại (ví dụ thuế tiêu dùng, quota, quy chế vệ sinh, môi trường…) do các nước nhập khẩu quy định đối với các hàng hoá của các nước xuất khẩu là cản trở lớn nhất đối với khả năng tăng thu nhập từ xuất khẩu

Chính sách trợ xuất khẩu

Nhiều nước (nhất là các nước giàu) còn có chính sách tài chính ưu đãi cho các ngành hàng xuất khẩu của họ như trợ cấp của Chính phủ, giảm thuế Tác dụng của các chính sách này

là làm cho hàng xuất khẩu của họ có tính "cạnh tranh" hơn trên thị trường thế giới

5.2.2 Học thuyết thương mại quốc tế

a Nguyên tắc lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương

Khái niệm: Lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm

- Một vùng, quốc gia có lợi thế tuyệt đối: chi phí để sản xuất ra một sản phẩm cùng loại

ở một nước ít hơn các vùng, quốc gia khác

- Một vùng, quốc gia bất lợi thế tuyệt đối: chi phí để sản xuất ra một sản phẩm cùng loại ở một nước cao hơn các vùng, quốc gia khác

- Như vậy, khi một quốc gia sản xuất sản phẩm có có chi phí sản xuất cao hơn sẽ nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn

Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí thấp sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn khi bán sản phẩm trên thị trường quốc tế Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí cao sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất với chi phí sản xuất cao, người ta gọi là bù đắp được sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước

b Nguyên tắc lợi thế so sánh

Khái niệm: Lợi thế so sánh là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí cơ hội để

sản xuất ra một sản phẩm cùng loại

Ví dụ: Chi phí sản xuất (tính bằng ngày công lao động, các yếu tố khác không đổi)

Việt Nam Nga Thép (1 đơn vị): 25 > 16

Quần áo (1 đơn vị): 5 > 4

Theo chi phí sản xuất thì Việt Nam có chi phí sản xuất cao hơn của Nga ở cả 2 mặt hàng Lợi thế tuyệt đối chỉ ra rằng Việt Nam không có khả năng xuất khẩu sản phẩm nào sang Nga

Chi phí so sánh (chi phí cơ hội)

Việt Nam Nga

Thép (1 đơn vị): 5 > 4

Quần áo (1 đơn vị): 1/5 < 1/4

Trang 4

Theo chi phí cơ hội thì thấy rằng chi phí của Việt Nam trong sản xuất thép lớn hơn chi phí trong sản xuất thép của Nga: để sản xuất một đơn vị thép ở Việt Nam cần phải "mất" 5 đơn

vị quần áo, còn ở Nga chỉ mất 4 đơn vị Ngược lại chi phí để sản xuất quần áo ở Việt Nam lại thấp hơn của Nga: để sản xuất 1 đơn vị quần áo ở Việt Nam "mất" 1/5 đơn vị thép, trong khi đó

ở Nga "mất" 1/4 đơn vị LTSS chỉ ra rằng Việt Nam và Nga có khả năng trao đổi sản phẩm cho nhau Nga xuất khẩu thép sang Việt Nam và Việt Nam xuất khẩu quần áo sang Nga Việc trao

đổi này mang lại lợi ích cho cả hai nước

QA

Qb B

Tb Tb+2 Ta

Độ dốc (-5)

Độ dốc (-4,5)

Đường giới hạn khả năng sản xuất

Hình 5.1: Lợi ích của Việt Nam khi có ngoại thương

Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) phản ánh khả năng sản xuất thép và quần áo của Việt Nam:

- Khi chưa có ngoại thương, điểm A (nơi tiếp xúc giữa đường PPF và đường tiếp tuyến

có độ dốc bằng (-5) phản án giá so sánh thép của Việt Nam) phản ánh đồng thời khả năng sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam: A (Ta;Qa)

- Khi có ngoại thương Việt Nam sẽ bán quần áo sang Nga và mua thép từ Nga về ở

đây có vấn đề là giá trao đổi sẽ được thực hiện như thế nào Trong trường hợp này, đối với giá thép, Việt Nam nhập về không phải theo giá so sánh 5 hoặc 4 mà thông thường là theo giá quốc tế, nó sẽ biến động trong khoảng 5 và 4 (4 < Pf < 5), mức giá này phụ thuộc vào cung - cầu thép trên thị trường quốc tế

Trong trường hợp này chúng ta giả sử Việt Nam cần nhập 2 đơn vị thép và giá được xác

định ở mức 4,5 Khi đó điểm tiếp xúc giữa đường PPF và đường có độ dốc (-4,5) sẽ phản ánh khả năng sản xuất của Việt Nam: B (Qb;Tb), có nghĩa là Việt Nam sẽ sản xuất nhiều quần áo hơn (Qb > Qa) và sản xuất thép ít hơn (Tb>Ta) Còn điểm C [(Tb+2);(Qb-9)] là điểm phản ánh khả năng tiêu dùng của Việt Nam

Chúng ta thấy rằng khả năng tiêu dùng của Việt Nam vượt ra ngoài giới hạn của đường PPF Đó chính là lợi ích của Việt Nam có được dựa trên lợi thế so sánh

Trang 5

Như vậy, lợi thế so sánh của ngoại thương là khả năng nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của một nước thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hoá với nước khác dựa trên cơ sở

chi phí so sánh để sản xuất những hàng hoá đó Nguyên tắc cơ bản để có LTSS là thực hiện

chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm có năng suất cao

5.2.3 Thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế

Trong hoạt động kinh tế quốc tế, ngoại thương giữ vị trí quan trọng, nó tạo điều kiện phát huy được lợi thế của từng nước trên thị trường quốc tế Kết quả hoạt động ngoại thương của một nước được đánh giá qua cân đối thu chi ngoại tệ dưới hình thức "Cán cân thanh toán xuất nhập khẩu", kết quả này sẽ làm tăng hay làm giảm thu nhập của đất nước (GDP, GNI hay GNP), do đó nó tác động đến tổng cầu của nền kinh tế

- Khi giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu: Cán cân thanh toán có mức xuất siêu

Pl Xuất siêu

AS

AD1

AD0

0 Y0 Y1 Y

Pl Nhập siêu

AS

AD1

AD0

0 Y0 Y1 Y

- Khi giá trị xuất khẩu nhỏ hơn giá trị nhập khẩu: Cán cân thanh toán có mức nhập siêu

Hình 5.2: ảnh hưởng của xuất - nhập khẩu đến thu nhập quốc dân (GNP) 5.2.4 Những vấn đề đặt ra trong quan hệ thương mại quốc tế

Những lợi ích mà các nước đang phát triển có được qua hoạt động thương mại quốc tế:

ắ Thúc đẩy cạnh tranh, cải thiện việc phân chia nguồn lực và hiệu quả kinh tế của quy mô trong các lĩch vực mà các nước đang phát triển có lợi thế so sánh

ắ Tạo ra áp lực để nâng cao hiệu quả kinh tế, cải tiến sản phẩm và thay đổi kỹ thuật

ắ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế về tất cả các mặt làm tăng lợi nhuận và thúc đẩy tiết kiệm, do vậy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

ắ Thu hút vốn đầu tư và kỹ thuật nước ngoài

ắ Tạo ngoại tệ cần thiết từ hoạt động xuất khẩu để nhập khẩu các hàng hoá phục vụ nhu cầu trong nước (máy móc thiết bị, năng lượng, hàng tiêu dùng…)

ắ Thúc đẩy sự phân chia công bằng hơn các nguồn lực khan hiếm, điều này sẽ cải thiện phân bổ nguồn lực trên tất cả các mặt

Những thách thức từ hoạt động thương mại quốc tế đối với các nước đang phát triển

ắ Xuất khẩu của các nước đang phát triển tăng chậm chạp vì:

- Sự chuyển dịch ở các nước phát triển từ hang cần nhiều nguyên liệu, trình độ công nghệ thấp sang các sản phẩm cần trình độ công nghệ cao Điều này làm giảm nhu cầu về nguyên liệu phải nhập từ các nước đang phát triển

Trang 6

- Nhu cầu về các mặt hàng sơ chế có độ co giãn thấp theo thu nhập

- Làn sóng bảo hộ ngày càng tăng của các nước nhập khẩu (chủ yếu là các nước phát triển) đối với cả hàng nông nghiệp và công nghiệp của các nước xuất khẩu (chủ yếu

là các nước đang phát triển)

ắ Chính sách "bảo hộ mậu dịch" mới ngày càng tăng ở các nước phát triển do vậy đã làm tổn thương đến sự phát triển của các nước đang phát triển:

- Các hàng rào thuế quan, phi thuế quan của các nước phát triển đối với hàng hoá của các nước đang phát triển ngày càng gia tăng

- Sự tăng trưởng chậm chạp về nhu cầu đối với các mặt hàng xuất khẩu truyền thống nghĩa là sự mở rộng xuất khẩu sẽ làm cho giá hàng xuất khẩu giảm xuống sẽ chuyển thu nhập từ các nước nghèo sang các nước giàu

ắ Chính sách trợ giá xuất khẩu của các nước phát triển đối với các mặt hàng xuất khẩu của họ làm cho các mặt hàng cùng loại của các nước đang phát triển không có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế

5.2.5 Thương mại quốc tế và sự phát triển của Việt Nam

a Kết quả hoạt động ngoại thương của Việt Nam

Tháng 3 năm 1989, Nhà nước thực hiện chính sách 1 tỷ giá và cho phép các doanh nghiệp được tham gia hoạt động xuất - nhập khẩu

- Hoạt động xuất - nhập khẩu đều tăng

Bảng 5.1: Kết quả X - N khẩu của Việt Nam từ 1990 - 2001

Năm Xuất khẩu

(triệu USD)

Tốc độ tăng (%)

Nhập khẩu (triệu USD)

Tốc độ tăng (%)

Nhập siờu (triệu USD)

Tỷ lệ nhập siờu (%)

1990 2.404,0 23,5 2.752,4 7,3 348,4 14,5

1991 2.087,1 -13,2 2.338,1 -15,1 251,0 12,0

1992 2.580,7 23,7 2.540,7 8,7 -40,0 -

1993 2.985,2 15,7 3.924,0 54,4 938,8 31,4

1994 4.054,3 35,8 5.825,8 48,5 1.771,5 43,7

1995 5.448,9 34,4 8.155,4 40,0 2.706,5 49,7

1996 7.255,9 33,2 11.143,6 36,6 3.887,7 53,6

1997 9.185,0 26,6 11.592,3 4,0 2.407,3 26,2

1998 9.360,3 1,9 11.499,6 -0,8 2.139,3 22,9

1999 11.541,4 23,3 11.742,1 2,1 200,7 1,7

2000 14.482,7 25,5 15.636,5 33,2 1.153,8 8,0

2001 15.027,0 3,8 16.162,0 3,4 1.135,0 7,6 Ước 2002 16.530,0 10,0 19.300,0 19,4 2.770,0 16,8

Nguồn: Tổng cục thống kê, 2003

Trang 7

5,000.00

10,000.00

15,000.00

20,000.00

25,000.00

Năm

Hình 5.3: X - N khẩu của Việt Nam từ 1990 - 2001

Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là sản phẩm thô (hàng nông sản tươi sống hoặc qua sơ chế, dầu thô, than) và một số mặt hàng tiêu dùng (dệt may, giầy dép, thủ công mỹ nghệ) Nhập khẩu của Việt Nam có sự thay đổi lớn về cơ cấu hàng nhập khẩu theo hướng giảm mạnh tỷ trọng của các thiết bị toàn bộ và tăng tỷ trọng của các thiết bị lẻ gồm: nguyên nhiên liệu, phụ tùng và hàng tiêu dùng Điều này phản ánh sự chuyển hướng chính sách công nghiệp của Việt Nam từ đẩy mạnh xây dựng các công trình có quy mô lớn sang việc trang bị các thiết bị lại các cơ sở hiện có, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất hàng tiêu dùng (Xem bảng 5.2 và 5.3)

b Tác động của ngoại thương đến phát triển kinh tế của Việt Nam

Kết quả hoạt động xuất khẩu - nhập khẩu tuy quy mô còn nhỏ bé so với các nước trong khu vực nhưng nó có ý nghĩa quan trọng góp phần vào ổn định và phát triển kinh tế Việt Nam

- Trước hết xuất khẩu tăng đã góp phần cải thiện cán cân thương mại, đáp ứng 4/5 kim ngạch ngoại tệ để nhập khẩu thiết bị máy móc, nguyên liệu, vật tư, xăng dầu, hàng tiêu dùng

- Xuất nhập khẩu tăng đã góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá Do nông sản xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong sản phẩm xuất khẩu Việt Nam, đã thúc đẩy công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu Mặt khác, việc nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị đã tạo điều kiện phát triển sản xuất công nghiệp hàng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước

- Hoạt động xuất - nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân bởi vì hoạt động xuất khẩu nâng cao thu nhập của nhân dân, đặc biệt là nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, góp phần mở rộng sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động

Trang 8

B¶ng 5.2: MÆt hµng xuÊt khÈu chñ lùc cña ViÖt Nam, 1995 - 2000

(Tr USD)

1995 1996 1997 1998 1999 2000

Nguån: Tæng côc thèng kª, Niªn gi¸m thèng kª, 2000, Tæng côc H¶i quan

Trang 9

Bảng 5.3: Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam, 1995 - 2000

(Tr USD)

1995 1996 1997 1998 1999 2000 Tổng nhập khẩu (C.i.f) 7543 10483 10460 10350 11622 15635

Nguồn: Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê, 2000, Tổng cục Hải quan

5.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Hoạt động Tài chính quốc tế,

viện trợ và phát triển

5.3.1 Đầu tư trực tiếp

Quốc gia hoặc nhóm quốc gia, tổ chức quốc tế tiến hành đầu tư trực tiếp tại một quốc

gia để tiến hành các hoạt động kinh tế thu lợi nhuận

a Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài

Trang 10

- Liên doanh giữa một hoặc một số tổ chức kinh tế nước ngoài với một hoặc một số cơ quan tổ chức trong nước, với các mức độ khác nhau về tỷ lệ vốn góp, trách nhiệm quản lí, trách nhiệm cung cấp đầu vào, phương tiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đầu ra

- Công ty cổ phần có vốn góp từ nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước

b Lợi thế và thách thức trong tiếp nhận đầu tư trực tiếp

Lợi thế

- Trực tiếp tiếp cận công nghệ, kĩ thuật tiên tiến

- Được tiếp cận công nghệ quản lí, tổ chức sản xuất, kiến thức và kinh nghiệm mới, qua

đó có thể đào tạo ra đội ngũ quản lí có trình độ chuyên môn cao

- Lực lượng lao động quốc gia được bồi dưỡng đào tạo, đạt được trình độ quốc tế

- Bù đắp những khó khăn về nguồn lực và thiếu vốn, giảm bớt gánh nặng quốc gia gánh nặng nợ nước ngoài

- Đỡ gánh nặng cho quốc gia về tiêu thụ sản phẩm

Thách thức

- Quốc gia cần phải xác định được một cơ chế để tiếp cận đầu tư; vừa thu hút được đầu tư nhưng không gây thiệt hại cho quốc gia

- Các thủ tục hành chính quốc gia, quốc tế cho tiếp cận đầu tư: thông thường là trở ngại cho các quốc gia trong việc tiếp nhận đầu tư Do đây là hoạt động đầu tư theo chuẩn mực quốc tế

mà trước đó quốc gia chưa có

- Một loạt những kiến thức về luật lệ kinh tế quốc tế, kinh nghiệm làm việc đặc biệt là kinh nghiệm đàm phán, trình độ ngoại ngữ, bản lĩnh của các chuyên viên, đội ngũ công chức chưa bắt kịp với thế giới đòi hỏi phải đầu tư đào tạo mới ặ tạo sức ép cho quốc gia và ngân sách

quốc gia

5.3.2 Hoạt động tài chính quốc tế và phát triển

- Hoạt động tài chính quốc tế: Vay và cho vay quốc tế:

+ Quốc gia - quốc gia + Quốc gia - tổ chức tài chính quốc tế

Quan hệ tài chính đa phương

+ Quốc gia - nhiều quốc gia (qua các tổ chức tài chính quốc tế) + Quốc gia - tổ chức tài chính quốc tế

• Các tổ chức tài chính quốc tế: IMF, WB, ADB

• Cho vay ưu đãi và vay thương mại Hoạt động với các tổ chức này phụ thuộc vào mối quan hệ, tín nhiệm của mỗi quốc gia với các tổ chức này

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức - ODA (Offical Development Assistant)

ODA là nguồn tài chính của các cơ quan chính thức (Chính phủ, chính quyền địa phương hoặc các tổ chức quốc tế) cho các nước đang phát triển vay nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của những nước này

+ Chính phủ - Chính phủ + Chính phủ - Tổ chức tài chính quốc tế

Là những nguồn vốn đóng góp lượng vốn vay quan trọng cho sự phát triển của quốc gia Đặc biệt là nguồn vốn ODA - hỗ trợ đầu tư phát triển: Góp phần tạo nên hệ thống kết

Ngày đăng: 24/07/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5.1: Lợi ích của Việt Nam khi có ngoại th−ơng - Chương 5: Quan hệ quốc tế và sự phát triển pdf
Hình 5.1 Lợi ích của Việt Nam khi có ngoại th−ơng (Trang 4)
Hình 5.2:  ả nh hưởng của xuất - nhập khẩu đến thu nhập quốc dân (GNP) - Chương 5: Quan hệ quốc tế và sự phát triển pdf
Hình 5.2 ả nh hưởng của xuất - nhập khẩu đến thu nhập quốc dân (GNP) (Trang 5)
Bảng 5.1: Kết quả X - N khẩu của Việt Nam từ 1990 - 2001 - Chương 5: Quan hệ quốc tế và sự phát triển pdf
Bảng 5.1 Kết quả X - N khẩu của Việt Nam từ 1990 - 2001 (Trang 6)
Hình 5.3: X - N khẩu của Việt Nam từ 1990 - 2001 - Chương 5: Quan hệ quốc tế và sự phát triển pdf
Hình 5.3 X - N khẩu của Việt Nam từ 1990 - 2001 (Trang 7)
Bảng 5.2: Mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, 1995 - 2000 - Chương 5: Quan hệ quốc tế và sự phát triển pdf
Bảng 5.2 Mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, 1995 - 2000 (Trang 8)
Bảng 5.3: Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam, 1995 - 2000 - Chương 5: Quan hệ quốc tế và sự phát triển pdf
Bảng 5.3 Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam, 1995 - 2000 (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w