TÓM TẮT Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 89 quốc gia đang phát triển và đã phát triển trong giai đoạn 1995 – 2014 nhằm mục đích xem xét sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế tuân t
Trang 1PHAN GIA QUYỀN
DÒNG VỐN QUỐC TẾ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ: VAI TRÒ ĐỘ MỞ CỬA TÀI CHÍNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2PHAN GIA QUYỀN
DÒNG VỐN QUỐC TẾ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ: VAI TRÒ ĐỘ MỞ CỬA TÀI CHÍNH
Chuyên ngành: Tài chính-Ngân hàng Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
TP Hồ Chí Minh – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn thạc sĩ với đề tài “Dòng vốn quốc tế và sự phát triển
kinh tế: Vai trò độ mở cửa tài chính” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi theo sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của Luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Phan Gia Quyền
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.5 Nội dung nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa đề tài 6
1.7 Hướng phát triển đề tài 7
CHƯƠNG 2 - KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 8
2.1 Khung lý thuyết 8
2.2 Tổng quan nghiên cứu trước đây 10
CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Dữ liệu 24
3.2 Phương pháp đo lường biến 26
Trang 53.3 Mô hình nghiên cứu 32
3.4 Phương pháp ước lượng 37
CHƯƠNG 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.1 Thống kê miêu tả và ma trận tương quan 41
4.2 Kết quả ước lượng 45
4.2.1 Ảnh hưởng tương tác giữa sự phát triển kinh tế và mức độ mở tài chính đến tài khoản vãng lai 45
4.2.2 Kiểm tra tính vững chắc sự ảnh hưởng tương tác giữa độ mở tài chính và sự phát triển kinh tế đến tài khoản vãng lai 50
4.3.Nghiên cứu sự kiện: tài khoản vãng lai và sự mở cửa hội nhập tài chính 62
4.4 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu 64
CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN 66
5.1 Kết luận 66
5.2 Khuyến nghị hàm ý chính sách 68
5.3 Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên đẩy đủ tiếng anh Tên đầy đủ tiếng việt FDI Foreign Direct Invesment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FPI Foreign Portfolio Invesment Đầu tư danh mục nước ngoài
ASEAN Association of Southeast
Phương pháp moment bậc cao
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
ICRG International Country Risk
Guide
Tổ chức hướng dẫn Quốc tế
về Rủi ro Quốc gia
MPK marginal product of capital Năng suất biên của vốn
Indicators
Chỉ số phát triển thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu trước đây 20
Bảng 3.1 Các quốc gia sử dụng trong bài nghiên cứu 24
Bảng 3.2 Tóm tắt các biến sử dụng trong bài nghiên cứu 36
Bảng 4.1 Thống kê miêu tả các biến trong bài nghiên cứu 41
Bảng 4.2 Ma trận tương quan các biến trong bài nghiên cứu 44
Bảng 4.3 Kết quả ước lượng ảnh hưởng tương tác giữa sự phát triển kinh tế và độ mở cửa tài chính đến tài khoản vãng lai 46
Bảng 4.4 Kết quả ước lượng tính vững chắc của ảnh hưởng tương tác giữa sự phát triển kinh tế và độ mở cửa tài chính đến tài khoản vãng lai 51
Bảng 4.5 Kết quả ước lượng tính vững chắc của ảnh hưởng tương tác giữa sự phát triển kinh tế và độ mở cửa tài chính đến tài khoản vãng lai trong trường hợp Việt Nam 55
Bảng 4.6 Kết quả ước lượng tính vững chắc của ảnh hưởng tương tác giữa sự phát triển kinh tế và độ mở cửa tài chính đến tài khoản vãng lai trong trường hợp các quốc gia khu vực ASEAN 59
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Số lượng các quốc gia phân chia theo thu nhập dựa trên sự phân loại của WorldBank 26 Hình 4.1 Cán cân tài khoản vãng lai của các nước có thu nhập dưới ngưỡng trước và sau mở cửa hội nhập tài chính 63 Hình 4.2 Cán cân tài khoản vãng lai của các nước có thu nhập trên ngưỡng trước và sau mở cửa hội nhập tài chính 64
Trang 9TÓM TẮT
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 89 quốc gia đang phát triển và đã phát triển trong giai đoạn 1995 – 2014 nhằm mục đích xem xét sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế tuân theo lý thuyết tân cổ điển hay tồn tại nghịch lý Lucas khi dòng vốn chảy từ các quốc gia nghèo sang các quốc gia giàu Với việc sử dụng phương pháp ước lượng GMM hệ thống hai bước, bài nghiên cứu tìm thấy các phát hiện chính như (i) dòng vốn dịch chuyển từ các quốc gia nghèo sang các quốc gia giàu khi các quốc gia có
mở cửa hội nhập tài chính, (ii) đối với Việt Nam và các quốc gia thuộc khu vực ASEAN, khi sự phát triển kinh tế càng gia tăng thì sẽ càng thu hút được nhiều dòng vốn quốc tế chảy vào nội địa hơn so với các quốc gia khác trong mẫu nghiên cứu và (iii) các biến nhân khẩu học, các biến số kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đáng kể trong việc thu hút dòng vốn quốc tế Ngoài ra, tôi cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu
sự kiện (event study) theo như sự đề nghị của Reinhardt và các cộng sự (2013) nhằm xem xét sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế trước và sau khi các quốc gia mở cửa hội nhập tài chính toàn cầu Tôi phát hiện rằng sau khi mở cửa hội nhập tài chính toàn cầu, các quốc gia có thu nhập dưới ngưỡng (quốc gia nghèo) có kinh nghiệm trong việc đầu tư dòng vốn vào các quốc gia khác và các quốc gia có thu nhập trên ngưỡng (quốc gia giàu) có kinh nghiệm trong việc thu hút dòng vốn đầu tư từ các quốc gia khác
Từ khóa: Dòng vốn quốc tế, Sự phát triển kinh tế, Độ mở cửa tài chính, GMM.
Trang 10CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Nguồn vốn đã và đang là thành phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới (Kussubayev, 2014) Có nhiều cách định nghĩa cũng như cách tính toán nguồn vốn, nhưng nguồn vốn trong bài nghiên cứu này được xác định như là nguồn vốn tài chính, không bao gồm vốn con người hay bất kể vốn phi tài chính nào Tại cấp độ kinh tế vĩ mô, vốn là tài sản được tạo ra từ sự giao dịch quốc tế giữa các quốc gia và chảy từ quốc gia này sang quốc gia khác để đầu tư nhằm hưởng lợi trong tương lai Điều này rõ ràng có thể thấy rằng thương mại có tương quan chặt chẽ với việc sản xuất, mà ở đó vốn đóng vai trò quan trọng Do đó, việc sản xuất là khía cạnh trung tâm của tất cả các lý thuyết kinh tế học Điều này dẫn đến các lý thuyết tăng trưởng cổ điển (classical) và tân cổ điển (neoclassical), các lý thuyết tập trung vào tỷ lệ giữa nguồn lao động và vốn được tạo ra từ việc gia tăng năng suất Sự khác biệt chủ yếu giữa lý thuyết cổ điển và tân cổ điển là vai trò của công nghệ, được xác định như là yếu tố ổn định trong các lý thuyết trước đây, trong khi các nghiên cứu sau này cho rằng tầm quan trọng của công nghệ tương tự như tầm quan trọng của vốn
và nguồn nhân lực Các nghiên cứu sau này của lý thuyết tân cổ điển tập trung vào giá trị của năng suất biên nhằm mục đích tìm kiếm tỷ lệ lý tưởng giữa số lượng lao động và tiền lương nhằm tối đa hóa vốn Kết quả là, dựa vào các kỳ vọng của lý thuyết tân cổ điển, vốn sẽ chảy từ các quốc gia đã phát triển sang các quốc gia đang phát triển, hay nói cách khác, các quốc gia “giàu” sẽ đầu tư vốn sang các quốc gia “nghèo” nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận, bởi vì các quốc gia nghèo có nguồn lao động giá rẻ hơn
Tuy nhiên, Lucas (1990) so sánh năng suất biên của Mỹ và Ấn Độ vào năm
1988 và phát hiện ra một nghịch lý (paradox) Dựa theo mô hình tân cổ điển, năng suất biên của Ấn Độ phải bằng 58 lần năng suất biên của Mỹ, điều này có nghĩa là dòng vốn sẽ chảy từ Mỹ sang Ấn Độ Tuy nhiên, vào thời điểm đó tình huống ngược lại so với những kì vọng của mô hình tân cổ điển, dòng vốn chảy từ Ấn Độ sang Mỹ
Trang 11Do đó, tác giả đặt câu hỏi liệu điều nào ảnh hưởng đến sự khác biệt trong năng suất biên của vốn giữa các quốc gia và khẳng định rằng dòng vốn không chảy từ các quốc gia đã phát triển sang các quốc gia đang phát triển Lucas xác định vốn như là hàng hóa đầu tư, sẽ chảy từ các quốc gia giàu sang các quốc gia nghèo nếu thị trường vốn thế giới là tự do và hoàn hảo Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng trong thế giới thực, vốn không chảy đến các quốc gia nghèo bởi vì sự khác biệt trong vốn con người (human capital) và sự bất hoàn hảo của thị trường
Phát hiện của Lucas (1990) có ảnh hưởng mạnh mẽ đến động lực thúc đẩy các nhà nghiên cứu xem xét sâu hơn về sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế và lý giải các nguyên nhân dẫn đến việc dòng vốn dịch chuyển khác so với những kì vọng của
lý thuyết tân cổ điển Trong đó các nghiên cứu này tập trung vào các yếu tố chất lượng thể chế cũng như các rào cản đầu tư về mặt pháp lý hoặc việc kiểm soát các dòng vốn chảy vào quốc gia Lothian (2006) cho rằng những chính sách tốt như ổn định tỷ giá,
ít có sự điều tiết trực tiếp và một cấu trúc thể chế tốt thường kèm theo đó những dòng vốn quốc tế chảy vào cao hơn so với các quốc gia có chính sách kém phát triển Noy
và Vu (2007) thông qua nghiên cứu của mình đã kết luận rằng sự tự do hóa tài khoản vốn không đủ để tạo nên sự gia tăng trong dòng vốn chảy vào trừ khi nó được đi kèm với một mức độ tham nhũng thấp và một sự suy giảm trong rủi ro về chính trị Kose
và các cộng sự (2009) đã phát hiện một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê cao rằng FDI (Foreign Direct Invesment) có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng năng suất ở các quốc gia Reinhardt và các cộng sự (2013) chỉ ra rằng giữa các nền kinh tế có độ mở tài chính, các quốc gia nghèo có xu hướng thu nhận dòng vốn ròng chảy vào và các quốc gia giàu có xu hướng đầu tư vốn vào các thị trường khác (dòng vốn chảy ra) Okada (2013) xem xét ảnh hưởng tương tác giữa độ mở cửa tài chính và chất lượng thể chế đến việc thu hút dòng vốn quốc tế, cụ thể là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và dòng vốn đầu tư danh mục FPI (Foreign Portfolio Invesment) Tác giả tìm thấy hai phát hiện chính; thứ nhất, ảnh hưởng độc lập của độ mở cửa tài chính và chất lượng thế chế đến dòng vốn quốc tế là không đáng kể, tuy nhiên ảnh hưởng tương tác của hai yếu tố này lại trở nên đáng kể hơn và dòng vốn sẽ chảy vào các
Trang 12quốc gia có chất lượng thể chế tốt hơn nếu cùng mức độ mở cửa tài chính Thứ hai, trong số các yếu tố đại diện chất lượng thể chế thì chất lượng bộ máy tổ chức và luật pháp và an ninh đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI Brafu-Insaidoo và Biekpe (2014) đã phát hiện ra rằng sự tự do hóa tài chính và chế độ dân chủ tại mỗi quốc gia sẽ dẫn đến một mức độ chảy vào cao hơn của dòng vốn quốc tế
Từ các bằng chứng thực nghiệm trước đây có thể thấy rằng các tác giả đang cố gắng tìm các lý do hợp lý nhằm giải thích nghịch lý “Lucas” về sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế, tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu giải thích sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế dựa vào chất lượng thể chế và độ mở cửa tài chính chứ vẫn chưa thật sự đưa ra các bằng chứng cho sự dịch chuyển dòng vốn từ các quốc gia nghèo sang các quốc gia giàu như phát hiện của Lucas (1990)
Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu xem xét sự dịch chuyển của dòng vốn chảy
từ quốc gia nào đến các quốc gia nào là một điều cần thiết trong bối cảnh hội nhập toàn cầu Do đó, dựa vào ý tưởng của Reinhardt và các cộng sự (2013) khi xem xét
sự dịch chuyển của dòng quốc tế ở khía cạnh độ mở cửa tài chính và sự phát triển
kinh tế, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “Dòng vốn quốc tế và sự phát triển kinh
tế: vai trò độ mở cửa tài chính” nhằm phân tích xem dòng vốn có thật sự chảy từ các
quốc gia nghèo sang các quốc gia giàu (nghịch lý Lucas) hay chảy từ các quốc gia giàu sang các quốc gia nghèo nghèo như trong lý thuyết tân cổ điển đã đề cập bằng cách sử dụng dữ liệu của 89 quốc gia đã phát triển và đang phát triển trong giai đoạn
1995 – 2014
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Các nghiên cứu trước đây cố gắng giải thích nghịch lý Lucas với các cách giải thích khác nhau, nhưng vẫn chưa có sự nhất quán giữa các cách giải thích Hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung phân tích vào dữ liệu trong các năm 1980 và 1990, và chỉ có một số nghiên cứu xem xét trong các năm đầu tiên của thế kỉ 21 Hơn thế nữa, các tác giả phân loại các quốc gia theo các cách khác nhau và không thống nhất nguyên nhân chính yếu ảnh hưởng đến dòng vốn chảy vào của các quốc gia phát triển
Trang 13Kết quả là vẫn chưa thật sự rõ ràng để xác định các nhân tố xác định hướng chảy của dòng vốn quốc tế Do đó, mục tiêu chính của bài nghiên cứu này là xem xét sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế dựa vào khía cạnh độ mở cửa tài chính trong giai đoạn 1995 – 2014 Đồng thời, bài nghiên cứu xem xét sự khác biệt giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực ASEAN (Association of Southeast Asian Nations) so với các quốc gia khác trong mẫu nghiên cứu trong sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm cho sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế khi dòng vốn chảy từ các quốc gia giàu sang các quốc gia nghèo như nghịch lý Lucas đã đề cập ở khía cạnh khác với các khía cạnh mà các bài nghiên cứu trước đó đã tiếp cận chính là độ mở cửa tài chính, các câu hỏi nghiên cứu mà bài nghiên cứu tập trung tìm kiếm câu trả lời để khám phá nguyên nhân xảy
ra sự dịch chuyển dòng vốn từ quốc gia giàu sang quốc gia nghèo như sau:
Dòng vốn quốc tế có thật sự chảy từ các quốc gia nghèo sang các quốc gia giàu hay không?
Độ mở cửa tài chính ảnh hưởng đến sự dịch chuyển dòng vốn như thế nào?
Ảnh hưởng của độ mở cửa tài chính đến sự dịch chuyển dòng vốn có phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế hay không?
Các đặc điểm kinh tế vĩ mô nào ảnh hưởng đến sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế?
Ngoài ra, bài nghiên cứu đặt ra một số câu hỏi khác nhằm xem xét sự khác biệt giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực ASEAN so với các quốc gia khác trong
sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế, cụ thể như sau:
Dòng vốn chảy vào Việt Nam thấp hơn hay cao hơn so với các quốc gia khác trong mẫu nghiên cứu khi có cùng mức độ mở cửa tài chính?
Trang 14 Các quốc gia trong khu vực ASEAN đang nhận dòng vốn chảy vào nhiều hay
ít hơn so với các quốc gia khác trong mẫu nghiên cứu khi có cùng mức độ mở cửa tài chính?
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu mà tôi sử dụng trong bài nghiên cứu gồm 89 quốc gia đang phát triển và đã phát triển trong giai đoạn từ năm 1995 – 2014 Các biến mà tôi sử dụng trong bài được chia làm bốn nhóm chính: biến đại diện cho dòng vốn quốc tế (cán cân tài khoản vãng lai), biến đại diện cho sự phát triển kinh tế, biến đại diện cho độ mở tài chính, và các biến kiểm soát
Dữ liệu nghiên cứu mà tôi sử dụng trong bài nghiên cứu là dữ liệu dạng bảng cân đối với 89 quốc gia trong 20 năm Các phương trình trong bài nghiên cứu của tôi
có thể được hồi quy theo phương pháp ước lượng OLS (Ordinary least squares), cụ thể là mô hình OLS gộp (pooled OLS), mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effects Model) và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effects Model) Theo như phương pháp ước lượng được Reinhart và các cộng sự (2013) sử dụng trong bài nghiên cứu của các tác giả là mô hình OLS gộp, tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp ước lượng OLS có thể vi phạm một số giả định của gói BLUE (Best Linear UnBiased Estimators) chẳng hạn như phương sai thay đổi, tự tương quan và vấn đề nội sinh trong bài nghiên cứu Do đó, tôi sử dụng phương pháp ước lượng GMM (Generalized method of moments) hệ thống hai bước để khắc phục các vi phạm của phương pháp ước lượng OLS đối với các giả định của gói BLUE
Ngoài ra, trong bài nghiên cứu này tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện (event study) theo như sự đề nghị của Reinhart và các cộng sự (2013) nhằm xem xét sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế khi các quốc gia mở cửa tài chính hội nhập toàn cầu với mức độ phát triển kinh tế khác nhau
1.5 Nội dung nghiên cứu
Bài nghiên cứu của tôi được chia làm năm phần chính:
Trang 15Chương 1: Giới thiệu Trong chương này tôi đưa ra lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên
cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các đóng góp của bài nghiên cứu và hướng phát triển đề tài
Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong chương
này tôi giới thiệu lý thuyết về sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế Sau đó, tôi tiến hành tổng quan các nghiên cứu trước đây và từ đó đưa ra lỗ hổng nghiên cứu (research gap) của các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Tôi tiến hành giới thiệu dữ liệu nghiên cứu,
đưa ra cách đo lường các biến trong bài nghiên cứu, hơn thế nữa, tôi sơ lược qua mô hình nghiên cứu mà tôi sử dụng trong bài nghiên cứu và cuối cùng tôi trình bày phương pháp ước lượng
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Tôi tiến hành thảo luận các kết quả ước lượng từ
các phương trình nghiên cứu dựa vào phương pháp ước lượng được đề cập trong Chương 3 Hơn thế nữa, tôi cũng thực hiện kiểm định tính vững chắc “nghịch lý Lucas” và nghiên cứu sự kiện
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trong chương này tôi đi đến các kết luận của
bài nghiên cứu từ đó hướng đến việc khuyến nghị các hàm ý chính sách cho các quốc gia nói chung và Việt Nam và ASEAN nói riêng trong việc thu hút dòng vốn quốc tế, đồng thời tôi cũng nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
từ các hạn chế này
1.6 Ý nghĩa đề tài
Bài nghiên cứu của tác giả đóng góp cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn:
Về mặt lý luận: Bài nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm và bổ sung cho các nghiên cứu về sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế, nhất là tại Việt Nam và ASEAN, số lượng các nghiên cứu về sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế và nghịch lý Lucas vẫn còn khá khiêm tốn
Trang 16 Về mặt thực tiễn: Việc tìm ra bằng chứng dòng vốn chảy từ các quốc gia nghèo sang các quốc giàu giúp cho các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn sâu sắc hơn về sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế Hơn thế nữa, với các phát hiện về sự khác biệt của Việt Nam và các quốc gia trong khu vực ASEAN với các quốc gia khác trong mẫu nghiên cứu có thể giúp ích cho các nhà hoạch định chính sách của các quốc gia này trong việc thu hút dòng vốn chảy vào trong nước
1.7 Hướng phát triển đề tài
Các nghiên cứu sau này có thể phát triển đề tài này bằng cách mở rộng số lượng quốc gia trong mẫu nghiên cứu để có thể mang tính đại diện cho tất cả quốc gia trên thế giới Đồng thời, nên mở rộng giai đoạn nghiên cứu thêm, và có thể tách biệt các giai đoạn thời gian có khủng hoảng tài chính nhằm hạn chế ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến kết quả nghiên cứu Hơn thế nữa, việc sử dụng thêm một số chỉ số đại diện cho mức độ mở cửa tài chính nhằm gia tăng tính vững chắc cho kết quả nghiên cứu cũng là một hướng cần được xem xét trong các nghiên cứu trong tương lai
Trang 17CHƯƠNG 2 - KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Khung lý thuyết
Một trong các nghiên cứu đầu tiên nhằm có cái nhìn sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự di chuyển của các dòng vốn quốc tế là của McKinnon (1973), người đã phát triển ý tưởng sự khác biệt giữa các quốc gia bằng cách khẳng định rằng cơ cấu chính trị, kinh nghiệm thuộc địa (colonial experience) và các nguồn nhân lực có thể giải thích được sự khác biệt giữa các quốc gia và sự phát triển của các quốc gia này Theo quan điểm của tác giả, các quốc gia có sự thành công trong việc phát triển kinh
tế thường phải chú ý đến hệ thống tiền tệ và ngân hàng theo một cách tổng thể Tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của lạm phát ở các quốc gia đang phát triển, bởi vì các nhà đầu tư nước ngoài có thể bị thu hút bởi lãi suất cao ở các quốc gia đang phát triển Điều này phù hợp với lý thuyết tân cổ điển khi cho rằng dòng vốn được kiểm soát bởi
sự chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia Nếu như không tồn tại bất kỳ sự ràng buộc nào về sự dịch chuyển dòng vốn giữa các quốc gia, dòng vốn sẽ chảy từ nơi có tỷ suất sinh lợi thấp (chẳng hạn như các quốc gia có sự phát triển tài chính cao, tương đối dư thừa về vốn) đến nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, quốc gia nhận dòng vốn này sẽ là quốc gia có sự khan hiếm vốn tương đối, chẳng hạn như các quốc gia đang phát triển, khi đó, giá trị thực của lãi suất sẽ bị giảm bởi tỷ lệ lạm phát cao Hơn thế nữa, tác giả khẳng định việc hạn chế nhập khẩu và hỗ trợ xuất khẩu cũng đóng vai trò quan rọng trong việc hạn chế nhập khẩu để làm giảm lượng ngoại tệ lưu thông trong quốc gia
Do đó, hành động này cho thấy cách mà chính phủ có thể kiểm soát thị trường tài chính nội địa bằng cách sử dụng các công cụ và các chính sách khác nhau
Tuy nhiên, Lucas (1990) phát hiện nghịch lý về sự dịch chuyển dòng vốn quốc
tế khác với kỳ vọng của lý thuyết tân cổ điển khi cho rằng dòng vốn sẽ dịch chuyển
từ các quốc gia nghèo sang các quốc gia giàu Cụ thể Lucas tập trung vào việc phân tích năng suất biên của vốn ở Ấn Độ và Mỹ, nếu lý thuyết tân cổ điển đúng thì năng
Trang 18suất biên của Ấn độ gấp 58 lần năng suất biên của Mỹ 1(Lucas, 1990) Tuy nhiên, điều này lại không chính xác với kì vọng của lý thuyết tân cổ điển, và tại thời điểm
đó tác giả cũng không có thể trả lời câu hỏi là chính xác là điều gì gây ra sự sai sót này và nhân tố nào có thể giải thích điều này Nhưng, theo quan điểm của tác giả, có hai sự giải thích chính như sau:
(1) Sự khác biệt trong vốn con người (Human capital): Vốn con người có thể không giống nhau ở các quốc gia được phân tích Đó là lý do tại sao Lucas đã giả định rằng nó có thể là nhân tố giải thích được sự khác biệt so với mô hình tân cổ điển Theo như sự tính toán của tác giả, tác giả so sánh đầu vào lao động hiệu quả (effective labour input) trên mỗi người sẽ bằng ở cả hai quốc gia, và tác giả kết luận rằng điều này không đúng Do đó, tác giả cố gắng hiệu chỉnh bằng cách sử dụng bài nghiên cứu của Krueger (1968) về vốn con người; tuy nhiên, dữ liệu được phân tích bởi Krueger sử dụng cho năm 1950 Vì vậy, xuất hiện nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về sự bất bình đẳng của vốn con người Tác giả lập luận cho sự lựa chọn của mình bởi trong suốt 25 năm, vốn con người (bao gồm giáo dục, tuổi và ngành nghề) không có thay đổi nhiều Kết quả là, năng suất của 1 người lao động tại Mỹ sẽ bằng với năng suất của 5 người lao động tại Ấn Độ Điều này dẫn đến việc hiệu chỉnh năng suất biên của vốn, sẽ bằng với 58, và bây giờ sự chênh lệch trong vốn con người sẽ bằng 5 chứ không phải bằng 58
(2) Sự bất hoàn hảo của thị trường vốn (Capital Market Imperfections) – đây là lí
do thứ 2 giải thích nghịch lý được đề xuất bởi Lucas Tác giả lập luận rằng các quốc gia nghèo mua vốn từ các nền kinh tế tiên tiến và trả lãi sau đó, do đó dòng chảy lợi nhuận từ việc “bán vốn” sẽ chảy từ các quốc gia nghèo sang các quốc gia giàu Tuy nhiên, tồn tại rủi ro mà các quốc gia nghèo sẽ không tuân
1 Việc tính toán năng suất biên của vốn được dựa trên công thức: 1) r = A*B*xB-1 trong đó
x là vốn trên mỗi người lao động và B là giá trị vốn trung bình; 2) r = BA1/By(B-1)B là năng suất trên mỗi người lao động
Trang 19thủ các nghĩa vụ của họ và có thể chấm dứt mối quan hệ của họ với các nhà đầu tư Nếu điều này xảy ra, các quốc gia giàu sẽ không thể cho vay vốn trong tương lai Sự bất hoàn hảo này gọi là “rủi ro chính trị”
Tóm lại, Lucas không trực tiếp trả lời các câu hỏi trọng tâm mà tác giả đã đề cập ban đầu, mà chỉ cung cấp các suy nghĩ theo một hướng khác, chẳng hạn như vấn
đề thuế nặng (heavy taxation) ở các quốc gia đang phát triển, hoặc việc áp đặt các ràng buộc về dòng vốn chảy vào Tác giả cũng khẳng định rằng thị trường lao động thì cố định trước giai đoạn 1990, tuy nhiên, điều này không còn chính xác trong thế
kỷ thứ 21, bởi vì ngày nay lực lượng lao động dễ dàng di chuyển ra nước ngoài hơn
so với thời gian trước đây Đồng thời, Lucas chỉ ra rằng rủi ro chính trị là yếu tố quan trọng làm hạn chế dòng vốn chảy vào quốc gia
2.2 Tổng quan nghiên cứu trước đây
Ý tưởng của Lucas nhận được nhiều sự quan tâm của các nghiên cứu sau này, các nghiên cứu cố gắng tìm kiếm lý do cho nghịch lý của sự dịch chuyển dòng vốn Các bài nghiên cứu trước đây đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau với mục tiêu xem xét sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế từ những năm 1990 và một trong các nghiên cứu đưa ra cách giải thích sớm nhất được cung cấp bởi Wei (2000), trong nghiên cứu của tác giả, tác giả đã mở rộng vấn đề so với các nghiên cứu trước đây bằng cách xem xét mối quan hệ giữa tham nhũng và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Bài nghiên cứu của tác giả dựa vào hai giả định chính: (i) các quan chức chính phủ phân bổ không đều vốn của các đối tác có liên quan, và (ii) các chủ nợ nước ngoài không chắc chắn về các nền kinh tế đang phát triển Kết quả là một sự gia tăng trong mức độ tham nhũng ở các quốc gia đang phát triển sẽ làm giảm sự kỳ vọng của các chủ nợ Bài nghiên cứu của Wei (2000) sử dụng dữ liệu của 49 quốc gia trong giai đoạn 1994 – 1996 cho thấy rằng trong suốt giai đoạn nghiên cứu này, 70% dòng vốn FDI chảy ra là từ các quốc gia Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức, Pháp và Hồng Kong, trong
đó có hơn 50% dòng vốn chảy vào Trung Quốc Các kết quả của tác giả cho thấy rằng tham nhũng có ảnh hưởng cả mức độ và thành phần của dòng vốn quốc tế, nói cách
Trang 20khác, tham nhũng làm giảm dòng vốn FDI chảy vào quốc gia và các chính sách của chính phủ nhằm mục đích thu hút các dòng vốn ngoại sẽ được khắc phục khuyết điểm này Sau đó, Wei và Wu (2002) phát triển bài nghiên cứu của Wei (2000) bằng cách xem xét mối quan hệ giữa tham nhũng và thành phần của dòng vốn quốc tế, cụ thể là dòng vốn FDI Các tác giả kết luận rằng tham nhũng làm giảm dòng vốn FDI chảy vào và thiên về thành phần của dòng vốn quốc tế hơn là các khoản vay từ các ngân hàng thương mại Do đó, sự e ngại dòng vốn FDI chảy vào có thể được thay thế bởi các khoản vay từ các ngân hàng thương mại Điều này có thể được giải thích bởi sự khai thác FDI của sự tham nhũng quốc gia và sự bảo vệ các khoản vay ngân hàng thương mại của các quốc gia đã phát triển, chính xác hơn là của Quỹ Tiền Tệ Quốc
Tế (International Monetary Fund, IMF) và các quốc gia trong nhóm G7 Hơn thế nữa, các tác giả lập luận rằng tham nhũng có thể là nguyên nhân của khủng hoảng tài chính bởi sự giám sát hệ thống tài chính trong nước yếu kém
Một bài nghiên cứu khác nhằm mục tiêu phân tích dòng vốn quốc tế được cung cấp bởi Lispey và các cộng sự (1999), trong bài nghiên cứu này các tác giả tập trung chủ yếu vào vai trò của dòng vốn FDI trong tổng dòng vốn đầu tư quốc tế Theo quan điểm của các tác giả, Mỹ là quốc gia quan trọng trong việc đầu tư dòng vốn FDI sang các quốc gia khác trong những năm 1970 và sau đó đến những năm 1990 Châu Âu
và Nhật Bản cũng là quốc gia có tầm quan trọng trong việc đầu tư dòng vốn FDI sang các quốc gia khác Hơn thế nữa, các tác giả lập luận rằng Hồng Kông là nhà đầu tư chính của Trung Quốc trong những năm 1990 khi Mỹ dừng việc đầu tư dòng vốn FDI
và chuyển sang việc nhận dòng vốn được đầu tư bởi các quốc gia khác Tuy nhiên, các tác giả cũng lập luận rằng trong suốt những năm cuối của thập kỉ 20, các quốc gia Đông Á và Mỹ Latin cũng là các quốc gia hấp thụ các dòng vốn FDI Châu Âu cũng
là quốc gia tiếp nhận các khoản đầu tư trực tiếp, trong khi chỉ có Nhật Bản vẫn là quốc gia đầu tư dòng vốn FDI sang các quốc gia khác Các tác giả cũng lập luận rằng
sự bảo vệ chính trị, sự né tránh các xung đột thương mại và nguồn nhân lực giá rẻ (đặc biệt là Mexico và Trung Quốc) có thể là cách giải thích cho việc dịch chuyển dòng vốn Tuy nhiên, Mody và Murshid (2005) không ủng hộ các kết luận của Lispey
Trang 21và các cộng sự (1999), và lập luận rằng dòng vốn vào những năm 1990 được kiểm soát chủ yếu bởi động cơ đa dạng hóa Hơn thế nữa, các tác giả khẳng định rằng các quốc gia có nền chính trị tốt hơn thì sẽ thành công hơn trong việc nhận các dòng vốn quốc tế chảy vào, và cũng có thể một phần là do sự gia tăng năng suất biên của sản phẩm mới và hạn chế dòng vốn chảy ra bằng cách cải thiện các chính sách nội địa
Không giống như các nghiên cứu trước đây, Lane và Milesi – Ferretti (2002) xem xét sự dịch chuyển dòng vốn trong dài hạn, cụ thể là sự mất cân bằng của tài sản ròng nước ngoài (net foreign assets, NFA2) Mục đích của các tác giả khi sử dụng đo lường sự dịch chuyển dòng vốn trong dài hạn bởi chỉ tiêu NFA nhằm để xác định quy
mô của các chủ nợ (creditor) và các con nợ (debtor) Sự phân chia giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia phát triển dựa trên việc tách các quốc gia đã phát triển nhất (các quốc gia thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, OECD) so với các quốc gia còn lại Do đó, việc phân tích hai mẫu nghiên cứu cho thấy rằng thu nhập trên đầu người (GDP per capita), nợ công, và các biến nhân khẩu học có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến dòng thương mại quốc tế chảy vào Các tác giả cho thấy rằng với khi so sánh giữa các quốc gia, biến động của nợ công và các biến nhân khẩu học gần như bằng nhau và mức độ giải thích khá thấp trong những năm 1990, trong khi thu nhập trên đầu người là biến số duy nhất có mức độ giải thích đáng kể trong giai đoạn 1990 – 1998 Tuy nhiên, khi so sánh theo khía cạnh chuỗi thời gian, kết quả có nhiều sự khác biệt: thu nhập trên đầu người thì không có đáng kể trong việc giải thích NFA, trong khi nợ công và các biến nhân khẩu học lại có ảnh hưởng đáng
Trang 22kể đến NFA Hơn thế nữa, các tác giả khẳng định rằng các quốc gia giàu có vị thế NFA cao hơn
Alfaro và các cộng sự (2003) tiến hành thực hiện nghiên cứu nhằm mục đích giải quyết nghịch lý Lucas bằng cách kết hợp các cách giải thích trước đây và phân chia thành hai nhóm chính: nhóm đầu tiên bao gồm những sự khác nhau trong các nhân tố cơ bản (fundamental factor) có tác động đến cấu trúc của nền kinh tế, và nhóm thứ hai tập trung vào sự bất hoàn hảo của thị trường vốn quốc tế, mà chủ yếu là rủi ro vỡ nợ quốc gia và thông tin bất cân xứng Nghiên cứu của các tác giả dựa vào việc ước lượng chéo (cross sectional) giữa 50 quốc gia đang phát triển và đã phát triển trong giai đoạn 1971 – 1998 Hơn thế nữa, các tác giả thực hiện ước lượng tương
tự vậy nhưng với mẫu nghiên cứu nhỏ hơn trong giai đoạn 1918 – 1945 để kiểm định giả định Lucas trong tình trạng giai đoạn trước 1945 có nhiều sự khác biệt so với giai đoạn sau 1945 bởi vì trong suốt khoảng thời gian đó, các nước thuộc thế giới thứ ba
bị các nước Châu Âu áp đặt chủ nghĩa thực dân Do đó các nhà đầu tư kỳ vọng rằng những hợp đồng sẽ được thực thi một cách tương tự nhau đối với cả hai thị trường nội địa và nước ngoài (Alfaro và các cộng sự, 2003) Kết quả là các tác giả tìm thấy bằng chứng rằng dòng vốn quốc tế được kiểm soát bởi các yếu tố đại diện năng suất (cụ thể là sự chênh lệch của vốn con người) trong giai đoạn trước Chiến tranh Thế giới thứ II, trong khi ba thập kỉ cuối của thế kỉ thứ 20 thì dòng vốn quốc tế chủ yếu dựa vào chất lượng thể chế của các quốc gia Nói cách khác, các quốc gia có sự bảo
vệ quyền sở hữu (property rights), càng ít tham nhũng và vốn con người càng cao sẽ càng thu hút nhiều dòng vốn quốc tế hơn Các tác giả khẳng định rằng chính sách của chính phủ có ảnh hưởng đến lạm phát và thuế suất sẽ có tác động đến dòng vốn quốc
tế, bởi vì các nhân tố này sẽ làm thay đổi tỷ lệ vốn trên lao động và có thể làm giảm
tỷ suất sinh lời của vốn Kết quả này cho thấy cách giải thích khác cho nghịch lý Lucas Tuy nhiên, mục tiêu chính của bài nghiên cứu của các tác giả tập trung vào sự bất hoàn hảo của thị trường vốn quốc tế (rủi ro vỡ nợ quốc gia và thông tin bất cân xứng), điều này dẫn đến vấn đề đầu tư dưới mức (underinvestment), bởi vì các nhà đầu tư đơn thuần không thể biết được tình hình thực tế ở các quốc gia mà họ đầu tư
Trang 23là như thế nào Do đó, vấn đề đầu tư dưới mức, có thể là nguyên nhân của sự bất hoàn hảo của thị trường vốn, sẽ có thể làm cho lãi suất ở các quốc gia nhận vốn đầu tư gia tăng Trong bài nghiên cứu của mình, các tác giả sử dụng các biến: FDI ròng chảy vào, vốn con người, các biến đại diện cho mức độ ổn định của chính trị được đo lường bởi ICRG (International Country Risk Guide)3 Các kết quả cũng cho thấy rằng các biến đo lường chất lượng thể chế của các quốc gia đã phát triển không có sự biến động nhiều, trong khi đó các quốc gia đang phát triển ở Châu Á và Châu Mỹ Latin lại có nhiều sự thay đổi Các tác giả kết luận rằng chất lượng thể chế có vai trò quan trọng trong việc giải thích nghịch lý Lucas và cho thấy rằng dòng vốn FDI chảy vào các quốc gia đã phát triển, trong khi đó vốn con người có tương quan nhỏ với dòng vốn Thu nhập trên đầu người có ảnh hưởng gián tiếp một cách tích cực đến dòng vốn quốc tế, và các biến khác chẳng hạn như lạm phát và kiểm soát vốn hầu như có tác động không đáng kể đến dòng vốn quốc tế
Khác với các nghiên cứu trước đây về việc xem xét nghịch lý Lucas, Reinhart
và Rogoff (2004) khẳng định rằng không tồn tại nghịch lý Lucas, dòng vốn không chảy từ các quốc gia nghèo đến các quốc gia giàu Theo quan điểm của các tác giả, vấn đề là dòng vốn gây ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ của quốc gia, đặc biệt là chính phủ Ví dụ như, các quốc gia giống như Brazil hoặc Thổ Nhĩ Kỳ thu hút các dòng vốn và gia tăng các khoản nợ nước ngoài, điều này sẽ dẫn đến vấn đề rủi ro vỡ nợ Bằng cách so sánh giữa các quốc gia đã phát triển và các quốc gia đang phát triển, các tác giả cho thấy rằng các quốc gia đã phát triển cố gắng giảm mức độ nợ nước ngoài và do đó, sẽ gia tăng sự phát triển của hệ thống tài chính của quốc gia Tóm lại, dòng vốn sẽ chảy đến các quốc gia không có sự cố gắng giảm mức độ nợ nước ngoài Ngược lại, Chinn và Ito (2007) phân tích sự mất cân bằng toàn cầu của cán cân tài
3 Các biến này bao gồm Sự ổn định chính phủ, Các điều kiện kinh tế xã hội, Tiểu sử về đầu
tư, Mâu thuẫn nội bộ, Mâu thuẫn bên ngoài, Sự tham nhũng, Quân đội trong hoạt động chính trị, Căng thẳng tôn giáo, Luật pháp và an ninh, Căng thẳng đạo đức, Trách nhiệm giải trình
về mặt dân chủ, Chất lượng bộ máy tổ chức
Trang 24khoản vãng lai và kết luận rằng các quốc gia đã phát triển đa phần đều có cán cân tài khoản vãng lai thâm hụt và các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia xuất khẩu dầu, có tỷ lệ tiết kiệm cao Điều này hàm ý rằng dòng vốn có xu hướng chảy từ các quốc gia đang phát triển vào các quốc gia đã phát triển Các tác giả cũng lập luận rằng chất lượng thể chế và yếu tố tài chính (sự phát triển tài chính và pháp luật) đóng vai trò quan trọng ở các quốc gia đang phát triển hơn là các quốc gia đã phát triển
Rajan (2008) cũng so sánh các quốc gia có cán cân tài khoản vãng lai thâm hụt
và thặng dư và tìm thấy rằng các quốc gia có cán cân tài khoản vãng lai thặng dư (hầu hết là các quốc gia đang phát triển) với tốc độ tăng trường kinh tế cao thì sẽ có xu hướng đầu tư lượng vốn đáng kể ra bên ngoài, trong khi các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp sẽ nhận lượng vốn đáng kể từ bên ngoài Tuy nhiên, bằng việc phân tích FDI ròng tác giả kết luận rằng dòng vốn chảy vào không phụ thuộc vào tốc
độ tăng trưởng trong giai đoạn 2000 – 2004, trong khi giai đoạn trước 2000 hầu hết các quốc gia đang phát triển có tốc độ tăng trưởng cao nhận được nhiều dòng vốn FDI chảy vào Do đó, các quốc gia này sẽ thu hút dòng vốn nhiều hơn nhưng lại không sử dụng trong nước mà đem đi đầu tư sang các quốc gia khác Tác giả cũng cố gắng giải thích nghịch lý Lucas bằng cách tập trung vào vấn đề chất lượng thể chế và
có một cái nhìn sự nguy hiểm của dòng vốn ngoại4 Tuy nhiên, bài nghiên cứu của tác giả tập trung chủ yếu vào việc xác định mối quan hệ giữa dòng vốn chảy vào và tăng trưởng kinh tế, tác giả kết luận rằng ngay cả khi các quốc gia đang phát triển tài
4 Việc tài trợ vốn nước ngoài có thể có một ảnh hưởng đến việc hấp thu ở các nước có sự phát triển tài chính yếu kém Tác giả khẳng định rằng một dòng vốn lớn chảy vào có thể làm gia tăng sản lượng, điều này dẫn đến việc đồng nội tệ được định giá cao và sự sụt giảm trong năng suất biên của đầu tư Thêm vào đó, mức độ tiêu dùng nội địa cao dựa vào dòng vốn ngoại có thể sụt giảm hàng hóa phi thương mại và từ đó dẫn đến việc đồng nội tệ được định giá cao Khi tiết kiệm nội địa không đủ, việc thu hút dòng vốn ngoại có thể làm giảm lợi nhuận của các khoản đầu tư nội địa và dẫn đến việc định giá cao đồng nội tệ (được gọi là Căn bệnh Hà Lan) Rajan (2008) giả định rằng các quốc gia dựa nhiều vào dòng vốn quốc tế
sẽ trở nên kém cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Trang 25trợ cho các quốc gia đã phát triển (dòng vốn chảy từ các quốc gia đang phát triển đến các quốc gia đã phát triển) thì cũng không có ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng của quốc gia
Một nghiên cứu khác gần đây xem xét mẫu hình dịch chuyển của dòng vốn được thực hiện bởi Aibad và các cộng sự (2009) Theo quan điểm của các tác giả, sự khác biệt giữa các quốc gia đã phát triển và đang phát triển là sự phát triển thể chế, điều này sẽ dẫn đến việc chuyển giao vốn đến các quốc gia nghèo Kết quả là việc chuyển giao này sẽ làm gia tăng tốc độ tăng trưởng của thu nhập, điều này có nghĩa
là hội nhập tài chính và thu nhập cao sẽ trở nên ít hấp dẫn hơn trong việc thu hút dòng vốn ngoại Kameli – Ozcan và các cộng sự (2010) thực hiện bài nghiên cứu khác nhằm mục đích tìm kiếm câu trả lời cho nghịch lý Lucas Các bằng chứng thực nghiệm của các tác giả một phần tập trung chủ yếu ở Mỹ và xem xét hướng chảy của dòng vốn của Mỹ, và khẳng định rằng các quốc gia giàu có sự tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với các quốc giao nghèo Dựa vào các phát hiện của các tác giả, các quốc gia giàu sẽ là các con nợ, trong khi các quốc gia nghèo sẽ là các chủ nợ và dòng vốn
sẽ chảy từ các quốc gia nghèo sang các quốc gia giàu Tuy nhiên, các tác giả cho thấy rằng nghịch lý này ở mức độ quốc tế là do sự va chạm liên quan đến biên giới của các quốc gia Hơn thế nữa, Forbes và Warnock (2012) giải thích số lượng các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn và tin tưởng rằng dòng vốn có thể bị ảnh hưởng bởi lãi suất, tính thanh khoản của vốn, rủi ro toàn cầu, tốc độ tăng trưởng, mối liên kết giữa thị trường hàng hóa và thị trường tài chính, các nhân tố nhân khẩu học và các nhân tố nội địa Trong các yếu tố này, rủi ro toàn cầu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mức độ đầu tư trong nước và nước ngoài và sự phân bổ nguồn vốn, điều này giải thích cho sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế
Tầm quan trọng của va chạm tài chính đến dòng vốn quốc tế được nhấn mạnh bởi bài nghiên cứu gần đây của Gourinchas và Jeanne (2013), các tác giả cho thấy rằng giữa các quốc gia đang phát triển, dòng vốn sẽ chảy đến quốc gia có mức độ đầu
tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp Bằng cách sử dụng mô hình tân cổ điển, các tác
Trang 26giả tìm thấy quyết định đầu tư có thể giải thích cho “nghịch lý phân bổ” Reinhardt (2010) cung cấp phương pháp tiếp cận theo ngành với “nghịch lý phân bổ” và cho thấy rằng dòng vốn FDI chảy vào các ngành dịch vụ có xu hướng gia tăng nhiều ở các quốc gia mới nổi, đặc biệt nếu quốc gia mở cửa tài chính So với bài nghiên cứu của tôi, tác giả tập trung vào tốc độ tăng trưởng (nghịch lý phân bổ) thay vì tập trung vào thu nhập (nghịch lý Lucas) và sử dụng một mẫu nghiên cứu chỉ bao gồm các quốc gia mới nổi
Một quan điểm mới về nghịch lý của dòng vốn được cung cấp bởi Caselli và Feyrer (2007) cho thấy rằng cách đo lường tỷ lệ thu nhập tích lũy trên vốn vật chất, năng suất biên của vốn (marginal product of capital, MPK) gần bằng nhau giữa các quốc gia Trong một bài nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này, Causa và các cộng
sự (2006) khẳng định rằng tỷ lệ vốn trên sản lượng gần như tương tự nhau giữa các quốc gia khi giá thị trường được sử dụng để tính toán giá trị thị trường của năng suất vốn vật chất (physical capital) Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hoài nghi về các bằng chứng cho thấy giá trị MPK của các quốc gia gần bằng nhau, một phần nguyên nhân
là từ các vấn đề kinh tế vi mô trong quốc gia, sự khác biệt đáng kể trong năng suất và MPK giữa các công ty (Hsieh và Klwnow, 2009; Restuccia và Rogerson, 2008; Alfaro và các cộng sự, 2007) Chirinko và Mallick (2012) khẳng định rằng khi xem xét chi phí điều chỉnh và sự khấu hao của vốn, sự khác biệt MPK giữa các quốc gia giàu và quốc gia nghèo trở nên cao hơn và có ý nghĩa thống kê hơn khi sử dụng việc ước lượng truyền thống
Ngoài ra, với ý tưởng xem xét ảnh hưởng tương tác giữa độ mở cửa tài chính
và chất lượng thể chế đến các dòng vốn chảy vào quốc gia được đại diện bởi hai dòng vốn: dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chảy vào và dòng vốn đầu tư tư nhân nước ngoài (FII) chảy vào, Okada (2013) đã sử dụng dữ liệu của 112 quốc gia trong giai đoạn 1985 đến năm 2009 Tác giả đã tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng khi xem xét ảnh hưởng độc lập của độ mở cửa tài chính và chất lượng thể chế đến dòng vốn nước ngoài thì ảnh hưởng này lại không có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên, biến tương
Trang 27tác của hai biến số này lại có ảnh hưởng cùng chiều và đáng kể đến dòng vốn nước ngoài chảy vào Điều này hàm ý rằng ảnh hưởng mối quan hệ giữa độ mở cửa tài chính và dòng vốn nước ngoài chảy vào của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu của tác giả phụ thuộc đáng kể vào chất lượng thể chế của các quốc gia, với chất lượng thể chế càng tốt thì quốc gia càng mở cửa hội nhập tài chính sẽ càng có thể thu hút dòng vốn nước ngoài chảy vào hơn Đồng thời, tác giả cũng phân tách chất lượng thể chế theo 12 thành phần, và tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng chất lượng bộ máy
tổ chức, luật pháp và anh ninh, và mâu thuẫn nội bộ là các thành phần quan trong việc thu thút dòng vốn nước ngoài chảy vào Tương tự với ý tưởng của Okada (2013), Gammoudi và Cherif (2016) đã sử dụng phương pháp ước lượng GMM hệ thống đối với dữ liệu dạng bảng của 14 quốc gia thuộc khu vực Trung Đông trong giai đoạn
1985 – 2009 Các tác giả cho thấy rằng trong khi độ mở cửa tài chính có tác động ngược chiều đến dòng vốn FDI chảy vào, thì chất lượng thể chế càng cao và sự phát triển tài chính nội địa sẽ làm giảm tác động ngược chiều này Từ phát hiện này, các tác giả nhận thấy rằng có tồn tại mức ngưỡng (threshold) của chất lượng thể chế và
sự phát triển tài chính nội địa của các quốc gia trong mối quan hệ giữa độ mở cửa tài chính và dòng vốn FDI chảy vào các quốc gia Các tác giả cũng kết luận rằng phát hiện này hoàn toàn phù hợp với các quốc gia thuộc khu vực Trung Đôngbởi vì hầu hết các quốc gia này mới tham gia vào quá trình hội nhập tài chính trong khi chất lượng thể chế của các quốc gia này tương đối thấp và sự phát triển tài chính nội địa tương đối yếu kém
Từ các phân tích các bằng chứng thực nghiệm trước đây có thể thấy rằng, các nghiên cứu trước đây cố gắng tìm kiếm cách giải thích nghịch lý trong sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế như đã được Lucas (1990) phát hiện Các giải thích cho nghịch lý Lucas mà các nghiên cứu này tìm được chủ yếu là các yếu tố về chất lượng thể chế, chính sách kiểm soát dòng vốn quốc tế của các quốc gia… Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ giải thích nguyên nhân cho nghịch lý Lucas chứ vẫn chưa thật sự đưa ra bằng chứng cho thấy dòng vốn dịch chuyển từ các quốc gia giàu sang các quốc gia nghèo như Lucas (1990) đã phát hiện, bao gồm cả nghiên cứu của Reinhart và các cộng sự
Trang 28(2013) Hơn thế nữa, hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung phân tích vào dữ liệu trong các năm 1980 và 1990, và chỉ có một số nghiên cứu xem xét trong các năm đầu tiên của thế kỉ 21 Do đó, việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho sự dịch chuyển dòng vốn trong giai đoạn gần đây là điều cần thiết cần được thực hiện
Mặt khác, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung phân tích mẫu dữ liệu các quốc gia trên toàn thế giới, hoặc các quốc gia có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc… Và số lượng các nghiên cứu tập trung vào việc nghiên cứu xem dòng vốn quốc tế của Việt Nam (quốc gia đang phát triển) hay của các quốc gia thuộc khu vực ASEAN (các quốc gia đang phát triển) có khác biệt so với các quốc gia còn lại trên thế giới tương đối khan hiếm Do đó việc thực hiện tìm hiểu sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế của Việt Nam và các quốc gia thuộc khu vực ASEAN sẽ hữu ích trong việc lấp đầy các
lỗ hổng nghiên cứu trước đây
Trang 29Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu trước đây
Tác giả Quốc gia nghiên cứu Giai đoạn nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
Wei (2000) 49 quốc gia đang phát
triển và đã phát triển 1994 – 1996
Tham nhũng ảnh hưởng đến cả mức độ và thành phần của vốn, hay nói cách khác tham nhũng làm giảm FDI chảy vào
Wei và Wu (2002) 103 quốc gia đang phát
triển và đã phát triển 1980 – 1996
Tham nhũng làm giảm dòng vốn FDI chảy vào
và thiên về thành phần của dòng vốn quốc tế hơn
là các khoản vay từ các ngân hàng thương mại
Trang 30Chinn và Ito (2007)
19 quốc gia đã phát triển và 70 quốc gia đang phát triển
1971 – 2004
Đối với các quốc gia công nghiệp và đang phát triển, cán cân ngân sách chính phủ đóng vai trò đáng kể trong việc xác định cán cân tài khoản vãng lai, và 1% gia tăng trong cán cân ngân sách
sẽ dẫn đến 0.15% sự gia tăng trong cán cân tài khoản vãng lai
Rajan (2008)
56 quốc gia (các quốc gia nhận được nhiều hơn 10% dòng viện trợ trên GDP bị loại trừ)
Trang 31gia đang phát triển có tốc độ tăng trưởng cao nhận được nhiều dòng vốn FDI chảy vào
Montiel và
Reinhart (1999)
15 quốc gia mới nổi ở Châu Á, Châu Mỹ Latin, và các khu vực khác
Neumann (2006) Mô hình lý thuyết
Độ mở tài chính giảm làm cơ cấu nợ – vốn cổ phần của dòng vốn nhưng làm giảm khối lượng tổng thể của dòng vốn đi vào
Trang 32Elo(2007) Mô hình lý thuyết
Độ mở tài chính giảm làm giảm khối lượng của FDI và mối quan hệ này phụ thuộc nhiều vào rủi
1980 – 2009
Độ mở tài chính có tác động dương tới các dạng vốn nước ngoài vào khu vực
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Trang 33CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1994 dữ liệu độ mở cửa tài chính do Chinn – Ito (2008) cung cấp không có sẵn ở hầu hết các quốc gia, do đó, tôi lựa chọn giai đoạn nghiên cứu từ 1995 – 2014 Đồng thời, việc thực hiện lựa chọn các quốc gia đưa vào nghiên cứu trong bài nghiên cứu được xem xét như sau:
- Đầu tiên, tôi loại bỏ các quốc gia không có sẵn dữ liệu liên tục trong vòng
Bảng 3.1 Các quốc gia sử dụng trong bài nghiên cứu
1 Albania 2 Algeria 3 Angola 4 Armenia
5 Australia 6 Azerbaijan 7 Bahamas 8 Bahrain
9 Bangladesh 10 Belarus 11 Bolivia 12 Botswana
13 Brazil 14 Bulgaria 15 Burkina Faso 16 Cameroon
17 Chile 18 China 19 Colombia 20 Congo
Trang 3421 Costa Rica 22 Cote d'Ivoire 23 Cyprus 24 Czech
Republic
25 Denmark 26 Dominican
Republic
27 Ecuador 28 Egypt
29 El Salvador 30 Estonia 31 Gabon 32 Gambia
33 Greece 34 Guatemala 35 Guinea-Bissau 36 Guyana
37 Honduras 38 Hong Kong 39 Iceland 40 India
41 Indonesia 42 Iran 43 Japan 44 Jordan
45 Kazakhstan 46 Kenya 47 Korea, South 48 Lebanon
49 Madagascar 50 Malawi 51 Malaysia 52 Mali
53 Mexico 54 Moldova 55 Mongolia 56 Morocco
57 Mozambique 58 Namibia 59 Nicaragua 60 Niger
61 Nigeria 62 Oman 63 Pakistan 64 Panama
65 Paraguay 66 Peru 67 Philippines 68 Poland
69 Russia 70 Saudi Arabia 71 Senegal 72 Sierra Leone
73 Singapore 74 Slovenia 75 South Africa 76 Sri Lanka
77 Sudan 78 Tanzania 79 Thailand 80 Togo
85 United Kingdom 86 United States 87 Uruguay 88 Vietnam
89 Zambia
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Bên cạnh các dữ liệu được thu thập từ WDI của WorldBank, tôi cũng thu thập
dữ liệu độ mở cửa tài chính từ bộ dữ liệu được thiết kế bởi Chinn và Ito (2008) và dữ liệu về thể chế được lấy từ cơ sở dữ liệu của nhóm PRS
Trang 35Hình 3.1 Số lượng các quốc gia phân chia theo thu nhập dựa trên sự phân loại của WorldBank
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
3.2 Phương pháp đo lường biến
Trong phần này tôi sẽ trình bày phương pháp đo lường các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu của tôi Tôi chia nhóm các biến trong bài thành hai nhóm biến chính: (i) nhóm biến quan tâm, (ii) nhóm biến kiểm soát
Nhóm biến quan tâm
Biến phụ thuộc: Tài khoản vãng lai (Ca)
Cán cân tài khoản vãng lai là biến phụ thuộc được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu trước đây về dòng vốn quốc tế (Reinhart và các cộng sự, 2013) Việc sử dụng cán cân tài khoản vãng lai đại diện cho dòng vốn quốc tế khác với các cách đo lường truyền thống khi sử dụng các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hay đầu tư danh mục nước ngoài (FPI) làm đại diện, nguyên nhân do có một số dòng vốn quốc tế không được báo cáo trong các khoản mục thống kê bao gồm các tài sản dự trữ (Reinhart và các cộng sự, 2013) Do đó, việc sử dụng cán cân tài khoản vãng lai
23
54 12
Các quốc gia thu nhập cao
Các quốc gia thu nhập trung bình
Các quốc gia thu nhập thấp
Trang 36đại diện cho dòng vốn quốc tế là điều phù hợp Một giá trị càng lớn của cán cân tài khoản vãng lai cho thấy dòng vốn quốc tế đang có xu hướng chảy ra (đầu tư ra các quốc gia khác), và ngược lại một giá trị càng nhỏ của cán cân tài khoản vãng lai thể hiện dòng vốn quốc tế đang chảy vào (các quốc gia khác đầu tư vào) Cán cân tài khoản vãng lai được thu thập từ bộ dữ liệu WDI của WorldBank (2014)
Biến độc lập: Sự phát triển kinh tế (GDPPPP)
Đại diện cho quy mô thị trường là một trong những yếu tố quyết định quan trọng của dòng vốn quốc tế Theo Chenery và Strout (1966) các quốc gia đang phát triển sẽ phụ thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài để gia tăng thu nhập trên đầu người của họ Trong bài nghiên cứu này, tôi đo lường sự phát triển kinh tế bằng cách lấy logarith tự nhiên của tổng sản lượng quốc gia trên đầu người (GDP per capita, được tính theo ngang giá sức mua PPP) tương tự so với các cách đo lường đối với biến số này ở các nghiên cứu trước đây như Reinhart và các cộng sự (2013) Theo như lý thuyết tân cổ điển cho thấy rằngcác dòng vốn tư nhân sẽ dịch chuyển từ các nền kinh
tế phát triển đến các nền kinh tế ít phát triển hơn, nơi mà có mức chứng khoán vốn trên đầu người thấp hơn và vì vậy sẽ có tỷ lệ MPK cao hơn (Lucas, 1990) Do đó, lý thuyết tân cổ điển kì vọng mối tương quan dương giữa tài khoản vãng lai và GDP trên đầu người với giả định các yếu tố khác không đổi
Biến độc lập: Độ mở cửa tài chính (Kaopen)
Theo lý thuyết chiết trung của Dunning (1979), một trong những nhân tố giúp gia tăng nguồn vốn FDI chảy vào các quốc gia là lợi thế về chi phí giao dịch Với một quốc gia có độ mở tài chính cao thì chi phí giao dịch của quốc gia này với các đối tác quốc tế sẽ thấp, do đó làm gia tăng nguồn vốn FDI Quan điểm này cũng được ủng
hộ dựa theo lý thuyết về quyền lợi thị trường và lý thuyết của Sibert (1985) Về mặt thực nghiệm, các nghiên cứu của Desai và cộng sự (2004), Asiedu và Lien (2004) đã chỉ ra rằng: kiểm soát vốn (làm giảm độ mở tài chính) sẽ làm giảm dòng vốn FDI Do
đó, độ mở tài chính được kỳ vọng là có tác động dương đến dòng vốn quốc tế vào các quốc gia Để đo lường độ mở tài chính (Kaopen) của các quốc gia, tôi sử dụng chỉ số
Trang 37Chinn-Ito tương tự với các nghiên cứu trước đây Chỉ số Chinn-Ito phản ánh chính sách kiểm soát vốn bằng cách đo lường độ nhảy của kiểm soát vốn Chỉ số này được giới thiệu lần đầu tiên bởi Chinn và Ito (2006) Các tác giả đã tạo ra chỉ số này bằng cách xem xét sự có mặt của nhiều loại tỷ giá, sự hạn chế trong các thương vụ liên quan đến tài khoản vãng lai, giới hạn các giao dịch tài khoản vốn, các đòi hỏi nộp tiền lời từ xuất khẩu được báo cáo hằng năm về các dàn xếp giao dịch và các giới hạn giao dịch của IMF Chỉ số này càng cao cho thấy quốc gia đó càng ít có các hạn chế lên các giao dịch có liên quan đến tài khoản vốn (càng mở cửa hội nhập tài chính)
Nhóm biến kiểm soát
Cán cân ngân sách (Fiscal)
Theo các nghiên cứu trước đây như Aristovnik (2006), Rahman (2008), Medina và các cộng sự (2010), Unevska và Jovanovic (2011), Reinhardt và các cộng
sự (2013); các cân ngân sách được sử dụng như là một nhân tố có ảnh hưởng đáng kể đến cán cân tài khoản vãng lai Trong bài nghiên cứu này, mối quan hệ giữa cán cân ngân sách và cán cân tài khoản vãng lai được kì vọng ở đây là mối quan hệ “thâm hụt kép” Có nghĩa là một sự tăng (giảm) trong thâm hụt ngân sách quốc gia sẽ làm trầm trọng (cải thiện) thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, nói cách khác, khi đó dòng vốn quốc tế sẽ chảy vào (đi ra) khỏi quốc gia Có 2 mô hình giải thích cho mối quan hệ này: theo mô hình Mundell – Flaming, sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách gây ra một áp lực lên lãi suất, và lãi suất sẽ tác động đến dòng vốn chảy vào, từ đó sẽ tạo sức ép tăng giá đồng nội tệ, cuối cùng dẫn đến sự gia tăng trong thâm hụt tài khoản vãng lai Lý thuyết thứ hai giải thích cho giả thuyết thâm hụt kép là lý thuyết hấp thụ Keynes, cho rằng sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách sẽ gây ra sự hấp thụ trong nước và do đó tăng nhập khẩu, gây ra sự sụt giảm trong cán cân vãng lai Cán cân ngân sách được tính toán bởi sự chênh lệch giữa thu ngân sách và chi ngân sách trên GDP Tôi kì vọng mối quan hệ đồng biến giữa cán cân tài khoản vãng lai và cán cân ngân sách (Aristovnik, 2006), nói cách khác mối quan hệ nghịch biến giữa dòng vốn quốc tế chảy ra và cán cân ngân sách
Trang 38 Tỷ lệ phụ thuộc người cao tuổi (Age)
Chinn và Prasad (2003) cho rằng đặc điểm địa lý thể hiện qua tỷ lệ phụ thuộc người cao tuổi là nhân tố quan trọng trong việc xác định mức độ tiết kiệm từ đó ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai Tỷ lệ phụ thuộc người cao tuổi được đo lường bởi phần trăm dân số có số tuổi trên 60 tuổi trên tổng dân số theo như sự đề nghị của Chinn và Prasad (2003), Masson và các cộng sự (1998) Hơn thế nữa, tỷ lệ phụ thuộc người cao tuổi được kì vọng có ảnh hưởng tích cực đến cán cân tài khoản vãng lai bởi vì người dân có số tuổi càng lớn sẽ có xu hướng càng tiết kiệm từ đó sẽ làm gia tăng cán cân tài khoản vãng lai (Chinn và Prasad, 2003; Lane và Milesi – Ferretti, 2012)
Tốc độ phát triển dân số (Popgr)
Unevska và Jovanovic (2011) cho rằng một trong những nhân tố quan trọng xác định mức độ tiết kiệm của quốc gia cũng như cán cân tài khoản vãng lai là tốc độ phát triển dân số Tốc độ tăng trưởng dân số có ảnh hưởng tiêu cực đến cán cân tài khoản vãng lai do dân số càng tăng trưởng cao thì sẽ mang lại nhiều lực lượng lao động hơn trong tương lai, đồng thời giới trẻ thể hiện sự thiếu tiết kiệm hơn vì vậy dẫn đến sự giảm sụt trong cán cân tài khoản vãng lai (Medina và các cộng sự, 2010; Prati
và các cộng sự, 2011)
Tài sản ròng nước ngoài (Nfa)
Theo các nghiên cứu trước đây của Chinn và Prasad (2003), Yang (2010), Unevska và Jovanovic (2011), Reinhardt và các cộng sự (2013) và Hui (2015), tài sản ròng nước ngoài có vai trò quan trọng trong việc xác định cán cân tài khoản vãng lai cũng như dòng vốn quốc tế của các quốc gia Tài sản ròng nước ngoài được kì vọng có ảnh hưởng tích cực đến cán cân tài khoản vãng lai bởi việc cho rằng sự cải thiện tài sản ròng nước ngoài của quốc gia sẽ dẫn đến sự gia tăng thu nhập đầu tư ròng, đây là thành phần trực tiếp của cán cân tài khoản vãng lai Trong bài nghiên cứu này, NFA được sử dụng dưới giá trị độ trễ để tránh sự tương quan với cán cân tài
Trang 39khoản vãng lai theo như sự đề nghị của Yang (2010), Unevska và Jovanovic (2011), Reinhardt và các cộng sự (2013) và Hui (2015)
Thu từ dầu thô (Oil)
Thu từ dầu thô thể hiện sự nắm bắt mức độ phụ thuộc của quốc gia vào giá dầu, có mối tương quan tích cực với cán cân tài khoản vãng lai (IMF, 2006; Rahman, 2008; Morsy, 2009), điều này hàm ý rằng các quốc gia càng thiếu dầu thì sẽ càng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDPPCGR)
Theo Rajan (2008) và Unevska và Jovanovic (2011), tốc độ tăng trưởng kinh
tế có thể ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai thông qua mức độ đầu tư và tiết kiệm trong nước Dưới góc độ tiết kiệm, sự gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế được xem như sự tăng trưởng không bền vững, do đó người dân sẽ có xu hướng gia tăng
tỷ lệ tiết kiệm (Unevska và Jovanovic, 2011) Tương tự vậy, quan điểm đầu tư cho rằng tỷ lệ tăng trưởng kinh tế có tương quan cùng chiều với tốc độ tăng trưởng năng suất lao động và do đó, được kì vọng sẽ có ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ lệ đầu tư Vì vậy, ảnh hưởng ròng của tốc độ tăng trưởng kinh tế đến cán cân tài khoản vãng lai là chưa rõ ràng, mặc dù một số nghiên cứu đã kì vọng và phát hiện ra mối quan hệ ngược chiều giữa tăng trưởng kinh tế và cán cân tài khoản vãng lai (Chinn và Prasad, 2003; Rajan, 2008; Reinhardt và các cộng sự, 2013)
Viện trợ nước ngoài (Aid)
Alfaro và các cộng sự (2011) cho rằng viện trợ nước ngoài cần được đưa vào phân tích khi giải thích sự dịch chuyển của các dòng vốn quốc tế Khi quốc gia nhận viện trợ nước ngoài từ các quốc gia khác, làm giảm tiết kiệm và dẫn đến sự sụt giảm trong đầu tư Lạm phát tăng cao do viện trợ nước ngoài không được tiết kiệm để tạo
ra các khoản đầu tư mà chỉ đơn giản là tiêu dùng Kết quả là đường cầu của tiêu dùng gia tăng dẫn đến sự gia tăng giá thực phẩm và các mặt hàng nhập khẩu Hơn nữa, Easterly và Easterly (2006) cho rằng viện trợ nước ngoài làm giảm khối lượng xuất
Trang 40khẩu Dòng vốn ngoại tệ làm tăng giá trị của đồng nội tệ, khi nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ thành đồng nội tệ tăng lên Sự gia tăng nhu cầu đồng nội tệ, giá trị đồng nội
tệ sẽ tăng giá Do đó, quốc gia sẽ bị mất khả năng cạnh tranh và hàng hóa xuất khẩu
sẽ đắt tương đối trên thị trường toàn cầu, điều này làm cho xuất khẩu bị giảm sụt Kết quả cuối cùng là cán cân tài khoản vãng lai trở nên thâm hụt Một số bằng chứng thực nghiệm ủng hộ cho lập luận này như Reinhardt và các cộng sự (2013)
Độ mở thương mại (Trade)
Độ mở thương mại được sử dụng trong bài nghiên cứu này theo như sự đề nghị của Chinn và Prasad (2003), Aristovnik (2006), Unevska và Jovanovic (2011), Reinhart và các cộng sự (2013) Biến này được tính toán bởi tổng của xuất khẩu và nhập khẩu trên GDP (Chinn và Prasad, 2003) Ảnh hưởng của độ mở thương mại đến cán cân tài khoản vãng lai là tích cực đến mức mà nó có thể phản ánh được sự lựa chọn chính sách thuế của quốc gia mà có giao thương quốc tế Thật vậy, khả năng nền kinh tế mở cửa để tạo ra nguồn thu từ ngoại hối thông qua việc xuất khẩu có thể
là dấu hiệu cho thấy khả năng quốc gia này đang vay mượn nhiều5 (Chinn và Prasad, 2003)
Điều kiện thương mại (Tot)
Điều kiện thương mại là nhân tố quan trọng trong việc xác định sự biến động của cán cân tài khoản vãng lai (Chinn và Prasad, 2003; Reinhart và các cộng sự, 2013) Người dân, bao gồm các cá nhân và các tổ chức, trong nền kinh tế đối mặt với
sự biến động của điều kiện thương mại có thể có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn với lý
do phòng ngừa để làm trơn (smooth) mức độ tiêu dùng của họ khi phải đối mặt với
sự bất ổn từ thu nhập Đồng thời, Chinn và Prasad (2003) cho rằng các quốc gia có
độ biến động các điều kiện thương mại sẽ ít có thể thu hút dòng vốn quốc quốc tế Do
5 Điều này phù hợp phát hiện của Lane và Milesi-Ferretti (1997) khi cho rằng tồn tại mối tương quan cùng chiều giữa độ mở thương mại và mức độ nợ nước ngoài của các quốc gia đang phát triển