1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG part 4 doc

32 550 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sức khỏe môi trường phần 4
Trường học Trường Đại Học Môi Trường Miền Trung
Chuyên ngành Môi Trường và Ô Nhiễm
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 367,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính độc của crôm đối với cơ thể con người Hợp chất của Cr+6 rất độc, dễ gây ung thư phổi, viêm loét da, viêm gan, viêm thận, thủng vách ngăn giữa hai lá mía, gây độc cho hệ thần kinh v

Trang 1

của sắt Mangan được sử dụng để sản xuất sơn, vecni, thuốc

nhuộm, công nghệ in và làm kính màu

Con đường xâm nhập, đào thải mangan ở cơ thể người

Mangan là một khoáng chất vi lượng Tốc độ hấp thu mangan

vô cơ qua đường ruột là rất chậm

Sau khi được hấp thu, huyết tương bị mất rất nhanh và các kim loại thường đọng lại ở gan và thận, một lượng nhỏ có ở trong xương Mangan được thải ra chủ yếu qua đường phân, sau khi đã đi qua mật Gần 1% lượng mangan nhiễm phải có ở trong nước tiểu và phần lớn đi qua dưới da, một phần rất nhỏ được bài tiết qua thận

Tính độc của Mangan đối với cơ thể con người

Nhiễm độc mangan kinh niên gồm 3 giai đoạn Giai đoạn đầu thường chán ăn, mệt mỏi, vô cảm, đau đầu, mỏi chân, đau khớp, bực bội Tiếp theo, xuất hiện các triệu chứng pakynson như là nói nhầm, đi đứng loạng choạng, tiết nhiều nước bọt Kèm theo những triệu chứng trên còn có triệu chứng bị rối loạn tâm lý (còn gọi là thần kinh) Triệu chứng này thường biến mất khi

triệu chứng pakynson đã ổn định Giai đoạn cuối cùng bị sơ cứng mạch, nhất là hai chân, đau cơ, loạn cảm giác và nói năng

lẫn lộn Hiện tượng rung tay vì mắc bệnh do bị nhiễm độc mangan thường xuyên hơn so với hiện tượng rung tay vì bị pakynson tự phát

Công nhân tiếp xúc với quặng mangan hoặc điều chế kim mangan từ oxit mangan dễ bị viêm phổi Bệnh phổi không khác với bệnh phổi mắc do các nguyên nhân khác ngoại trừ có khả năng kháng thuốc kháng sinh

Trang 2

Khói dioxyl mangan tác hại đến màng nhầy của đường hô hấp gây viêm họng và viêm phế quản

Crôm

Nguồn gây ô nhiễm crôm

Crôm là kim loại màu trắng bạc, có ánh xanh và là nguyên tố

vi lượng quan trọng trong cơ thể sinh vật

Crôm được dùng để sản xuất các hợp kim với niken và molipden (Mo) và để sản xuất thép chống mòn Crôm còn được dùng cho mạ tẩy trong công nghiệp da, dùng để pha sơn mực, làm cao su và gốm

Cr(VI) tồn tại rất bền trong cả môi trường axit (dạng cr2O72)

và môi trường kiềm (ở dạng Cr2O42-), có tính oxy hóa cao Các điều kiện oxy hóa khử trong môi trường rất quan trọng đối với

sự tồn tại các dạng của crôm Nước thải sinh hoạt có thể chứa lượng crom tới 0,7 µg/ml mà chủ yếu ở dạng Cr VI) có độc tính với nhiều loài động vật có vú Tuy nhiên, quá trình khử Cr(VI) tới Cr(III) luôn xảy ra do trong nước thải sinh hoạt chứa các chất hữu cơ dễ phân hủy tạo ra các chất khử mãn tính, vì vậy dạng tồn tại chủ yếu trong nước thải sinh hoạt là Cr(III) Trong nước Cr(III) được cho là không độc vì ở pH = 6 - 8, dễ kết tủa tạo thành hydroxit và còn dễ kết tủa với S2-, C032

Trong tự nhiên, crom chỉ tồn tại ở dạng hợp chất Khoáng vật chứa crom nhiều nhất là cromit (FeCrO3)

Hàm lượng crôm có trong nước ngọt khoảng 0,1 - 6 µg/l trong nước biển 0,2 - 50 µg/l

Phần lớn Cr trong môi trường là từ chất thải công- nghiệp Nước thải của quá trình thuộc da, mạ, sơn, sản xuất chất phụ gia

Trang 3

đều chứa nhiều Crôm Trong các loại thức ăn, hàm lượng Crôm khoảng từ 20 đến 600 mg/kg Trong nước Crôm chỉ tồn tại ở 2 dạng Cr3+ và Cr6+ nhưng dạng Cr3+ thường gặp hơn

Con đường xâm nhập, đào thải crôm ở cơ thểnguởi

Đối với người, crôm xâm nhập vào cơ thể người chủ yếu qua con đường thức ăn, Cr(VI) đi vào cơ thể dễ gây biến chứng, tác động lên tế bào, lên mô tạo ra sự phát triển tế bào không nhân, gây ung thư

Crôm xâm nhập vào cơ thể con người chủ yếu qua con đường tiêu hoá và phụ thuộc nhiều vào khả năng hấp thụ của cơ thể Các nghiên cứu cho thấy con người hấp thụ Cr5+ nhiều hơn so với Cr3+ nhưng độc tính của Cr6+ lại cao hơn Cr3+ gấp khoảng

100 lần

Tính độc của crôm đối với cơ thể con người

Hợp chất của Cr+6 rất độc, dễ gây ung thư phổi, viêm loét da, viêm gan, viêm thận, thủng vách ngăn giữa hai lá mía, gây độc

cho hệ thần kinh và tim

Crom là một nguyên tố vi lượng Mức độ hấp thu qua đường ruột tuỳ vào dạng hợp chất crôm Tỷ lệ hấp thu qua phổi không xác định được, mặc dù một lượng đáng kể đọng ở phổi và phổi

là một trong những bộ phận chứa nhiều crom nhất

Crôm sẽ dẫn đến niêm mạc mũi dễ bị loét, phần sụn của vách mũi dễ bị thủng Bệnh ung thư phổi có xu thế ngày càng tăng trong công nhân tiếp xúc với crom

Hàm lượng Cr cho phép trong nước uống là 0,05 mg/lít (WHO7)

Trang 4

Kẽm

Nguồn gây ô nhiễm kẽm

Kẽm là nguyên tố vi lượng đối với thực vật, động vật và người Kẽm đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất

(như ancol dehydrogenaza; glutamic dehydrogenaza; lactic

số các kim loại khác Vì vậy, ô nhiễm kẽm thường liên quan tới đồng, chì và trong một số trường hợp có cả cadimi

Hàm lượng kẽm có trong nước ngọt từ 0,2 đến 100 µg/l, trong nước biển 0,2 - 48µg/l ở nồng độ > 5 mg/l nước có mùi khó chịu Nước chứa kẽm sẽ có lớp bạt màu trắng ở lớp mặt Kẽm là kim loại tích lũy cao trong cá

Tính độc của kẽm đối với cơ thể con người

Hơi kẽm hay nhiễm muối kẽm có thể gây các triệu chứng đau đầu, sốt

Con người cũng có thể bị ảnh hưởng do thiếu kẽm và trong một số trường hợp vóc dáng bị nhỏ bé, tuổi dậy thì chậm lại Theo tiêu chuẩn nước uống của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàm lượng kèm từ 0,1 đến 5mg/1 không gây độc với người

Niken

Trang 5

Nguồn gây ô nhiễm niken

Nikel là kim loại trắng bạc hơi vàng, dẻo, thường tồn tại ở dạng hoá trị +2 (Ni2+) Khoảng 60% - 70% lượng Ni được dùng

để phủ bề mặt các kim loại khác hay chế tạo hợp kim Niken kim loại được sử dụng trong công nghệ mạ

Niken được sử dụng để sản xuất một số hợp kim trong đó có

cả thép đặc hiệu

Những đồng xu bạc được đúc từ hợp kim đồng và niken, niken sử dụng để chế tạo các dụng cụ ăn Nhiên được để sử dụng làm chất xúc tác trong quá trình hidro hoá dầu để tạo thành

mỡ Niken còn được sử dụng làm men tráng và là một thành tố của acquy niken cadimi

Các loại muối niken (mà quan trọng nhất là men sunphat) được sử dụng rộng rãi trong công nghệ mạ điện, tất cả những sản phẩm có mạ crom đều có một lớp niken lót dày hơn rất nhiều lần so với lớp phủ crom

Nikel là kim loại có tính linh hoạt cao trong môi trường nước,

có khả năng tạo phức chất khá bền với các chất hữu cơ tự nhiên

và tổng hợp Trong đất, hàm lượng Ni2+ có thể đạt 5 - 50 mg/kg Trong nước tự nhiên, hàm lượng Ni2+< 0,02 mg/l, trong nước sinh hoạt (nước máy) do quá trình hoà tan từ các thiết bị hàm lượng Ni2+ có thể đạt 1 mg/l Công nghiệp luyện kim, mạ điện, khai thác mỏ đã đưa vào môi trường một lượng Ni đáng kể

Con đường xâm nhập, đào thải niken ở cơ thể người

Niken thường gây chảy máu cho người bị nhiễm Ở nồng độ quá cao, nó được bài tiết theo nước tiểu với thời gian bán phân huỷ từ 17 đến 39 giờ Niken cacbonyl được oxy hoá để tạo thành

Trang 6

Ni2 và Cao

Tính độc của niken đối với cơ thể con người

Niken và các muối của nó có hại cho da và từ năm 1908 người ta đã phát hiện ra bệnh ngứa do niken Bệnh viêm da do niken thì không có gì đặc biệt Nó có thể xảy ra cho bất cứ ai chạm tới kim loại này, có thể là quần áo hoặc đồ trang sức Viêm da do niken có thể nặng đến nỗi những người mắc bệnh buộc phải chuyển nghề Nguy hiểm lớn nhất khi tiếp xúc với niken là có thể mắc bệnh ung thư đường hô hấp Nhiều nghiên cứu cho thấy: công nhân tinh chế niken có nguy cơ mắc bệnh ung thư xoang mũi, phổi, và thanh quản

Tiếp xúc lâu dài với niken gây hiện tượng vàng da và có thể xuất hiện dị ứng ở một số người Ngộ độc niken qua đường hô hấp gây khó chịu, buồn nôn, đau đầu, nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến phổi, hệ thần kinh trung ương, gan và thận Chất hữu cơ Niken carbonyl có độc tính cao và gây nên hiện tượng ung thư phổi

Giới hạn ngưỡng độc của Ni(CO)4 trong không khí là 0,001ppm Nồng độ Ni cho phép trong nước uống được WHO quy định là 20 mg/l, tuy nhiên, ở một số nước, chỉ số này còn thấp hơn, ví dụ ở Cộng hoà Liên bang Đức là 1 mg/l

Asen

Nguồn gây ô nhiễm asen

Asen là kim loại có thể tồn tại ở dạng hợp chất vô cơ và hữu cơ Trong tự nhiên, asen có trong nhiều loại khoáng chất Asen phân

bố rộng rãi trong vỏ quả đất và được sử dụng trong thương trường trước hết để làm tác nhân hợp kim hoá Asen xâm nhập

Trang 7

vào nước từ các công đoạn hoà tan các chất và quặng mỏ, từ nước thải công nghiệp và từ sự lắng đọng không khí Ở một vài nơi, đôi khi asen xuất hiện trong nước ngầm do sự ăn mòn các nguồn kháng vật thiên nhiên Asen còn được sử dụng trong một

số hoạt động sản xuất như: Đốt than và luyện kim, sản xuất gốm

và thuỷ tinh, thuốc trừ sâu (asen hữu cơ), chất bảo quản gỗ (asenat đồng clormat, kẽm asenat) Các hợp chất asen methyl

có trong môi trường do chuyển hoá sinh học.con đường xâm nhập asen ở cơ thể người

Các con đường hấp thụ asen vào cơ thể chủ yếu thông qua Đường tiêu hoá

Đường hô hấp

Tính độc của asen đối với cơ thể con người

Ba ảnh hưởng chính của asen tới sức khoẻ của con người là: làm đông keo protein, tạo phức với asen (III) và phá huỷ quá trình photpho hoá

IARC phân loại các hoá chất dựa vào khả năng gây ung thư ở người đã xếp asen vô cơ vào nhóm 1 (nhóm có khả nang gây ung thư cho người) và trong các trường hợp phơi nhiễm thì tỉ lệ mắc bệnh ung thư da tương đối cao

- Nhiễm độc cấp tính

Những triệu chứng đầu tiên gồm: khó chịu ở đường hô hấp,

ho, tức ngực và khó thở Tiếp sau đó là đau đầu, mất thăng bằng, mệt nhọc và ảnh hưởng đến dạ dày và ruột non Nếu liều lượng lớn thì nạn nhân có thể chết trong vòng 20 phút Nếu liều nhỏ thì thường có triệu chứng là nôn mửa, đau bụng trên, đi ngoài, đau

cơ Nếu bệnh nhân qua được thì có thể phục hồi

Trang 8

- Nhiễm độc kinh niên

Nhiễm độc kinh niên đặc biệt ảnh hưởng đến da Triệu chứng nhiễm độc: đau, sưng, tấy da, đi lại khó khăn và có những vệt trắng trong móng tay Bên cạnh đó, còn những triệu chứng không phổ biến như: buồn nôn, nôn mửa, đau bụng trên

Bụi asen đọng lại ở trên các niêm mạc gây ra viêm kết mạc, viêm mi, viêm mũi, viêm họng, viêm thanh quản, viêm phế quản Phần sụn mũi có khi bị thủng Bụi asen trong công nghiệp sản xuất kính thường tạo mẩn ngứa trên da

Asen và các hợp chất của nó tác dụng lên nhóm sunfuahydryl (- SH) và các men, phá vỡ quá trình photphoryl hoá, tạo phức với co- enzym ngàn cản quá trình sinh năng lượng As có khả năng gây ung thư biểu mô da, phế quản, phổi, xoang

Những ảnh hưởng cấp tính của asen có thể tác động tới hệ thống hô hấp, tiêu hóa, tim mạch và tuần hoàn Các nghiên cứu cũng chứng minh được asen hòa tan thì độc hơn asen không tan,

có thể là do sự hấp thụ asen hoà tan lớn hơn Với liều lượng khoảng 70 - 180 mg As (III) oxít sẽ gây ra ảnh hưởng xấu đối với sức khoẻ con người

Trong điều kiện tiếp xúc lâu dài với asen vô cơ sẽ tăng ảnh hưởng tới hầu hết các nội quan

Những tổn thương bộ máy hô hấp phía trên như: xuyên thủng vách ngăn mũi, viêm thanh quản, viêm họng, viêm cuống phổi khi công nhân làm việc trong điều kiện có nồng độ asen cao Những tổn thương này trong những trường hợp tiếp xúc lâu dài với nồng độ khoảng vài trăm µg và chủ yếu là asen dưới dạng hợp chất hoá trị 3

Asen vô cơ hoá trị 3 có thể làm sơ cứng ở gan bàn chân

Trang 9

Sự rối loạn chức năng gan cũng xuất hiện đối với bệnh nhân khi nhiễm asen kinh niên

Asen vô cơ có thể để lại ảnh hưởng kinh niên đối với hệ thần kinh ngoại biên của người

Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng asen vô cơ tác động lên cơ chế hoạt động của ADN

Asen vô cơ có thể gây ra ung thư da, chủ yếu là gây ra các nốt sưng tấy ác tính ở phần dưới cơ thể Điều này đã được quan sát thấy ở những người bệnh nhiễm asen do nước uống hoặc thuốc với tổng liều lượng khoảng vài gam trong thời gian dài Dạng tồn tại của asen trong nước uống vẫn chưa được làm sáng

tỏ, nhưng trong dược phẩm thì nó chủ yếu là dưới dạng asen vô

cơ hoá trị 3

Các vấn đề liên quan đến asen trong nước uống

Asen là một thành phần tự nhiên của vỏ trái đất trong một số vùng trên thế giới và có thể tìm thấy trong nước ngầm chảy qua

đá giàu asen Nước uống giàu asen trong một thời gian dài là không an toàn và ở một số nước trên thế giới vấn đề ảnh hưởng sức khoẻ do asen đáng lo ngại: Tiếng chuông cảnh tỉnh đầu tiên được lan rộng do các bác sĩ phát hiện ra những ca tổn thương da

do asen ở Tây Ba ngan, Ấn Độ năm 1983 Hơn 1,5 triệu người được cho là bị nhiễm asen ở đây, với khoảng hơn 200.ỌOO ca nhiễm độc Tại Bangladesh khoảng 35 đến 77 triệu người trong tổng số 125 triệu người dân đang đối mặt với nguy cơ nhiễm asen trong nước uống Có ít nhất 100.000 ca bị tổn thương da Khi sử dụng nước uống có hàm lượng asen cao trong thời gian dài, dẫn đến rối loạn mạch máu ngoại vi và có triệu chứng lâm sàng như là chân răng đen Các ảnh hưởng có hại có thể

Trang 10

xuất hiện như suy yếu chức năng gan, bệnh tiểu đường, các loại ung thư nội tạng (bàng quang, gan, thận), các loại bệnh về da (chứng tăng mô biểu bì, chứng tăng sắc trung và ung thư da) Bệnh sạm da, mất sắc tố da, chai cứng đa, và rối loạn tuần hoàn ngoại biên là các triệu chứng do tiếp xúc thường xuyên với asen Ung thư da và nhiều ung thư nội tạng cũng có thể do vậy Các bệnh tim mạch và thần kinh cũng được phát hiện có liên quan tới thức ăn, nước uống có asen và do tiếp xúc với asen Trong những nghiên cứu số người dân uống nước có nồng độ Asen cao cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh ung thư gia tăng theo liều lượng asen và thời gian uống nước

Giá trị hướng dẫn tạm thời đối với asen được nhiều quốc gia đưa ra là 0,01 mg/l

Nhôm

Nguồn gây ô nhiễm nhôm

Nhôm được sử dụng rộng rãi ở dạng nguyên chất hay hợp chất với các kim loại khác để sản xuất dụng cụ gia đình, thiết bị thí nghiệm, dây cáp, dây điện, bao bì, giấy tráng kim, dụng cụ phản quang và bột để tạo sơn

Con đường xâm nhập nhôm vào cơ thể người

Nhôm rất khó hấp thu và trong điều kiện bình thường nhôm thường nằm ở đường ruột và dạ dày người Ở trạng thái thiếu sắt, khi lượng feritin huyết tương thấp thì tốc độ thẩm thấu qua ruột mới được xảy ra Bởi vì nhôm khó hấp thu nên lượng nhôm trong cơ thể rất thấp, chỉ 30 - 40 mg Trong cơ thể, phổi chứa lượng nhôm cao nhất và lượng nhôm tăng theo tuổi tác bởi vì hợp chất hoà tan mắc và đọng lại ở đấy Nhôm cũng được tìm

Trang 11

thấy trong não và lượng nhôm tăng theo tuổi tác Tuyến bài tiết duy nhất cho nhôm là qua thận

Tính độc của nhôm đối với cơ thể con người

Công nhân làm ở lò nung để đúc nhôm thường mắc bệnh hen vôi tiếng thở khò khè và khó thở Tiếp xúc với bột nhôm thường

bị bệnh sơ phổi Bệnh nhân thường bị khó thở và ho khan:

3.6.2 Nhóm các chất dung môi hữu cơ

Các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOCs)

VOCs là những chất lỏng hoặc chất rắn có chứa nguyên tố cacbon hữu cơ dễ dàng bay hơi Khả năng bay hơi của các VOCs phụ thuộc vào áp suất hơi của chúng và áp suất khí quyển Khác với hợp chất cacbua hydro chỉ có chứa nguyên tử cacbon và hydro, các VOCs còn có thể chứa nguyên tử oxy, nitơ hoặc sunfua VOCs phát sinh từ sự cháy không hết của các loại nhiên liệu, sự bay hơi của các dung môi hoà tan, sự bay hơi của xăng tại các trạm tiếp xăng, của dầu mỏ tại các nhà máy lọc dầu, của các hoá chất rơi vãi, rò rỉ và từ sự hô hấp của cây xanh Các chất này thường ít gây nhiễm độc mãn tính mà chỉ gây nhiễm độc cấp tính như suy nhược, chóng mặt, say, sưng tấy mắt, co giật, ngạt, viêm phổi, apxe phổi Một số chất còn có khả năng gây ung thư

Công nhân làm việc ở công đoạn sơn phải thường xuyên tiếp xúc với các hợp chất dùng làm dung môi trong sơn, gồm các hydrocachon mạch thẳng, hydrocachon mạch vòng thơm và các dẫn xuất halogen khác Tiếp xúc với các dung môi hữu cơ như

Trang 12

axeton, ethylacetate, buthylacetate ở nồng độ cao có thể gây buồn nôn ngạt thở thậm chí ngất Tiếp xúc qua da, các dung môi

này gây dị ứng Tiếp xúc với các hợp chất hydrocacbon mạch

vòng thơm như Toluen, Xylen công nghiệp có thể gây viêm các niêm mạc, gây khó thở , nhức đầu, nôn, các triệu chứng về thần kinh, Tiếp xúc lâu dài với các chất này có thể dẫn đến các bệnh nhức đầu mãn tính, các bệnh về đường máu như ung thư máu Nhìn chung, các hydrocachon mạch vòng thơm có độc tính cao đối với người và động vật nên xu hướng hiện nay là thay thế các hợp chất này bằng các hợp chất hydrocacbon mạch thẳng ít độc hại hơn Các công nhân làm việc ở công đoạn sơn tại công trường thường không tiếp xúc liên tục, chủ yếu làm việc ngoài trời, thoáng đãng nên cũng hạn chế được mức độ tiếp xúc Với các chi tiết nhỏ hoặc các vì kèo có kích thước dài nhưng mảnh chủ yếu là sơn phủ thủ công bằng tay nên hạn chế sự lan toả ra môi trường chung

Benzen

Nguồn gây ô nhiễm benzen

Benzen là một chất lỏng dễ bay hơi, nóng chảy ở +5,48oC,

sôi ở + 80,2oC Ở nhiệt độ bình thường benzen có tỷ trọng nhỏ hơn nước (0,879): Hơi benzen nặng hơn không khí, 1 lít benzen

ở điều kiện chuẩn nặng 325 g Hỗn hợp với không khí tới tỷ lệ 1,4 - 6% có thể gây nổ

Benzen ít tan trong nước, nhưng lại dễ hoà tan trong phần lớn các dung môi hữu cơ, trong dầu khoáng cũng như trong dầu động vật thực vật Đặc biệt, benzen là một dung môi hoà tan được nhiều chất như mỡ, cao su, hắc ín, nhựa đường nhựa than, sơn, vecni

Trang 13

Trong công nghiệp, benzen là nguyên liệu tổng hợp hợp chất hữu cơ như nitro benzen, anilin, clorobenzen, phenol Benzen phần lớn được dùng làm dung mới hoà tan chất mỡ, cao su, vecni, tẩy mỡ ở xương, da sợi, vải, len dạ, lau khô, tẩy mỡ các tấm kim loại và dụng cụ bám bẩn chất mỡ

Con đường xâm nhập benzen ở cơ thể người

Benzen được hấp thu qua phổi và qua da

Tính độc của benzen đối với cơ thể con người

Sau khi vào cơ thể, phần lớn benzen (30 - 60%) thải ra theo đường phổi trong khoảng 30 phút Phần còn lại (15 - 60%) tuỳ

theo bệnh nhân và điều kiện nhiễm độc, bị oxy hoá trực tiếp

thành phenol (phenol thường, pyrocatechol, hydroquinol và tridroxy 1.2.4 benzen) Giai đoạn oxy hoá này diễn ra chủ yếu ở gan, tiếp theo là giai đoạn liên kết đặc biệt cũng ở gan, các chức phenol bị ức chế hoặc do axit sunfuric (liên kết sulpho) hoặc do axit glucuronic (liên kết glucuro) Các axit phenylsunfuric và phenylglucuronic được đào thải ra nước tiểu dưới dạng muối kiềm Hiện tượng oxy hoá diễn ra mạnh hay yếu tuỳ theo người Phần benzen không bị oxy hoá còn lại tích luỹ vào nội tạng

và các tổ chức giàu mỡ (tuỷ xương, não, gan: ) và từ đó benzen lại được đào thải ra nhưng rất chậm và lâu dài, sau khi được oxy hoá Sự tác động của benzen vào các nội tạng khác nhau gây các thể lâm sàng khác nhau như: tác động vào tuỷ xương benzen gây nhiễm độc mãn tính còn tác động vào não nó lại gây nhiễm độc cấp tính

Có hai cơ chế của sự rối loạn huyết học trong nhiễm độc benzen mãn tính

Trang 14

Benzen tác động trực tiếp lên tuỷ xương theo kiểu các chất độc phá huỷ nhân tế bào, gây nên tình trạng bạch cầu tăng tạm thời

- Liên kết sunfo của các phenol làm giảm dự trữ kiềm của cơ thể (glutathion) và sau đó làm giảm sút axit ascocbic, gây nên sự rối loạn oxy hoá - khử tế bào, trực tiếp dẫn đến tình trạng xuất huyết

Về cơ chế nhiễm độc, còn có thêm các yếu tố khác liên quan như: Tác động đặc biệt của benzen đến axit nucleic Axit này giữ vai trò chủ yếu trong quá trình phân chia tế bào và sinh trưởng Sự oxy hoá có thể mãnh liệt hơn, phá va cấu trúc vòng của benzen tạo thành axit muconic

Benzen có thể kết hợp với xystein tạo thành axit L-phenyl mercapturic Đây cũng là cơ chế nhiễm độc gián tiếp cho việc ức chế axit amin, như loại xystein cần thiết cho cơ thể, nhất là cho

sự sinh trưởng

Các yếu tố thuận lợi cho sự phát sinh bệnh

Nghiện rượu, tổn thương gan, thận phổi

Tuổi trẻ, lao lực, ăn uống thiếu thốn, thiếu vitamin C

Ngộ độc cấp tính

Hàm lượng benzen trên 10mg/l gây nhiễm độc bán cấp, sau vài giờ nạn nhân thấy khó chịu, nhức đầu, chóng mặt, nôn Nếu nạn nhân không được cấp cứu ra khỏi trạng thải hôn mê thì có thể tử vong vì suy hô hấp

Nhiễm độc mãn tính

Giai đoạn khởi phát

Rối loạn tiêu hoá, ăn kém ngon, xung huyết niêm mạc miệng,

Trang 15

nôn, hơi thở có thể có mùi benzen

Rối loạn thần kinh, chóng mặt, nhức đầu, dễ cáu giận, chuột rút, cảm giác kiến bò, tê cóng

Rối loạn huyết học, thiếu máu nhẹ, có khuynh hướng xuất huyết, phụ nữ dễ rong kinh, khó thở cố gắng do thiếu máu, thời gian máu chảy kéo dài, dấu hiệu dây thái dương tính

- Thời kỳ toàn phát: 'Thời kỳ này, bệnh được thể hiện qua hội chứng xuất huyết, thiếu máu, giảm bạch cầu

• Xuất huyết: do tính giòn mao mạch, tiểu cầu giảm (được 100.000/mm3) Hay gặp xuất huyết niêm mạc (mũi, lợi, dạ

dày, ruột, tử cung) hoặc dưới da Hiếm gặp xuất huyết phủ

tạng: gan thận, lách, màng não và não Thời gian máu chảy kéo dài

• Thiếu máu: số lượng hồng cầu giảm, còn dưới hai triệu Thường là thiếu máu đẳng sắc, bất sản tuỷ (hoặc thiểu sản

tuỷ), do sự phá huỷ hồng cầu hay ức chế các chức phận tạo

huyết của tuỷ xương Giống như các chứng thiếu máu tái tạo khác, có thể gặp hồng cầu không đều, hồng cầu biến dạng, hồng cầu bắt nhiều màu

• Bạch cầu giảm: trường hợp nặng có thể giảm còn 1000/mm3, đặc biệt bạch cầu đa nhân trung tính giảm nhiều

- Các thể lâm sàng: Giảm hồng cầu đơn thuần: bạch cầu bình thường

• Giảm tiểu cầu, với hội chứng xuất huyết, bạch cầu và hồng cầu bình thường

• Bệnh bạch cầu: bạch cẩu có thể tăng trên 20.000/mm3, do benzen kích thích tạo thành tế bào dòng bạch cầu

• Tăng hồng cầu: 5 - 6 triệu/mm3

Trang 16

• Thể tiềm tàng

• Biến đổi nhẹ về huyết học ở người khoẻ mạnh

• Những biến đổi nhiễm sắc thể ở các lymphô bào

Đây là một bệnh nguy hiểm vì dù ngừng tiếp xúc, bệnh vẫn không loại trừ được do có lượng benzen tích luỹ ở các tổ chức nhiều mỡ, nhất là ở tuỷ xương Ngoài ra, nhiễm độc còn có thể xuất hiện muộn, tới 20 tháng sau, cũng do benzen tồn lưu lâu dài

ở tuỷ xương

Thời kỳ toàn phát, số lượng hồng cầu dưới 1 triệu, bạch cầu dưới 2000, bạch cầu trung tính dưới 15%, tiên lượng xấu và có thể dẫn tới tử vong Nếu điều trị khỏi, thời gian hồi phục kéo dài

và bệnh cũng có thể tái phát Phụ nữ có thai, dễ xảy thai, đẻ non

Biện pháp dự phòng

Đối với Việt Nam, theo Quy phạm Nhà nước số 108 LB/QĐ ngày 30 tháng 3 năm 1977, cấm dùng benzen để làm dung môi pha chế sơn Nếu do yêu cẩu công nghệ đòi hỏi phải dùng benzen thì hàm lượng của nó chứa trong dung môi không được quá 10% chất lỏng (chất bay hơi trong thành phần của sơn) Trong trường hợp đặc biệt cho phép tăng hàm lượng benzen lên 20% để dùng cho việc sơn đệm, nhưng phải có sự thảo thuận của cơ quan quản lý cấp trên

Toluen

Nguồn gây ô nhiễm toluen

Toluen là một trong những chất xúc tác được sử dụng nhiều nhất trong công nghiệp Ở nhiệt độ bình thường toluen dễ bay hơi thành dạng khí dễ cháy, nổ

Toluen có trong sơn, nhựa, keo dán và là chất xúc tác trong

Ngày đăng: 24/07/2014, 00:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN