1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tài liệu Giáo trình sức khỏe môi trường_Bài 5 doc

32 623 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Chất Thải Rắn Và Chất Thải Y Tế
Trường học Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học môi trường
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 556,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đốt rác dẫn tới ô nhiễm không khí do những sản phẩm sau: trong quá trình đốt có thể chứa các chất độc hại như dioxin, khói từ những nơi đốt rác có thể làm giảm tầm nhìn, nguy cơ gây cháy

Trang 1

kính

9 Ozon là chất khí có khả năng hấp thụ tia cực tím ở tầng

BàI 5 QUảN Lý CHấT THảI RắN Và CHấT THảI Y Tế

MụC TIÊU

1 Trình bày đ−ợc các vấn đề về phát sinh chất thải rắn và công tác quản lý

Trang 2

2 Nhận biết và phân loại được các loại chất thải rắn và nguồn gốc của chúng

3 Trình bày được những tác động của chất thải rắn lên môi trường và sức khoẻ con người

4 Hiểu được các nguyên lý về quản lý chất thải và hạn chế sự phát sinh chất thải

5 Trình bày được các vấn đề về chất thải rắn y tế và công tác quản lý chất thải y tế

1 GIớI THIệU CHUNG

phương pháp kiểm soát và quản lý chất thải rắn có hiệu quả cần phải

được áp dụng

2 ĐịNH NGHĩA CHấT THảI RắN

ất thải rắn do hoạt động sản xuất nông nghiệp được gọi là chất thải rắn nông nghiệp

3 PHÂN LOạI Và THàNH PHầN CHấT THảI RắN

y có nhiều cách phân loại chất thải rắn Sau đây là một số cách phân loại thông dụng:

3.1 Theo vị trí hình thành

Người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ

3.2 Theo thành phần hóa học và vật lý

ô cơ, cháy được/ không cháy

được, kim loại / phi kim, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo

Các hệ sinh thái về mặt bản chất là bền vững vì chúng có khả năng phân huỷ và tái tạo các chất dinh dưỡng bằng cách tái sử dụng các yếu tố trong hệ Từ xa xưa, những người nguyên thuỷ và những nền văn minh cổ xưa không phải đối đầu với những vấn đề về chất thải rắn bởi vì chất thải chủ yếu trong những thời kỳ này là những chất thải có nguồn gốc hữu cơ, dễ bị phân huỷ bởi các vi sinh vật Hơn nữa, do dân số thế giới trong thời gian này còn ít nên lượng chất thải tạo ra cũng không lớn Vấn đề chất thải rắn ngày càng trở nên phức tạp hơn khi dân số thế giới ngày càng tăng, kèm theo đó là chất thải ngày càng gia tăng về số lượng cũng như chủng loại: chất thải hoá học, chất thải lỏng, chất thải rắn, chất thải hạt nhân và các chất thải độc hại Do vậy, các

Chất thải rắn là chất thải ở dạng rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt, thương mại, dịch vụ đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng v.v Chất thải rắn do hoạt động sinh hoạt, đô thị được gọi là chất thải rắn đô thị; chất thải rắn do hoạt động công nghiệp được gọi là chất thải rắn công nghiệp; chất thải rắn do hoạt động phòng bệnh và chữa bệnh được gọi là chất thải rắn y tế; ch

Hiện na

Người ta phân biệt theo các thành phần hữu cơ /v

Trang 3

3.3 Theo bản chất nguồn tạo thành, chất thải rắn được phân thành các loại

3.3.1

sử dụng, xư

nghiệp Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp gồm:

t công nghiệp, tro, xỉ trong các nhà máy nhiệt điện

Các phế thải trong quá trình công nghệ

ẩm

t động phá dỡ, xây dựng công trình chất thải xây dựng gồm:

.Chất thải rắn sinh hoạt

Là những chất thải liên quan đến các hoạt động sinh hoạt của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn

ơng động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả Theo phương diện khoa học, các chất thải này có thể phân biệt như sau:

Chất thải thực phẩm: bao gồm các thức ăn thừa, rau quả loại chất thải này mang bản chất dễ phân huỷ sinh học, quá trình phân huỷ tạo ra các mùi khó chịu, đặc biệt trong đ

gia đình còn có các thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn, ký túc xá, chợ

ư Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân của các động vật khác

ư Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải từ các khu vực sinh hoạt của dân cư

Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác trong gia

đình, trong

bao gói

3.3.2 Chất thải rắn công nghiệp

Là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công

ư Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuấ

ư Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất

ư

ư Bao bì đóng gói sản ph

3.3.3 Chất thải xây dựng

Là các phế thải như đất, đá, gạch, ngói, bê tông vỡ do các hoạ

ư Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng

ư Đất đá do việc đào móng trong xây dựng

Trang 4

ư Các vật liệu như kim loại, chất dẻo

Các chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý n

3.4.2

ất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần

nhiên, nước thải sinh hoạt

Chất thải nông nghiệp

Chất thải nông nghiệp là những chất thải và mẩu thừa thải ra từ các hoạt động nông nghiệp, thí dụ như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra

từ chế biến sữa, chất thải của các lò giết mổ Hiện tại việc quản lý và xả các loại chất thải nông nghiệp

các địa phương

3.4 Phân loại theo mức độ nguy hại

Chất thải nguy hại

Bao gồm các loại chất dễ gây phản ứng phụ, độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất thải phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan có nguy cơ đe dọa tới sức khoẻ con người, động vật, cây cỏ v.v Chất thải nguy hại là những chất mang ít nh

sơn là những hợp chất dễ cháy

Ăn mòn: các chất thải ăn mòn là những chất có pH dưới 2 hoặc hơn 12,5; có thể phá huỷ các mô sống hoặc ăn mòn các chất thông qua các phản ứng hoá học Những hợp chất ăn mòn này, chẳng hạn như các chất acid, kiềm, các

rửa, chất thải của ắc quy là mối đe dọa lớn đối với sức khoẻ con người

Tính phản ứng: các chất thải phản ứng gồm các loại đạn dược cũ hoặc những chất thải hoá học nhất định có khả năng phản ứng mạnh với không khí hoặc với nước Chúng có thể nổ và tạo ra các khí độc hại

Do tính nguy hiểm của chất thải rắn độc hại như trên, chúng ta phải có các biện pháp thu gom, bảo quản, vận chuyển, và xử lý t

xấu đối với môi trường và sức khoẻ

Chất thải không nguy hại

Chất thải không nguy hại là những loại chất thải không chứa các ch

Trang 5

Trong số các chất thải của thành phố, chỉ có một tỉ lệ rất nhỏ chất thải có thể sơ chế dùng ngay trong sản xuất và tiêu dùng, còn phần lớn là huỷ bỏ hoặc phải qua một quá trình chế biến phức tạp, qua nhiều khâu mới có thể sử dụng lại nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của con người Lượng chất thải trong thành phố tăng lên do tác động của nhiều nhân tố như: sự tăng trưởng và phát triển của sản xuất, sự gia tăng dân số,

sự phát triển về trình độ và tính chất của tiêu dùng trong thành phố

4.2 Lượng phát sinh chất thải rắn đô thị (LPSCTRĐT)

Lượng chất thải tạo thành hay còn gọi là tiêu chuẩn tạo rác được định nghĩa là lượng rác thải phát sinh từ hoạt động của một người trong một ngày đêm (kg/người/ngày đêm)

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB, 1999), những nước nghèo có tỷ lệ phần trăm dân đô thị thấp nhất và lượng phát sinh chất thải rắn đô thị cũng thấp nhất, khoảng từ 0,4 đến 0,9 kg/người/ngày đêm Các nước có GNP/người thấp hơn 400 USD

có lượng phát sinh chất thải rắn đô thị dưới 0,7 kg /người/ngày đêm Do vậy, nên đối với các nước có tỷ lệ GNP/người ở mức trung bình theo đánh giá của WB, tỷ lệ lượng phát sinh chất thải rắn đô thị giao động trong khoảng 0,5 đến 1,1 kg/người/ngày Trong khi các nước giàu, có GNP/người cao, tỷ lệ này khoảng 1,1 đến 5,07 kg /người/ ngày

Bảng 5.1 cho thấy sự khác nhau về lượng rác thải rắn ở một số nước, nó cho thấy các nước giàu chính là các nước phải chịu trách nhiệm chính về tình trạng ô nhiễm hiện nay trên phương diện toàn cầu

Bảng 5.1 Lượng phát sinh chất thải rắn tại một số nước Tên nước GNP/người

(1995 USD)

Dân số đô thị hiện nay (%tổng sốt)

LPSCTRĐT hiện nay (kg/người/ngày)

Trang 6

(Nguồn: World Bank, bảng 3, trang 7, 1999 )

Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải rắn

mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, văn minh của dân

cư ở mỗi khu vực

4.3 Những nguy cơ và những vấn đề liên quan tới rác thải rắn đô thị

Nếu rác thải không được quản lý một cách hợp lý, rác thải rắn đô thị sẽ gây ra

nhiều ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khoẻ con người Dưới đây trình bày một

trong số những ảnh hưởng chính của sự ô nhiễm rác thải rắn tại đô thị

Rác thải không được thu gom tại đầu cuối ở các cống thoát nước của đô thị có

thể dẫn tới tắc các đường cống thoát nước, nguyên nhân gây lụt khi mưa lớn và ảnh

hưởng vệ sinh môi trường

Các loại côn trùng, sinh vật gây bệnh có thể phát triển trên một số loại chất thải

Phân người và các động vật nuôi, các loại thức ăn thải bỏ là môi trường thuận lợi cho

các loài côn trùng trung gian truyền bệnh như: ruồi, nhặng, gián Trên thực tế, phần

lớn chất thải rắn ở nước ta đều có chứa phân người, giấy vệ sinh Phân người là một

phương tiện lan truyền bệnh nguy hiểm Phân người lẫn trong rác thải chứa nhiều

mầm bệnh và rất dễ phát tán ra ngoài Các mầm bệnh trực tiếp gây tác hại cho sức

khoẻ của các công nhân vệ sinh, những người nhặt rác, bới rác và trẻ em chơi trên sân

Trang 7

Nước ứ đọng tại các chất thải rắn như can, chai, lọ bỏ đi là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các loại muỗi véc-tơ quan trọng trong việc truyền các bệnh sốt rét và sốt xuất huyết

Nơi cư trú ưa thích của chuột là các đống rác và thức ăn thải bỏ Chuột không những là nguyên nhân truyền bệnh dịch hạch mà còn là nguyên nhân của nhiều sự khó chịu khác đối với con người

Đốt rác dẫn tới ô nhiễm không khí do những sản phẩm sau: trong quá trình đốt

có thể chứa các chất độc hại như dioxin, khói từ những nơi đốt rác có thể làm giảm tầm nhìn, nguy cơ gây cháy nổ những bình khí và nguy cơ gây hoả hoạn những vùng lân cận

Một nguy cơ nghiêm trọng đối với rác đô thị đó là các loại túi chất dẻo tổng hợp, những loại túi này gây mất mỹ quan đô thị và là nguyên nhân gây chết những

động vật ăn phải

Những chất thải nguy hiểm như các vật sắc nhọn, các chất thải y sinh, các bình chứa chất có khả năng cháy nổ, các hoá chất công nghiệp có thể dẫn đến những chấn thương hoặc nhiễm độc, đặc biệt đối với trẻ em và những người tiếp xúc với rác thải Các chất ô nhiễm từ các bãi rác có thể ngấm vào mặt nước ngầm gây ô nhiễm nước ngầm và ô nhiễm đất xung quanh

Rác thải bệnh viện được đổ chung vào rác thải đô thị là nguồn nguy hiểm đáng

kể Các mầm bệnh truyền nhiễm có thể theo đó mà lan truyền ra môi trường xung quanh Đặc biệt, rác thải bệnh viện trực tiếp tác động lên sức khoẻ của những người nhặt rác, bới rác hoặc xử lý rác

Những tác động của chất thải rắn lên môi trường và sức khoẻ của con người

cũng có thể được tóm tắt theo cách dưới đây:

ư Tác động lên môi trường đô thị:

Các bãi rác đổ đống ngoài trời và các bãi chôn lấp rác có thể gây ô nhiễm không khí, tạo ra mùi khó chịu cho một khu vực rộng lớn quanh bãi rác Trong quá trình phân huỷ, một số chất tạo ra các loại khí độc có thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, các loại động vật và cây cối xung quanh

Các bãi rác đổ đống ngoài trời và các bãi chôn lấp rác không được xây dựng

đúng tiêu chuẩn cũng là nguồn tiềm tàng gây ô nhiễm nguồn nước, đặc biệt là nguồn nước ngầm Một số chất độc, kim loại nặng được tạo ra và ngấm vào nguồn nước, gây nguy hại tới sức khoẻ cộng đồng và hệ sinh thái quanh khu vực

Chất thải rắn cũng có nguy cơ cao gây nên ô nhiễm đất Các khu vực được sử dụng để chôn lấp rác, chất thải rắn bị ô nhiễm nặng nề, dẫn đến việc mất đất canh tác Những thay đổi này cũng dẫn tới sự thay đổi về mặt sinh thái học, dẫn đến sự phá vỡ cân bằng của hệ sinh thái

Trang 8

ư Tác động lên sức khoẻ con người:

Các mối nguy cơ gây ô nhiễm không khí, nước, đất nói trên cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của con người, đặc biệt của dân cư quanh khu vực có chứa chất thải rắn Việc ô nhiễm này cũng làm ảnh hưởng tới nguồn thức ăn: các chất ô nhiễm có trong đất, nước, không khí nhiễm vào các loại thực phẩm của con người: rau, động vật v.v qua lưới và chuỗi thức ăn những loại chất ô nhiễm này tác động xấu tới sức khoẻ con người

Các bãi chôn lấp rác là nơi phát sinh các bệnh truyền nhiễm: tả, lỵ, thương hàn v.v Các loại côn trùng trung gian truyền bệnh (ruồi, muỗi, gián) và các loại gặm nhấm (chuột) cũng ưa thích sống ở những khu vực có chứa rác thải

Các bãi chôn lấp rác cũng mang nhiều mối nguy cơ cao đối với cộng đồng dân cư làm nghề bới rác Các vật sắc nhọn, thuỷ tinh vỡ, bơm kim tiêm cũ v.v có thể là mối đe dọa nguy hiểm với sức khoẻ con người khi họ dẫm phải hoặc bị cào xước vào tay chân Các loại hoá chất độc hại và nhiều chất thải nguy hại khác cũng là mối đe dọa đối với những người làm nghề này Các động vật sống ở các bãi rác cũng có thể gây nguy hiểm tới sức khoẻ của những người tham gia bới rác

Các bãi rác cũng làm thay đổi thẩm mĩ theo hướng tiêu cực, làm ảnh hưởng đến

mĩ quan khu vực quanh bãi rác, tạo ra những mùi khó chịu cho kho vực xung quanh

5 QUảN Lý CHấT THảI RắN

Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ khuyến cáo rằng: để quản lý chất thải rắn

có hiệu quả, cần thực hiện đúng theo trật tự các bước sau:

ư Giảm thiểu nguồn phát sinh

ư Tái sử dụng - tái chế

ư Thu hồi năng lượng từ chất thải rắn

ư Chôn lấp hợp vệ sinh

5.1 Giảm thiểu nguồn phát sinh

Để giảm thiểu nguồn phát sinh, cần thay thế hoặc loại bỏ hẳn những chất tạo ra một lượng lớn chất thải bằng các chất tạo ra ít hoặc không tạo ra chất thải Thay đổi công nghệ, kỹ thuật sản xuất hiện đại để tạo ra ít chất thải hơn

5.2 Tái sử dụng - tái chế

Để tái sử dụng - tái chế, cần phải phân loại, cách ly chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh, không để các chất thải độc hại lẫn với các chất thải không độc hại Đối với

Trang 9

các chất thải độc hại, cần có biện pháp xử lý riêng phù hợp Đối với chất thải không

độc hại, chúng ta có thể tái sử dụng hoặc tái chế Chẳng hạn, đối với các chai, lọ thuỷ tinh, các thùng, đồ chứa nhựa/ kim loại có thể sử dụng lại để dùng vào mục đích khác Một số loại chất thải rắn khác có thể tái chế để sử dụng cho mục đích khác: tái chế nhựa, thuỷ tinh, kim loại v.v

5.3 Thu hồi năng lượng từ chất thải rắn

Sử dụng lò đốt rác ở các khu đô thị là một biện pháp xử lý chất thải rắn Nhiệt

độ trong lò rất cao (khoảng trên 1000-1200oC) để phòng ngừa ô nhiễm không khí Nhược điểm của biện pháp này là chi phí xây dựng các lò đốt này rất cao và bắt buộc phải có bộ phận xử lý tro Việc đốt cháy chất thải rắn có thể tạo ra điện, nhiệt, hơi nóng v.v để cung cấp cho ngành công nghiệp, khu dân cư, sưởi ấm các khu nhà cao tầng v.v Việc thu hồi năng lượng này có thể giúp giảm bớt chi phí cho các lò đốt hoạt động Công nghệ này gọi là thu hồi năng lượng hoặc từ chất thải tới năng lượng

5.4 Chôn lấp vệ sinh

Đây là phương pháp xử lý chất thải rắn phổ biến nhất hiện nay Trong một bãi chôn lấp vệ sinh, chất thải rắn được chôn lấp và phủ đất lên trên Xem chi tiết ở mục

7 Xử lý chất thải rắn tại Việt Nam (về chôn lấp rác)

6 THU GOM Và VậN CHUYểN CHấT THảI RắN

Thu gom là một khâu quan trọng trong quản lý chất thải rắn Hiện tại ở Việt Nam có hai phương hướng thu gom chính

ư Thu gom rác từ đường phố do công nhân vệ sinh làm nhiệm vụ quét đường Các công nhân dùng phương tiện xe đẩy để thu gom rác Rác được mang đến một

điểm tập trung rồi có xe chở rác mang đến điểm xử lý Hiện nay tại các thành phố lớn có xe chở rác chuyên dụng để thu gom rác theo giờ quy định

ư Thu gom rác từ các khu tập thể: mỗi khu dân cư có một địa điểm đổ rác hay bể

đựng rác Các gia đình hoặc cơ quan mang rác đến đổ vào điểm tập kết rồi sau

đó có xe chở rác đi

Việc vận chuyển rác chủ yếu là do xe chở rác chuyên dụng của các công ty vệ sinh môi trường đảm nhận Công việc này thường được thực hiện vào ban đêm

Phân bùn từ các bể phốt định kỳ có các xe hút phân đến hút chở ra ngoại thành

7 Xử Lý CHấT THảI RắN TạI VIệT NAM

Cho mãi tới tận gần đây, chất thải rắn vẫn được đổ đống ngoài bãi rác, chôn, đốt

và một số loại rác thải từ nhà bếp, nhà hàng được sử dụng làm thức ăn cho động vật

Trang 10

Cộng đồng vẫn chưa nhận thức được mối liên hệ giữa chất thải rắn với chuột, ruồi, gián, muỗi, rận, ô nhiễm đất và nước Người ta không biết rằng, chất thải rắn trong các bãi rác là nơi sinh sống của một số loại véc-tơ truyền các bệnh: sốt thương hàn, sốt vàng, sốt xuất huyết, sốt rét, tả v.v Do vậy, những phương pháp xử lý chất thải rắn rẻ nhất, nhanh nhất và thuận tiện nhất đã được sử dụng Các khu vực nông thôn và các thị trấn nhỏ sử dụng các bãi rác ngoài trời Các thị xã và các thành phố lớn hơn sử dụng các lò đốt nhỏ Mãi sau này, chôn lấp vệ sinh mới trở thành một biện pháp xử lý chất thải rắn được nhiều nơi lựa chọn ở Việt Nam, có nhiều phương pháp xử lý rác nhưng chủ yếu là đổ vào bãi rác, chôn lấp rác, ủ rác và đốt rác

7.2 Chôn lấp rác

Phương pháp chôn lấp rác được áp dụng ở nhiều nước phát triển Người ta chọn các vùng đồi núi, thung lũng để bố trí bãi chôn lấp Đáy của bãi rác được ngăn cách với đất và nước ngầm bằng những lớp chất dẻo không thấm nước Rác được đổ vào các

ô chia sẵn Khi các ô rác này đầy thì được lấp lại bằng đất và dùng xe lu nén chặt lại sau đó đổ tiếp lên cho đến khi đầy hố rồi phủ đất (khoảng 60cm) và trồng cây lên trên Nước trong bãi chôn lấp được thu gom về một chỗ và được xử lý trước khi cho vào sông, hồ Đây là phương pháp xử lý chất thải hợp vệ sinh nhưng tốn kém Thành phố

Hà Nội hiện đã xây dựng bãi chôn lấp rác tại Sóc Sơn với thời gian sử dụng

30 năm

7.3 Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp ủ phân (composting)

Để xử lý chất thải và tận dụng nguồn phân bón cho nông nghiệp người ta xây dựng các xí nghiệp xử lý rác thải thành phân trộn compôt Hiện tại, ở Việt Nam có hai nhà máy rác ở Cầu Diễn (Hà Nội) và Hóc Môn (Thành phố Hồ Chí Minh) Sau một quá trình ủ, lên men, chất thải hữu cơ trở nên vô hại và là nguồn phân bón tốt Tuy vậy, công suất các nhà máy này còn rất nhỏ, không đáp ứng nổi nhu cầu xử lý chất thải của các thành phố lớn Về mặt vệ sinh, phương pháp composting có thể đảm bảo nhiệt độ lên tới 60ºC - 65ºC, do đó tiêu diệt được hầu hết mầm bệnh và trứng giun sán

7.4 Đốt rác

Trang 11

Phương thức đốt có thể giảm thể tích xuống tới 75%, do đó tiết kiệm được diện tích đất chôn lấp Quá trình đốt cũng tiêu diệt được toàn bộ vi trùng gây bệnh Nhiệt lượng đốt rác có thể được tái sử dụng để đun nước nóng cho các nhà tắm công cộng Nhược điểm của phương pháp này là chi phí cao và có nguy cơ ô nhiễm không khí

7.5 Thu hồi và tái sử dụng

Trong chất thải rắn thành phố vẫn còn chứa nhiều vật liệu có thể thu hồi và tái

sử dụng ở Việt Nam vấn đề này chưa được chú trọng lắm vì hiện tại chúng ta có một

số lượng người đào bới rác và thu hồi phế liệu rất đông đảo Tuy vậy, việc quản lý sức khoẻ của những người bới rác lại là một mối quan tâm lớn

8 QUảN Lý CHấT THảI RắN Y Tế

8.1 ảnh hưởng của chất thải rắn y tế lên sức khỏe

8.1.1 Những nguy cơ của chất thải rắn y tế

Chất thải rắn y tế bao gồm một lượng lớn chất thải nói chung và một lượng nhỏ hơn các chất thải có tính nguy cơ cao Chất thải rắn y tế có thể tạo nên những mối nguy cơ cho sức khỏe con người

a Các kiểu nguy cơ

Việc tiếp xúc với các chất thải rắn y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương Bản chất mối nguy cơ của chất thải rắn y tế có thể được tạo ra do một hoặc nhiều đặc trưng cơ bản sau đây:

ư Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm

ư Là chất độc hại có trong rác thải y tế

ư Các loại hoá chất và dược phẩm nguy hiểm

ư Các chất thải phóng xạ

ư Các vật sắc nhọn

b Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ

Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao:

ư Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện

ư Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú

Trang 12

ư Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân

ư Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như: giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân

ư Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải, các

lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác

Ngoài ra còn có các mối nguy cơ liên quan với các nguồn chất thải y tế quy mô nhỏ, rải rác, dễ bị bỏ quên Chất thải từ những nguồn này có thể sản sinh ra từ những

tủ thuốc gia đình hoặc do những kẻ tiêm chích ma tuý vứt ra

8.1.2 Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn

Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:

ư Qua da (qua một vết thủng, trầy sước hoặc vết cắt trên da)

ư Qua các niêm mạc (màng nhầy)

ư Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)

ư Qua đường tiêu hoá

Các ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với chất thải y tế được liệt kê trong bảng 5.2 qua đường truyền là các dịch thể như máu, dịch não tuỷ, chất nôn, nước mắt, tuyến nhờn

Một mối nguy cơ rất lớn hiện nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virus lây qua đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con đường rác thải y tế Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh

Do sự quản lý yếu kém các chất thải y tế tại các cơ sở y tế, một số vi khuẩn đã

có tính đề kháng cao đối với các loại thuốc kháng sinh và các hoá chất sát khuẩn

Điều này đã được minh chứng, chẳng hạn các plasmit từ các động vật thí nghiệm có trong chất thải y tế đã được truyền cho vi khuẩn gốc qua hệ thống xử lý chất thải Hơn nữa, vi khuẩn E coli kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn còn sống trong môi trường bùn hoạt mặc dù ở đó có vẻ như không phải là môi trường thuận lợi cho loại vi sinh vật này trong điều kiện thông thường của hệ thống thải bỏ và xử lý rác, nước

Độ tập trung của các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim tiêm qua da) trong rác thải y tế thực sự là những mối nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khoẻ Những vật sắc nhọn trong rác thải y tế

được coi là một loại rác thải rất nguy hiểm bởi nó gây những tổn thương kép: vừa có khả năng gây tổn thương lại vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm

Bảng 5.2 Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế,

các loại vi sinh vật gây bệnh và phương tiện lây truyền

Trang 13

Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Phương tiện lây truyền

Nhiễm khuẩn tiêu hoá Nhóm Enterobacteria: Salmonella,

Shigella spp.; Vibrio cholerae; các

Các loại dịch tiết, đờm

Nhiễm khuẩn mắt Virus Herpes Dịch tiết của mắt

Nhiễm khuẩn sinh dục Neisseria gonorrhoeae, virus

não mô cầu

Não mô cầu (Neisseria meningitidis) Dịch não tuỷ

Sốt xuất huyết Các virus: Junin, Lassa, Ebola,

Marburg

Tất cả các sản phẩm máu và dịch tiết

Nhiễm khuẩn huyết do tụ

Viêm gan B, C Virus viêm gan B, C Máu, dịch thể

8.1.3 Những mối nguy cơ từ loại chất thải hoá chất và dược phẩm

Nhiều loại hoá chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là những mối nguy cơ đe dọa sức khoẻ con người (các độc dược, các chất gây độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ, gây sốc phản vệ) Các loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Những chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mạn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ

độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hoá chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hoá Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, chất ăn mòn, các hoá chất gây phản ứng (formaldehyd và các chất

Trang 14

dễ bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương phổ biến hay gặp nhất là các vết bỏng

Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn Cũng cần phải lưu ý rằng những loại hoá chất gây phản ứng có thể hình thành nên các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao

Các loại hoá chất diệt côn trùng quá hạn lưu trữ trong các thùng bị rò rỉ hoặc túi rách thủng có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ của bất cứ ai tới gần

và tiếp xúc với chúng Trong những trận mưa lớn, các hoá chất diệt côn trùng bị rò rỉ

có thể thấm sâu vào đất và gây ô nhiễm nước ngầm Sự nhiễm độc có thể xảy ra do tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm, do hít phải hơi độc hoặc do uống phải nước hoặc ăn phải thức ăn đã bị nhiễm độc Các mối nguy cơ khác có thể là các vụ hỏa hoạn hoặc ô nhiễm do việc xử lý chất thải không đúng cách, chẳng hạn như thiêu huỷ hoặc chôn lấp

Các sản phẩm hoá chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây nên các ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải sinh học hoặc gây

ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên nhận được sự tưới tiêu bằng nguồn nước này Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể bị gây ra do các sản phẩm của quá trình bào chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh và các loại thuốc khác, do các kim loại nặng như thuỷ ngân, phenol và các dẫn xuất, các chất khử trùng và tẩy uế

8.1.4 Những nguy cơ từ chất thải gây độc gen (genotoxic)

Đối với các nhân viên y tế chịu trách nhiệm tiếp xúc và xử lý loại chất thải gây

độc gen, mức độ ảnh hưởng của những mối nguy cơ bị chi phối bởi sự kết hợp giữa bản chất của chất độc và phạm vi, khoảng thời gian tiếp xúc với chất độc đó Quá trình tiếp xúc với các chất độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng hoá trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải dạng bụi hoặc dạng phun sương qua đường hô hấp; hấp thụ qua da; qua đường tiêu hoá do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc, hoá chất hoặc chất bẩn có tính độc Việc nhiễm độc qua đường tiêu hoá là kết quả của những thói quen xấu chẳng hạn như dùng miệng để hút ống pipet trong khi định lượng dung dịch Mối nguy hiểm cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và các chất tiết của những bệnh nhân đang được điều trị bằng hoá trị liệu

Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình đặc biệt trong nội bào như quá trình tổng hợp ADN hoặc phân bào nguyên phân Các thuốc chống ung thư khác, chẳng hạn như nhóm alkyl hoá, không phải là pha đặc hiệu, chỉ biểu hiện độc tính tại một vài điểm trong chu kỳ tế bào Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhiều loại thuốc chống ung thư lại gây nên ung thư và gây đột biến Khối u thứ phát, xảy ra sau

Trang 15

khi ung thư nguyên phát đã bị tiêu diệt, được biết hình thành do sự kết hợp của các công thức hoá trị liệu

Nhiều loại thuốc có độc tính gây kích thích cao độ và gây nên những hậu quả huỷ hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt (bảng 5.3) Chúng cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da

Cần phải đặc biệt cẩn thận trong việc sử dụng và vận chuyển chất thải genotoxic, việc đào thải những chất thải như vậy vào môi trường có thể gây nên những hậu quả sinh thái thảm khốc

Bảng 5.3 Các thuốc độc hại tế bào gây nguy hiểm cho mắt và da

Nhóm alkyl hoá:

Các thuốc gây rộp da ( * ) Aclarubicin, chlormethin, cisplatin, mitomycin

Các thuốc gây kích thích Carmustin, cyclophosphamid, dacarbazin, ifosphamid,

melphalan, streptozocin, thiotepa

Nhóm thuốc xen kẽ

Các thuốc gây rộp da Asacrin, dactinomycin, daunorubicin, doxorubicin,

epirubicin, pirarubicin, zorubicin Các thuốc gây kích thích Mitoxantron

Các alkaloid thuộc nhóm vinca và các dẫn xuất

Các thuốc gây rộp da Vinblastin, vincristin, vindesin, vinorelbin

Epipodophyllotoxins

Các thuốc gây kích thích Teniposid

( * ) Tạo thành các mụn nước

8.1.5 Những nguy cơ từ các chất thải phóng xạ

Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải và phạm

vi tiếp xúc Nó có thể là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt và nôn nhiều bất thường Bởi chất thải phóng xạ cũng như loại chất thải dược phẩm, là một loại độc hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ của các phương tiện chẩn đoán (máy X quang, máy chụp cắt lớp) có thể gây ra một loạt các tổn thương (chẳng hạn như phá huỷ các mô, từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể) Các nguy cơ từ những loại chất thải có hoạt tính thấp có thể phát sinh do việc nhiễm xạ trên phạm vi bề mặt của các vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời gian lưu giữ loại chất thải này Các nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ thu gom

và vận chuyển rác phải tiếp xúc với loại chất thải phóng xạ này là những người thuộc nhóm có nguy cơ cao

Trang 16

8.1.6 Tính nhậy cảm xã hội

Ngoài việc lo ngại đối với những mối nguy cơ tác động lên sức khoẻ, cộng đồng thường cũng rất nhạy cảm với những ấn tượng khi nhìn thấy loại chất thải thuộc về giải phẫu, các bộ phận của cơ thể người bị cắt bỏ như tứ chi, rau thai bào nhi

Đối với một số nền văn hoá, đặc biệt là ở châu á, những niềm tin tôn giáo và

đời sống tâm linh đòi hỏi các phần của cơ thể phải được trả lại cho gia đình người bệnh trong những chiếc quan tài nhỏ và được mai táng trong nghĩa địa

8.2 ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng

8.2.1 ảnh hưởng của loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn

Đối với những bệnh nguy hiểm do virus gây ra như HIV/AIDS, viêm gan B hoặc

C, các nhân viên y tế, đặc biệt là các y tá là những đối tượng có nguy cơ nhiễm cao nhất, do họ phải thường xuyên tiếp xúc với những vật sắc nhọn bị nhiễm máu bệnh nhân gây nên Các nhân viên bệnh viện khác và những người vận hành quản lý chất thải xung quanh bệnh viện cũng có nguy cơ đáng kể, chẳng hạn như những nhân viên quét dọn, những người bới rác tại các bãi đổ rác (mặc dù những mối nguy cơ này không có tài liệu đáng tin cậy để chứng minh) Nguy cơ của loại bệnh truyền nhiễm này trong số các bệnh nhân và cộng đồng thấp hơn nhiều

Các trường hợp tai nạn riêng lẻ hoặc nhiễm trùng thứ phát do chất thải y tế gây

ra đã được chứng minh bởi những tài liệu đáng tin cậy Tuy vậy, nhìn chung, rất khó

đánh giá trực tiếp ảnh hưởng của chất thải rắn y tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển

Tỷ lệ các tổn thương hàng năm do các vật sắc nhọn trong chất thải y tế và dịch

vụ vệ sinh môi trường cả trong và ngoài các bệnh viện gây ra đã được cơ quan đăng ký các độc chất và Bệnh tật Hoa Kỳ (ATSDR) đánh giá Nhiều tổn thương gây ra do kim tiêm trước khi vứt bỏ vào các thùng chứa, do những thùng chứa đó không kín hoặc

được làm bằng những loại vật liệu dễ bị rách, thủng

Một số nghiên cứu tại Mỹ đã cho thấy, số nhiễm virus viêm gan B hàng năm ở

Mỹ do tiếp xúc với chất thải y tế vào khoảng từ 162 đến 321 ca so với tổng số 300.000 trường hợp do tất cả các nguyên nhân mỗi năm

Có những dữ liệu về các trường hợp nhiễm trùng khác liên quan tới chất thải y tế nhưng không đầy đủ để có thể cho phép đưa ra bất kỳ một kết luận nào Nhiều khi dựa trên cơ sở các chỉ số viêm gan B cho thấy tất cả các nhân viên làm nhiệm vụ tiếp xúc

và vận chuyển chất thải y tế nên được tiêm chủng chống lại bệnh tật

Như đã trình bày ở trên, y tá và những nhân viên bệnh viện là những nhóm nguy cơ chính bị tổn thương, tỷ lệ tổn thương hàng năm của những đối tượng này vào khoảng 10 - 20 phần nghìn Các nhân viên lao công và nhân viên xử lý chất thải là những đối tượng có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp cao nhất trong số các nhân viên làm

Ngày đăng: 23/12/2013, 11:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5.1 cho thấy sự khác nhau về l−ợng rác thải rắn ở một số n−ớc, nó cho thấy  các n−ớc giàu chính là các n−ớc phải chịu trách nhiệm chính về tình trạng ô nhiễm  hiện nay trên ph−ơng diện toàn cầu - Tài liệu Giáo trình sức khỏe môi trường_Bài 5 doc
Bảng 5.1 cho thấy sự khác nhau về l−ợng rác thải rắn ở một số n−ớc, nó cho thấy các n−ớc giàu chính là các n−ớc phải chịu trách nhiệm chính về tình trạng ô nhiễm hiện nay trên ph−ơng diện toàn cầu (Trang 5)
Bảng 5.3. Các thuốc độc hại tế bào gây nguy hiểm cho mắt và da - Tài liệu Giáo trình sức khỏe môi trường_Bài 5 doc
Bảng 5.3. Các thuốc độc hại tế bào gây nguy hiểm cho mắt và da (Trang 15)
Bảng 5.5. L−ợng chất thải phát sinh tại các n−ớc trên thế giới - Tài liệu Giáo trình sức khỏe môi trường_Bài 5 doc
Bảng 5.5. L−ợng chất thải phát sinh tại các n−ớc trên thế giới (Trang 19)
Bảng 5.6. L−ợng chất thải phát sinh tại Việt Nam - Tài liệu Giáo trình sức khỏe môi trường_Bài 5 doc
Bảng 5.6. L−ợng chất thải phát sinh tại Việt Nam (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm