3.2 Ảnh hưởng của nồng độ và thời gian tác động của chất độc tới cơ thể con người Liều lượng là đơn vị hoá chất sử dụng/trọng lượng cơ thể sống hoặc đơn vị hoá chất sử dụng/diện tích bề
Trang 1hết Cuối cùng tới hành tuỷ khi gây ngừng thở
Khi chất độc tác dụng vào não: có các kích thích gây mất ngủ hoặc co giật động kinh (picrotoxin, cafein)
Tiểu não: rối loạn động tác và mất cân đối (rượu)
Hành tuỷ: các chất kích thích hành tuỷ (CO2) tác dụng chủ yếu vào tâm thở, làm co cứng các cơ thở Các loại tê liệt hành tuỷ nguy hiểm hơn (thuốc mê, mocphin) gây ngừng thở
Tuỷ: tuỷ đóng vai trò chuyển các phản xạ Trong ngộ độc strycnin, gây ra một sự kích thích quá mức các nơron tuỷ sống, tất cả các kích thích trung tâm và ngoại vi đều gây ra các co giật toàn thân
Hệ giao cảm: Hệ giao cảm gồm có hai hệ: giao cảm và phó giao cảm Các chất như adrenalin, ephedrin tác dụng vào hệ giao cảm gây ra giãn đồng tử, tim đập mạnh, co mạch, giãn có phế quản Các chất như aserin, acetycolin tác dụng vào hệ phó giao cảm gây co đồng tử, tim đập chậm, tăng bài tiết
Ảnh hưởng của chất độc tới hệ hô hấp
Các chất độc bay hơi sẽ xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, do đó nó có thể gây các tổn thương tại chỗ hay toàn thân các chất độc có thể gây ho kèm theo chảy nước mũi, nước bọt
Ví dụ với các hơi độc, hơi ngạt Tác dụng kích thích xảy ra ở trên biểu mô phổi do phù hoặc bỏng
Do hô hấp, chất độc theo không khí vào phổi (người ta hít chừng 11 - 12 m3 không khí trong 24 giờ) ngấm vào máu và gây ngộ độc Tác dụng tại chỗ thể hiện ngay trên nhịp thở gây nên trạng thái khó thở và ngạt
Một số chất tác dụng vào khả năng cung cấp ôxy của tế bào
Trang 2vận chuyển ôxy cho cơ thể như CO, HCN có thể gây tình trạng chết vì ngạt thở
3.2 Ảnh hưởng của nồng độ và thời gian tác động của chất độc tới cơ thể con người
Liều lượng là đơn vị hoá chất sử dụng/trọng lượng cơ thể sống hoặc đơn vị hoá chất sử dụng/diện tích bề mặt cơ thể bị tiếp xúc
Khi tiếp nhận một liều chất gây độc nhất định, cơ thể sống bị kích thích và có đáp ứng khác nhau Sự đáp ứng đó cũng được biểu hiện như là một hiệu ứng Liều dùng - đáp ứng là một biểu thức liên quan chặt chẽ, được biểu diễn bằng một đường cong tương ứng như hình 2 Theo hình 2 khi cơ thể tiếp nhận một lượng nhỏ chất nào đó chưa đủ tác động, cơ thể không gây đáp ứng gì, nếu tăng đến một ngưỡng nào đó cơ thể bắt đầu đáp ứng, liều dùng càng tăng, cơ thể càng đáp ứng Đến ngưỡng mà đáp ứng cơ thể là cực đại thì đường đáp ứng sẽ không đổi, cơ thể bị liệt hoàn toàn hoặc chết
Tính độc của cơ chất chủ yếu phụ thuộc vào liều lượng, có nghĩa là khi cơ thể thu nhận nhiều lượng chất đó thì tính đáp ứng độc càng lớn Khái niệm này được hiểu là liều lượng - đáp ứng Nồng độ của hoá chất tại vị trí tác động tỉ lệ với liều lượng Trong cùng một liều với hai hay nhiều loại hoá chất có thể làm cho nồng độ của chúng khác đi nhiều tại bộ phận bị tác động Sự khác nhau này liên quan đến sự khác biệt của quá trình nhiễm độc Tác động của bất cứ một chất độc nào cũng đều phụ thuộc chủ yếu vào nồng độ của nó tại vị trí tác động Nồng độ càng cao thì hiệu lực phá hoại càng lớn Nồng độ của một chất độc tại
vị trí tác động là một hàm số của:
Trang 3Mức độ tiếp xúc đối với chất độc, mức độ này cũng liên quan tới cách thức thí nghiệm đưa vào (tiếp xúc) và sự hấp thụ vào cơ thể
Sự phân bố của chất độc trong cơ thể
Sự trao đổi chất hoặc chuyển hoá sinh học của chất độc
Tiếp xúc với chất độc nồng độ cao trong thời gian ngắn dễ gây nhiễm độc cấp tính
Tiếp xúc với chất độc nồng độ thấp trong thời gian dài dễ gây nhiễm độc mãn tính
Có hai loại tác dụng chính
Chất gây độc nồng độ: Mức độ gây độc của nhóm này là phụ
thuộc vào lượng xâm nhập vào cơ thể ở dưới liều gây tử vong,
Trang 4thuốc dần dần bị phân giải, bài tiết ra ngoài cơ thể Thuộc nhóm này là các hợp chất pyrethoid, nhiều hợp chất lân hữu cơ,
cacbamat, các hợp chất có nguồn gốc sinh vật
Chất gây nhiễm độc tích luỹ: Là các hợp chất chỉ hữu cơ, các
hợp chất chứa thuỷ ngân, asen và chì có khả năng tích luỹ lâu trong cơ thể và gây những biến đổi sinh lí có hại cho cơ thể sống
3.3 Ảnh hưởng phối hợp của chất độc tới cơ thể con người
Trong môi trường sản xuất, khi có nhiều chất độc cùng tồn tại thì tính độc sẽ thay đổi, có thể tác dụng tăng cường hoặc giảm đi ảnh hưởng của một hoá chất lên hoạt động của một hoá chất khác gọi là mối tương tác (tác dụng phối hợp) Phản ứng thu
được có thể mang tính khuếch đại độ độc (tính cộng: chất A +
chất B : độ độc tăng gấp 2 lần), thậm chí nhiều trường hợp
khuếch đại độ độc lên gấp bội (chất A + chất B = độ độc tăng
gấp 5 lần) và thường không thể dự báo được Bên cạnh đó, phản
ứng còn có thể mang tính tiêu độc (chất A + chất B < 1 lần độ
độc hoặc cũng có thể có trường hợp tiêu độc hoàn toàn)
Khi 2 hoặc 3 thuốc BVTV được sử dụng đồng thời, chúng có thể tương tác với nhau và trở thành hoặc là độc hơn (đồng dạng hoặc đồng khả năng ví dụ như lindane và heptachlro) hoặc ít độc hơn (đối lập nhau) Sự tương tác của nhất trong chế độ ăn hàng ngày với thuốc BVTV chứa nhóm quan thứ hai có thể tạo ra các nitrosamine có độc tính cao hơn, gây biến dị hoặc gây ung thư Hoá chất hoặc bất kỳ một loại chất nào khi vào cơ thể đều qua quá trình hấp thụ, phân bố và đào thải Trong quá trình hấp thụ, các loại hoá chất sẽ đi vào bề mặt cơ thể, rồi từ đó đi vào máu,
từ máu các chất độc bị hấp thụ và chuyển động vào tế bào Tại
Trang 5đây, màng tế bào đóng vai trò quan trọng là sẽ ngăn hoặc sẽ cho phép các chất độc đi qua và khi đã xâm nhập chúng sẽ tấn công các vị trí đã định, gây các phản ứng sinh học của cơ thể
Những cơ quan chính của cơ thể có các tế bào xung yếu để các chất độc tấn công gây ngộ độc là:
Gan và các tế bào chức năng gan
Hiệu ứng tích cực, có lợi: Hiệu ứng này trợ giúp cho các tế bào hoạt động tốt hơn, giúp tái sinh và phục hồi nhanh chóng các tế bào bị tổn thương do bệnh tật, sản sinh ra tế bào mới Đây chính là các loại dược liệu, thuốc Tây y và Đông y đã và đang được sử dụng Hàng năm, các loại hoá chất này được sử dụng đến hàng triệu tấn Ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu, phát minh, giải thưởng khoa học cho lĩnh vực này và thực sự nhờ các đặc tính này mà loài người đã được cứu sống và tồn tại như hiện nay Thêm vào đó là các loại chất khác hoặc một số chất đọc khi liều lượng xâm nhập dưới ngưỡng
Hiệu ứng tiêu cực, có hại: Đây là mặt trái của việc sử dụng các loại dược phẩm Khi sử dụng hợp lý theo quy định, nó có tác dụng tốt nhưng nếu lạm dụng nó hoặc sử dụng nhầm lẫn công
Trang 6dụng, không theo chỉ dẫn sẽ gây tổn hại lớn đến sức khoẻ, đến môi trường sống Nguồn chủ yếu gây nên các hiệu ứng tiêu cực,
có hại là các chất độc Chúng được phân loại theo tính độc và được xếp thành nhóm chất độc bảng A, bảng B và bảng C (theo tính độc giảm dần) Sự xâm nhập của thuốc BVTV chủ yếu qua
da và mắt, do hít thở hoặc ăn uống Trong một giới hạn nào đó, các thuốc BVTV tan trong mỡ, thuốc BVTV tan trong nước, hấp thụ vào cơ thể qua phần da tiếp xúc Sự xâm nhập của thuốc BVTV qua đường tiêu hóa có thể xảy ra do ăn thực phẩm bị nhiễm hoặc sử dụng các đồ chứa thực phẩm bị nhiễm Tay bị nhiễm thuốc BVTV cũng có thể dẫn đến sự xâm nhập của thuốc BVTV khi hút thuốc lá
Đối với các thuốc BVTV có độc tính cao nhưng lại dễ chuyển hoá hoặc loại trừ thì mối nguy hiểm chính liên quan tới tiếp xúc cấp tính trong một thời gian ngắn Đối với các thuốc BVTV có độc tính thấp hơn nhưng có khả năng tích đọng lại trong cơ thể thì một nguy hiểm chính lại liên quan tới việc tiếp xúc trong một thời gian dài, thậm chí với cả những liều lượng tương đối nhỏ Các thuốc BVTV có thể loại trừ nhanh nhưng lại gây ra các ảnh hưởng sinh học bền vững cũng có mối nguy hiểm liên quan tới việc tiếp xúc trong một thời gian dài và liều thấp Các ảnh hưởng có hại có thể xuất hiện không chỉ do bản chất hoạt hoá và chất trộn mà còn do các dung môi, các chất mang, các chất chuyển thể sữa và các thành phần khác trong thành phẩm thuốc Các ảnh hưởng độc cấp tính rất dễ nhận biết, trong khi đó, các ảnh hưởng do tiếp xúc trong một thời gian dài với liều thấp gây
ra thường khó phân biệt
Đối với hầu hết các loại thuốc BVTV, mối quan hệ giữa liều -
Trang 7đáp ứng đã được xác định và các ảnh hưởng của thuốc BVTV có thể phát hiện được nhờ phân tích các thay đổi nhỏ về sinh hoá trước khi xuất hiện các ảnh hưởng tới sức khoẻ trên lâm sàng Cũng có thể có ngưỡng mà không thể quan sát thấy ảnh hưởng nào (mức ảnh hưởng không thể quan sát được) Tuy nhiên, đối với các loại thuốc BVTV nghi ngờ gây ung thư thì việc phát hiện sớm các ảnh hưởng phụ và xây dựng mức ảnh hưởng không quan sát được có thể là không thích hợp
3.4 Các loại ảnh hưởng độc hại của thuốc BVTV tới sức khoẻ con người
Chỉ có một số ít nhóm hợp chất đã xác định được cơ chế gây độc trên động vật có vú Ví dụ như, các cơ chế đã được xác định
rõ đối với thuốc trừ sâu cơ photpho và cacbamat, cả hai nhóm đều ức chế men cholinesterase, còn nitrophenol va các phenol khử chỉ cao hơn ức chế quá trình phosphorin oxidase Các thuốc diệt nấm thuỷ ngân hữu cơ cũng có cơ chế gây độc rõ ràng Ngoài các ảnh hưởng được liệt kê trong các bảng 8, 9, 10 dưới đây thì tiếp xúc cục bộ cao có thể gây ra bỏng hoá chất và nặng nhất là bỏng mắt do hoá chất Tổ chức nghiên cứu ung thư quốc
tế (IARC) đã đánh giá khả năng gây ưng thư của nhiều thuốc BVTV
Theo khả năng gây ung thư cho người, hai loại thuốc BVTV ethylene dibromid và ethylene oxide là chất có khả năng gây ưng thư cho người 14 loại thuốc BVTV điển hình đã được phân loại theo khả năng gây ung thư đó là: amitrole, aramite,
clordecone, chlorophenol, thuốc diệt cỏ chlorophenoxy, DDT,
1-3 - dichloro- propene, hexachlorobenzen, hexachlorocyclo - hexanes, mirex, nitrofen, sodium orthophenylphenate, sulfallate
Trang 8Ức chế
men
Dithiocarbarmat ức chế khả năng oxi hoá khử của các microsom của gan (ví dụ oxi hoá khử aldehyde) Khả
năng ức chế men cholinesterase trong máu của thuốc trừ
sâu cơ phốt pho và carbamat không chỉ trong các trường hợp nhiễm độc mà còn ở các công nhân tiếp xúc với các hợp chất độc này Nhiễm độc cấp tính trên lâm sàng có thể sẽ xuất hiện khi hoạt tính của men cholinesterase bị
ức chế tới 50% hoặc nhiều hơn và mức ức chế tới 30%
Trang 9được đề nghị là mức nguy hiểm (WHO) Sự ức chế men cholinesterase tích luỹ có thể xảy ra ngay sau khi tiếp xúc với liều không gây ra các dấu hiệu hoặc triệu chứng trên lâm sàng Liều ngưỡng giảm thấp hơn có thể gây nhiễm độc lâm sàng
Các ảnh hưởng xấu khác đối với sức khoẻ con người do thuốc BVTV gây ra:
Đục nhân mắt do tiếp xúc với diquat
• Tăng sinh tế bào trong phổi do tiếp xúc với paraquat
• Ảnh hưởng lên hệ thống miễn dịch do dicofol, các hợp chất hữu cơ và trichlorofom
• Quá trình photpho hoá khử không đồng bộ do dinitrophenol, dinitrocresol
Bảng 9
Các ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đối với da
Ảnh hưởng Các yếu tố nguyên nhân
Viêm da tiếp xúc Paraquat captafol 2.4-D và mancozeb Phản ứng dị ứng và phát ban (da
do nhiễm dioxin hoặc dibenzofurans
đã được khử clo
Trang 10Tổn thương do nốt phồng, sẹo
sâu, rụng tóc vĩnh viễn và teo da
Hexachlorobenzene
Bảng 10
Các ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với thần kinh
Ảnh hưởng Các yếu tố nguyên nhân
Nhiễm độc thần kinh chậm Một số các hợp chất cơ photpho ví dụ
trừ sâu pyrethroids và cơ photpho
3.5 Các hình thức thể hiện tính độc của độc chất đối với cơ thể con người
Tính độc của các chất độc thể hiện dưới các hình thức: vật lý, hoá học, sinh lý, sinh hoá học và hình thức kết hợp những phương thức trên
Lý học
Những chất độc như dung môi hoặc nhũ tương có thể gây khô da, viêm da, bong vẩy sau một thời gian tiếp xúc kéo dài ảnh hưởng này do làm mất lớp mô ở da, cũng có thể do làm biến tính Keratin hoặc tổn thương lớp ngăn nước ở phía dưới da Các axit hoặc kiềm ở dạng hơi khí và dạng lỏng gây kích thích mắt, miệng và họng
Khi chất độc xâm nhập qua đường hô hấp, tiêu hoá có thể gây
Trang 11kích thích, có thể dẫn tới viêm họng, gây viêm teo đường hô hấp Ở đường tiêu hoá có thể gây buồn nôn, vào sâu hơn có thể gây rối loạn nhu ruột và đại tiện
Các chất phóng xạ có thể làm thay đổi vị trí và bẻ gẫy các liên kết của nhiễm sắc thể
Hoá học
Tính độc thể hiện qua hình thức hoá học bao gồm:
Sự kết hợp trực tiếp giữa chất độc và một thành phần nào đó của cơ thể Ví dụ: nhiễm độc oxit cácbon (CO), CO sẽ kết hợp nhanh chóng với hemoglobin (Hb) tạo thành cacboxylhemoglobin làm Hb không còn khả năng vận chuyển oxy Sự kết hợp gián tiếp là sự giải phóng các chất độc của cơ thể như histamin gây tổn thương, thậm chí gây tử vong cho con người
- Sự kết hợp giữa kim loại với một thành phần của tổ chức cơ thể
Ví dụ : borate gắn với nguyên tử các bon cạnh nhóm chức hydroxyl làm cho chức năng bình thường của cơ thể bị ngừng trệ
- Tác động đến enzym hầu hết các cơ chế gây độc là do sự tác động làm thay đổi các hoạt động bình thường của hệ thống enzym
+ Chất độc có thể làm thay đổi hoạt tính của enzym bằng sự
kết hợp trực tiếp giữa chất độc với nhóm hoạt động hoặc kim loại hoạt động trong cấu trúc của enzym, làm ức chế hoạt động của enzym Thí dụ: chì, thuỷ ngân kết hợp với gốc-SH, Xianua kết hợp với sắt của enzym Cytocromoxydase làm enzym mất
Trang 12hoạt tính ức chế cạnh tranh: Một cơ chế gây độc thứ hai tác động lên enzym là sự cạnh tranh của chất độc với những sản phẩm chuyển hoá bình thường hay những coenzym cẩn thiết cho hoạt động của enzym Thí dụ chất sunfanilamid có cấu trúc tương tự như vitamin nhóm B
Sự tổng hợp một sản phẩm độc mới từ chất độc xâm nhập vào cơ thể Chất mới tổng hợp gây độc bằng cách tác động vào quá trình chuyển hoá bình thường Thí dụ chất natri fluoroacetat, sau khi được hấp thu vào cơ thể, dưới sự tác động của enzym và
sự có mặt của axit chắc sẽ được chuyển hoá thành fluorocitrat Chất fluorocitrat là chất độc thứ cấp có khả năng làm cho hô hấp của tế bào ngừng lại
+ Enzym gây độc: Một cơ chế gây độc khác xẩy ra khi chất
độc được tạo ra từ enzym Đó là độc tố của nọc rắn, nọc ong, vi khuẩn
+ Enzym cảm ứng: Hầu hết trong các cơ chế ở trên, enzym
đều giảm hoạt tính, nhưng trong một số điều kiện nào đó sự đáp ứng có thể là kích thích hoạt động chuyển hoá Những enzym cảm ứng là những enzym làm sự tổng hợp sinh lý tăng thêm số lượng men do đáp ứng với một tác nhân gây cảm ứng
và tuyến dưới đồi
Hiểu biết các cơ chế tác dụng sinh hoá, sinh lý thần kinh thể
Trang 13dịch Bên cạnh tầm quan trọng trong lý thuyết còn có giá trị thực
tế Sự hiểu biết các rối loạn sinh hoá ở mức tế bào hoặc phân tử cho ta khả năng xác định các rối loạn sớm của tình trạng sức khoẻ, phát hiện bệnh ở giai đoạn tổn thương sinh hoá và có khả năng hồi phục
Cơ chế miễn dịch
Là kết quả của việc tạo ra mọi kháng nguyên mới do sự kết hợp của chất độc với những thành phần của cơ thể, thường là protein Cơ chế này là cơ sở của mẫn cảm ở da do tiếp xúc với một số chất hữu cơ như chloroni trobenzoic Một ví dụ khác là toluen disoganate và các isocyanate thơm, những chất này qua đường thở kết hợp với protein gây mẫn cảm đường hô hấp
Triệu chứng lâm sàng nhiễm bệnh
Nhiễm độc cấp tính
Thời kỳ ủ bệnh là thời gian từ khi hấp thu chất độc đến lúc xuất hiện triệu chứng đầu tiên Trừ một số axit, kiềm có tác dụng kích thích trực tiếp ngay, không có ủ bệnh Thời gian ủ bệnh tuỳ thuộc vào số lượng hoặc nồng độ chất độc Tiếp theo đến thời kỳ tiền bệnh lý, xuất hiện triệu chứng không rõ rệt và không điển hình, bệnh nhân chỉ thấy khó chịu, mệt mỏi và nhức đầu Thời kỳ này rất ngắn nên dễ bị sao lãng, nhưng nếu ta đưa kịp thời bệnh nhân ra ngoài và xử lý ngay sẽ tránh được hậu quả sau này Sau đó đến thời kỳ phát bệnh với triệu chứng rõ rệt hơn các giai đoạn trước
Nhiễm độc mãn tính
Trang 14Do một lượng nhỏ chất độc tác động trong một thời gian dài gây bệnh cho cơ thể
Triệu chứng khởi phát rất nhẹ, không rõ rệt, không ảnh hưởng nhiều đến hiệu suất lao động, vì vậy, dễ làm người ta sao lãng và không phát hiện kịp thời Bệnh vẫn bị ủ và phát
Nhiễm độc bán cấp tính nằm giữa hai loại trên
Trong sản xuất cần chú trọng cả hai loại nguồn độc cấp tính
và mãn tính Do nhiễm độc cấp tính ảnh hưởng ngay đến lao động có thể gây tử vong, ngược lại nhiễm độc mãn tính lại có tính chất rộng và nghiêm trọng Có những chất độc có biểu hiện lâm sàng khác nhau trong nhiễm độc cấp tính và mãn tính như photpho trong nhiễm độc mãn tính lại gây tổn thương xương hàm
3.6 Ảnh hưởng của một số chất độc tới sức khoẻ con người 3.6.1 Nhóm kim loại
Chì
Nguồn gây ô nhiễm chì
Chì là kim loại có màu xám xanh, thường tồn tại ở dạng hoá trị +2 (Pb2+) Nguồn phát thải chì nhân tạo chủ yếu là do quá trình khai khoáng, nấu quặng thường là quặng PbS, chế tạo pin, chất dẻo tổng hợp, sơn, hóa chất và khói bụi của động cơ Chì được sử dụng để sản xuất ắc qui chì, hàn Các hợp chất hữu cơ chì như tetraethyl chì được sử dụng rộng rãi làm chất chống kích nổ và chất làm trơn trong xăng Tuy vậy, hiện nay một số nước đã không còn dùng loại xăng chứa chì Phần lớn
Trang 15lượng chì có trong nước uống là do ống dẫn nước là hợp kim chì, các vật dụng hàn bằng chì trong ngành xây dựng Lượng chì hoà tan từ vật liệu của hệ thống dẫn nước có chì tuỳ thuộc các yếu tố như pH, nhiệt độ độ cứng của nước và thời gian nước lưu trong ống Nước mềm có tính axit thì có khả năng hoà tan chì cao
Tại các đô thị lớn, phương tiện giao thông chủ yếu là xe máy
và ô tô sử dụng loại xăng A-83, A- 92 có chứa chì Tại một số điểm nút giao thông ở Hà Nội có nồng độ chì gấp từ 1,2 đến 1,5 lần so với tiêu chuẩn cho phép (0,005 mg/m3) Nguồn phát thải chì từ khói bụi động cơ vào không khí là một trong những nguyên nhân làm tăng ô nhiễm tại các thuỷ vực gần đường giao thông Trong sông ngòi, chì chủ yếu tồn tại ở dạng rắn lơ lửng, chiếm > 83%, còn lại ở dạng trao đổi lớn, dạng PbOH+, PbCl- và tạo phức với humic, fuvic Chì hấp phụ mãn tính trên bùn: 58%
ở dạng rắn; 10% dạng phức với chất hữu cơ; còn lại ở dạng không tan, keo Chì phát thải ra môi trường gặp pH trung tính rất
dễ kết tủa tạo Pb2O(OH)2, pb(OH)2
Hàm lượng Pb trong nước ngọt khoảng 0,06 - 120 µg/l, trong nước biển khoảng 0,03 - 13 µg/l
Công nghiệp sản xuất chì hàng năm thải vào môi trường 330.000 tấn Pb2+ Sự phát tán chì do con người gây ra trên 450.000 tấn/năm
Chì được sử dụng để sản xuất đường ống, kim loại tấm, giấy kim loại, sản xuất sơn, ác quy ôtô, các hợp chất chì ankin Những nguồn này bao gồm chì trong sơn cửa của các nhà ở, trong không khí do quá trình đốt cháy các hợp chất của chì, trong các động cơ hoặc trong sản xuất của một số ngành công
Trang 16nghiệp
Con đường xâm nhập, đào thải chì ở cơ thể người
Chì là nguyên tố không thiết yếu với cơ thể sống Nó là chất độc thần kinh và xâm nhập vào cơ thể con người bằng nhiều con
đường khác nhau: hô hấp, ăn uống, tiếp xúc qua da Chì là kim
loại thông dụng trong môi trường và là chất độc có khả năng tích
tụ trong cơ thể của động vật có vú Trẻ em hấp thụ lượng chì lớn hơn người trưởng thành Chì tồn tại trong không khí ở dạng rắn, bụi hoặc các hạt chì dioxit hoặc dạng hơi, đặc biệt alkyl chì thoát ra từ nhiên liệu của các động cơ đốt trong Sự hấp thụ chì trong phổi phụ thuộc vào nồng độ khi tiếp xúc ngoài ra còn phụ thuộc vào một tố yếu tố khác như dạng tồn tại của chì (rắn hay hơi), kích thước, phân bố của các hạt bụi chì Chì có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua thức ăn, nước uống và hít thở kể
cả qua da, tuy nhiên con đường xâm nhập chủ yếu là từ thức ăn Lượng hấp thu qua phổi cũng đáng kể Tuỳ thuộc vào loại hoá chất và kích thước của hạt, khoảng 40% lượng chì hít qua phổi được hấp thụ
Các hợp chất hữu cơ, kể cả ankin chì và sterat chì đều được hấp thụ qua da Sau khi được hấp thụ qua da, chì được dẫn vào
tế bào máu Gần 10% của nồng độ chì trong máu nằm trong huyết tương
Tất cả các mô mềm đều chứa chì nhưng xương thì chứa nhiều nhất, hơn 90% lượng chì tích luỹ trong cơ thể ở xương và răng Chì thay thế cho canxi nằm trong tinh thể hydroxi apatit và khi
đã ở trong xương thì lượng chì ổn định mặc dù có sự trao đổi chất giữa toàn bộ xương và huyết tương Chì vô cơ ít khi đi qua