Trang trước | Trang sau--- Sự gấp khúc của ống tim nguyên thủy: Sau khi hình thành, ống tim nguyên thuỷ có những thay đổi về kích thước và phân đoạn; tim có những chỗ phình và chỗ hẹp:
Trang 1Phôi thai tim và tuần
hoàn thai nhi
Trang 2MỤC LỤC
Phôi thai tim và tuần hoàn thai nhi 1
Trang sau 1
Quá trình phát triển phôi thai của tim: 1
Phôi thai tim và tuần hoàn thai nhi 1
Trang trước | Trang sau 1
Sự gấp khúc của ống tim nguyên thủy: 1
Trang trước | Trang sau 2
Sự phân chia tim ra làm hai nửa: 2
Trang trước | Trang sau 9
Sự hình thành các buồng tim và các van tim 9
Trang trước | Trang sau 10
Giải thích một số bệnh tim bẩm sinh: 10
Câu hỏi 1 Sự tồn tại lỗ thông liên nhĩ là do: 13
b) Sự tiêu đi của phần giữa vách nguyên phát 13
Câu hỏi 2 Sự tồn lại lỗ thông liên thất thường: 13
b) ở phần cơ vách gian thất 13
Câu hỏi 3 Máu của thai: 13
Ðáp án 14
Ðại cương hệ tuần hoàn 14
Trang trước | Trang sau 14
Các khái niệm chung: 14
Trang trước | Trang sau 15
Cấu tạo của thành mạch 15
Trang trước | Trang sau 16
Vòng tuần hoàn máu 16
Trang trước | Trang sau 17
Quy luật về đường đi của các động mạch: 17
Trang trước | Trang sau 18
Quy luật phân nhánh trong các cơ quan: 18
Trang trước | Trang sau 19
Tuần hoàn bên 19
Ðại cương hệ tuần hoàn 19
Trang trước | Trang sau 19
Tuần hoàn của rau và thai 19
Trang trước | Trang sau 22
Tuần hoàn sau khi đẻ 22
Trang trước | Trang sau 23
Hệ động mạch: 23
Trang trước | Trang sau 25
Hệ tĩnh mạch: 25
Trang 3Trang trước | Trang sau 26
Ðại cương: 26
Trang trước | Trang sau 28
Mạch bạch huyết: 28
Trang trước | Trang sau 29
Hạch bạch huyết: 29
Trang trước | Trang sau 31
Trang trước | Trang sau 32
Bạch huyết của đầu và cổ 32
Trang trước | Trang sau 36
Bạch huyết chi trên 36
Trang trước | Trang sau 38
Bạch huyết của chi dưới 38
Trang trước | Trang sau 40
Bạch huyết của bụng và chậu hông 40
Trang trước | Trang sau 41
Các hạch trước động mạch chủ 41
Ðại cương hệ bạch huyết 43
Trang trước | Trang sau 43
Các hạch bạch huyết bên động mạch chủ 43
Trang trước | Trang sau 46
Bạch huyết của ngực - Dẫn lưu bạch huyết của thành ngực: 46
Trang trước | Trang sau 47
Trang trước | Trang sau 49
Vòng động mạch não ( đa giác Willis ) 49
CÂU NÀO SAU ÐÂY ÐÚNG 54
Câu hỏi 1 Ðộng mạch nuôi não bắt đầu từ: 54
Câu hỏi 2 Ðộng mạch nào khống cấp máu cho mặt ngoài bán cầu: 55
Câu hỏi 3 Ðộng mạch nào không tham gia cấu tạo đa giác ÐM Willis: 55 Câu hỏi 4 Các xoang tĩnh mạch ở vòm sọ và nền sọ chủ yếu đổ vào: 55
Ðáp án 56
Ðộng mạch đầu mặt cổ 56
Trang trước | Trang sau 56
Ðộng mạch cảnh trong ( a carotis interna ) 56
- ở đoạn cổ: động mạch cảnh trong không có ngành bên nào 57
Trang trước | Trang sau 59
Ðộng mạch đốt sống ( a vertebralis ) 60
Trang trước | Trang sau 60
Vòng Ðộng mạch não ( đa giác Willis ) 60
Trang trước | Trang sau 62
Những nhánh vỏ não 62
Trang trước | Trang sau 65
Trang trước | Trang sau 66
Ðộng mạch mạch mạc ( a choroidae ) 66
Trang 4Chọn câu trả lời đúng nhất 67
Câu hỏi 3 Câu nào sai: 68
Câu hỏi 4 Câu nào sai (về động mạch cảnh trong): 68
Câu hỏi 8 Ðộng mạch màng não giữa là nhánh bên của: 70
Câu hỏi 9 Chọn câu đúng nhất: 70
Câu hỏi 10 Tất cả các thành phần trong hộp sọ được cung cấp máu bởi: .70
Ðáp án 71
Giải phẫu tim 71
Trang trước | Trang sau 71
Vị trí 71
Tim có 3 mặt, một đáy và một đỉnh 72
Trang trước | Trang sau 73
Trang trước | Trang sau 78
Hình thể trong 78
Trang trước | Trang sau 81
Các tâm thất: 82
Trang trước | Trang sau 84
Các tâm nhĩ: 84
Trang trước | Trang sau 86
Cấu tạo của tim 86
2 Bao thanh mạc 91
3 Các túi bịt của màng tim 91
Trang trước | Trang sau 92
Ðộng mạch 92
Trang trước | Trang sau 94
Tĩnh mạch 95
Trang trước | Trang sau 96
Thần kinh 96
Trang trước | Trang sau 100
Ðối chiếu tim và huyệt nghe tim trên lồng ngực 100
Trang trước | Trang sau 101
Trang trước | Trang sau 104
Các thành phần nằm trong tầng dưới trung thất trước: 104
Trang trước | Trang sau 106
Các thành phần trong trung thất sau: 106
Trang trước | Trang sau 111
Trang trước | Trang sau 113
Trang trước | Trang sau 116
Ðộng mạch chủ bụng: 116
Trang trước | Trang sau 119
Tĩnh mạch chủ dưới: 119
Trang trước | Trang sau 120
Bạch mạch: 120
Trang 5Trang trước | Trang sau 121
Câu hỏi 2 Ðộng mạch thân tạng cho nhánh bên nuôi dưỡng cho: 123
Câu hỏi 3 Ðộng mạch gan tách từ: 124
Câu hỏi 4 Chọn câu đúng nhất: 124
Câu hỏi 6 ÐM nào nuôi tụy dưới đây tách từ động mạch MTTT: 125
Câu hỏi 7 Các tĩnh mạch dẫn máu từ tá tràng và tụy đổ vào: 125
Câu hỏi 8 Chọn câu đúng nhất Tĩnh mạch cửa được hình thành từ: 125
Câu hỏi 9 Tĩnh mạch cửađược hình thành ở : 126
Câu hỏi 10 Chọn câu đúng: 126
Trong đó: 126
Câu hỏi 13 Ðộngmạch nào nuôi tá tuỵ sau đây tách từ động mạch lách: .127
Câu hỏi 14 Ðộng mạch MTTT nối với động mạch thân tạng qua: 128
Câu hỏi 15 Ðộng mạch MTTD: 128
Câu hỏi 16 Tĩnh mạch dưới niêm mạc trực tràng dẫn máu về: 128
Câu hỏi 17 Ðộng mạch thận tách từ động mạch chủ bụng ở tương ứng: .129
Câu hỏi 18 Ðộng mạch nào không cho nhánh nuôi dưỡng niệu quản:129 Câu hỏi 19 Ðộng mạch nào sau đây không cấp máu cho bàng quang: .129
Câu hỏi 20 Ðộng mạch buồng trứng: 130
Câu hỏi 21 Ðộng mạch tử cung là nhánh của: 130
Ðáp án 130
Tổng hợp mạch máu và định khu chậu hông 131
Trang trước | Trang sau 131
Ðộng mạch chậu chung: 131
Trang trước | Trang sau 132
Ðộng mạch chậu ngoài ( a iliaca externa ): 132
Trang trước | Trang sau 133
Ðộng mạch chậu trong: 133
Trang trước | Trang sau 134
Trang trước | Trang sau 135
Các ngành tạng: 135
Trang trước | Trang sau 137
Trang trước | Trang sau 139
Các động mạch ở chi trên 139
Trang trước | Trang sau 141
Ðộng mạch cánh tay (arteria brachialis) 141
Trang trước | Trang sau 143
Ðộng mạch quay (arteria radialis) 143
Trang trước | Trang sau 145
Ðộng mạch trụ (arteria ulnaris) 145
Trang trước | Trang sau 146
Cung động mạch gan tay nông và sâu 146
Trang 6Trang trước | Trang sau 147
Sự nối tiếp của các động mạch chi trên 148
Trang trước | Trang sau 149
Hệ thống tĩnh mạch chi trên 149
Câu hỏi 1 Thành phần nào sau đây đi qua tam giác cánh tay tam đầu: .150
Câu hỏi 2 ở vùng nách thần kinh giữa nằm ở: 150
Câu hỏi 3 Ðộng mạch nách: 150
Trongđó: 151
Câu hoi 4 Câu nào sai: 151
Câu hỏi 6 Cơ tuỳ hành của động mạch cánh tay là: 152
Câu hỏi 7 Thành phần nào sau đây đi trong rãnh nhị đầu trong: 152
Câu hỏi 8 Câu nào sau đây sai: 153
Câu hỏi 10 Câu nào sau đây sai: 153
Câu hỏi 11 Ði cùng với thần kinh giữa là: 154
Câu gỏi 12 Bó mạch thần kinh gian cốt sau gồm: 154
Câu hỏi 13 Cung động mạch gan tay sâu được cấu tạo chủ yếu bởi: 154
Câu hỏi 14 Chi tiết nào sau đây không thuộc cung gan tay sâu: 155
Câu hỏi 15 Chi tiết nào không thuộc cung gan tay nông: 155
Ðáp án 156
Mạch máu chi dưới 156
Trang trước | Trang sau 156
Các động mạch ở chi dưới 156
Các ngành của động mạch đùi 157
Mạch máu chi dưới 159
Trang trước | Trang sau 159
Ðộng mạch khoeo (a poplitea) 159
Trang trước | Trang sau 161
Ðộng mạch chày trước (a tibialis anterior) 161
Trang trước | Trang sau 162
Ðộng mạch mu chân (a dorsalis pedis) 162
Trang trước | Trang sau 163
Ðộng mạch chày sau (a tibialis posterior) 163
Trang trước | Trang sau 165
Ðộng mạch chậu trong (a iliaca interna) 165
Trang trước | Trang sau 167
Tĩnh mạch chi dưới 167
Mạch máu chi dưới 167
Trang trước 167
Tĩnh mạch chậu ngoài 168
Ðổ vào có các tĩnh mạch sâu và nông của chi dưới 168
Câu hỏi 3 Thành phần nào sau đây không nằm trong ống cơ khép: 169
Câu hỏi 4 Chọn: 170
Trongđó: 170
Trang 7Câu hỏi 5 Chọn câu đúng: 170
Câu hỏi 6 Chọn: 171
Trongđó: 171
Câu hỏi 8 Chọn câu đúng: 172
Câu hỏi 9 ở vùng cẳng chấn thần kinh mác sâu đi cùng với: 172
Câu hỏi 10 ở vùng cẳng chân động mạch mác đi kèm: 172
Câu hỏi 13 Ðộng mạch mu chân: 174
Ðáp án 174
Trang 8Phôi thai tim và tuần hoàn thai nhi
Trang sau -
Quá trình phát triển phôi thai của tim:
Tim được phát sinh từ 2 nguồn nguyên thuỷ, họp thành một ống đứngdọc ở vùng cổ của bào thai, ngay trước ruột trước
Trong quá trình phát triển của tim, có 3 hiện tượng chính xảy ra: sự gấpkhúc ống tim nguyên thuỷ, sự phân chia tim ra làm 2 nửa và sự biến đổi củathành tim
Trang trước | Trang sau -
Sự gấp khúc của ống tim nguyên thủy:
Sau khi hình thành, ống tim nguyên thuỷ có những thay đổi về kích thước
và phân đoạn; tim có những chỗ phình và chỗ hẹp:
- Chỗ phình ( kể từ trên xuống dưới ):
+ Hành động mạch ( bulbus arteriosus ): là phần đầu của các thân mạch
từ tim đi ra
+ Tâm thất nguyên thuỷ ( ventriculus ): Sau này trở thành các tâm thất + Tâm nhĩ nguyên thuỷ ( atrium ): Sau này trở thành các tâm nhĩ
+ Xoang tĩnh mạch ( sinus venosus ): Là nơi các thân tĩnh mạch tập trung
đổ vào tim
- Chỗ hẹp :
+ Eo Haller : nằm giữa hành động mạch và tâm thất nguyên thuỷ
Trang 9+ Lỗ nhĩ - thất nguyên thuỷ ( foramen atrioventriculare ): nằm giữa tâmnhĩ và tâm thất nguyên thuỷ.
+ Chỗ thắt giữa tâm nhĩ nguyên thuỷ và xoang tĩnh mạch
Hình 48 ống tim ( nhìn nghiêng)
1 Khoang phế mạc ngoài tâm mạc
2 Mạc treo sau tim
3 ống tim
Vì phát triển trong một xoang ngắn, nên tim phải gấp khúc lại Khi gấpkhúc thì phần dưới của ống tim ( bao gồm xoang tĩnh mạch và tâm nhĩ nguyênthuỷ ) sẽ bị đẩy ra sau và lên trên Còn phần trên ( bao gồm hành động mạch vàtâm thất nguyên thuỷ ) sẽ bị đẩy ra trước và xuống dươí Vì vậy sau khi tim gấpkhúc ta thấy ở phía trước: hành động mạch ở trên và tâm thất ở dưới Còn tâmnhĩ và xoang tĩnh mạch thì bị lấp ở phía sau Tâm nhĩ lại phát triển thêm ra trước
và ở 2 bên hành động mạch, tạo thành hai tiểu nhĩ ( auricula )
Trang trước | Trang sau -
Sự phân chia tim ra làm hai nửa:
Tim lúc phôi thai chỉ là một ống được phân chia ra hai nửa do sự phân đôicủa lỗ nhĩ thất và sự hình thành các vách ngăn
Trang 10 Sự chia đôi của lỗ nhĩ thất ( foramen atrioventriculare ):
Lỗ nhĩ thất nguyên thuỷ là một khe dài Ðến tuần lễ thứ 4 của bào thai,thì phần giữa của khe thắt hẹp lại, do hai bờ khe phát triển xích lại gần nhau rồidính chặt vào nhau, tạo thành vách trung gian ( septum intermedium ) Váchnày chia lỗ nhĩ - thất nguyên thuỷ thành hai lỗ ( phải và trái ) ngăn cách hẳnnhau
- Vách thứ phát ( septum secundum ): tách ra từ thành trước trên củatâm nhĩ, đối diện với vách tiền phát
Hình 49 Sự tạo thành xoang ngang
7 Tâm nhĩ nguyên thủy
8 Mạc treo tim sau
9 Xoang ngang
10 ÐM chủ nguyên thủy bên phải
Click chuột vào ảnh để phóng to
Hai vách này tiến lại gần nhau nhưng không dính hẳn vào nhau, vách tiềnphát ở bên trái, vách thứ phát ở bên phải; vì vậy trong thời kỳ bào thai máu vẫn
Trang 11từ tâm nhĩ phải lách qua khe giữa hai vách để sang tâm nhĩ trái Khi thai nhi rađời và bắt đầu thở thì áp lực của máu ở tâm nhĩ trái cao hơn ở tâm nhĩ phải, nênhai vách dính chặt vào nhau và ngăn cách hẳn hai tâm nhĩ để lại dấu vết gọi là
hố bầu dục ( fossa ovale ) Vì vách tiền phát hình thành trước và phát triểnnhanh hơn, nên hố bầu dục ở gần thành trước của các tâm nhĩ hơn ở thànhsau
Click chuột vào ảnh để phóng to
Hình 50 -1 Sự tạo thành vách trung gian
A: Lồi viền nội tâm trước khi tạo thành vách tiền phát
B Lồi viền nội tâm dính liền ở giữa và tạo nên vách trung gian
C Vách tiền phát
Trang 12
Click chuột vào ảnh để phóng to.
Trang 13 Sự hình thành vách liên chủ - phổi:
Hành động mạch ( bulbus asteriosus ) ở bào thai, khi từ tâm thất đi rađược một đoạn, thì chia làm hai động mạch chủ lên ( aorta ascendens ) Haiđộng mạch này đi lên phía đầu, rồi vòng xuống thành hai vòng cung ( cung độngmạch thứ nhất ) để trở thành hai động mạch chủ xuống ( aorta descendens ).Ngoài ra hai động mạch chủ lên và hai động mạch chủ xuống còn được nối vớinhau bởi 5 cung động mạch nữa, gọi là các cung thứ 2, 3, 4, 5, 6 Cung thứ 6phát nguyên ở ngay hành động mạch Hành động mạch được chia đôi thành:động mạch phổi và động mạch chủ Các cung động mạch cũng biến đổi đi tạothành các cuống mạch lớn của tim
Click chuột vào ảnh để phóng to
Hình 51 Cắt ngang các tâm nhĩ( mũi tên chỉ hướng máu từ xoang tĩnh mạch qua lỗ liên nhĩ sang tâm nhĩ trái )
1 Vách thứ phát
2 Lỗ liên nhĩ ( Botal )
3 Tâm nhĩ phải
7 Khoảng gian vách van
8 Van trái của xoang tĩnh mạch
9 Tâm nhĩ trái
Trang 144 Van phải của xoang tĩnh mạch
Sự phân đôi của hành động mạch: hành động mạch được phân làm đôi,động mạch chủ ( aorta ) và động mạch phổi ( a.pulmonaris ) bởi vách liên chủ -phổi ( còn gọi là vách động mạch chủ - septum aorticum ) Vách liên chủ - phổiphát triển từ trên xuống dưới ( tới quá chỗ hành động mạch đổ vào tim ) tới tận
bờ trên của vách dươí ( septum inferius ) và dính vào vách đó Nên vách liênthất có hai phần: phần màng do vách liên chủ - phổi tạo nên, và phần cơ dovách dưới tạo nên
Sự biến đổi của các cung mạch: Vách liên chủ - phổi chia hành độngmạch làm hai nửa: nủa trước trở thành động mạch phổi đi từ tâm thất phải (ventriculus dexter ) ra và liên tiếp với cung động mạch thứ 6 bên trái rồi tách rahai ngành chạy vào hai phổi Nửa sau của hành động mạch trở thành động mạchchủ đi từ tâm thất trái ( ventriculus sinister ) ra, liên tiếp với động mạch chủ lêntrái ( aorta ascendens sinister ), và qua cung mạch thứ 4 để vòng xuống liên tiếpvới động mạch chủ xuống, tạo thành quai động mạch chủ ( arcus aortae ) lúctrưởng thành Riêng cung động mạch thứ 5 ở bên trái sẽ teo đi không để lại vếttích
Trang 15
Click chuột vào ảnh để phóng to.
Từ quai động mạch chủ sẽ tách ra:
Ðộng mạch cách tay đầu ( a.brachiocephalica ) do động mạch chủ lên( aorta ascendens ) bên phải tạo nên Ðộng mạch này tiếp tục chạy lên trên, sẽtrở thành động mạch cảnh chung phải ( a.carotis communis dextra ) và tách rađộng mạch dưới đòn phải ( lúc bào thai là cung động mạch phải thứ 4 ) Trongkhi đó các cung 5, 6 ( ở bên phải ) và động mạch chủ xuống (ở bên phải ) sẽ teo
đi, không để lại dấu vết
Ðộng mạch cảnh chung trái ( a carotis communis sinister ): do phầnđộng mạch chủ lên ở trên cung động mạch thứ 4 bên trái tạo thành
Như vậy, hai hệ thống mạch được hình thành: hệ chủ và hệ phổi Nhưng
ở bào thai, hai hệ thống thông nhau bởi chỗ nối giữa cung mạch thứ 6 và độngmạch chủ xuống, chỗ nối đó gọi là ống Botal ( ductus Botalli ) hay ống độngmạch Khi đứa trẻ ra đời, ống này teo đi, thành dây chằng động mạch ( lig.arteriosum ) Từ đó hai hệ chủ và phổi không thông với nhau nữa
Trang 16
Hình 53 -1 Hành động mạch và cáccung động mạch
Trang 17
-Ðầu trang Trang trước | Trang sau
Trang trước | Trang sau -
Sự hình thành các buồng tim và các van tim
Các tâm nhĩ ( atrium ):
Sau khi vách liên nhĩ được hình thành, hai tâm nhĩ phải và trái được ngăncách nhau và phình to ra; đồng thời xoang tĩnh mạch cũng phình to ra để tạonên thành tâm nhĩ Chỗ thắt hẹp giữa tâm nhĩ nguyên thuỷ và xoang tĩnh mạchbiến đi Các thân tĩnh mạch đổ thẳng vào tâm nhĩ bởi các lỗ riêng biệt Hai tĩnhmạch chủ trên và chủ dưới ( v cava sup et inf ) sẽ đổ vào tâm nhĩ phải; bốntĩnh mạch phổi ( v.pulmonaris ) sẽ đổ vào tâm nhĩ trái
Các tâm thất ( ventriculus ):
Lúc đầu, tim được cấu tạo bởi các sợi cơ nối với nhau rất thưa thớt, nêntrông toàn bộ như một thể sốp có nhiều hốc Khoang tim thông với các hốc đó.Nội mạc phủ khoang tim cũng lách vào các hốc Trong quá trình phát triển, cáclớp cơ ngoài dần dần nhiều và đặc xít lại, nhưng ở phía trong, các lóp cơ teo lai
và lúc thoái hoá sẽ tạo nên các cột cơ tim và các dây chằng van tim ( nối các cộtvào các van tim )
Các van tim ( valvula cordis ): Có 2 loại :
- Các van nhĩ thất ( valvula atrioventricilares ): các lá trong được tạo nênbởi những phần của vách trung gian nằm ở hai bên đường mà vách liên nhĩ vàliên thất dính vào vách này Các lá khác được tạo nên bởi lớp cơ ở phía trên cùngcủa cơ tim bị thoái hoá Mặt của các lá van đều có nội mạc bao phủ và có cácdây chằng van tim dính vào
- Các van động mạch : lúc đầu có 4 lá van ( lá trước, 2 lá bên và lá sau )hình tổ chim ( còn gọi là van sigma ) ngăn cách hành động mạch với tâm thấtnguyên thuỷ Khi vách liên chủ - phổi phát triển, chia hành động mạch làm đôithì đồng thời cũng chia đôi luôn cả hai lá van ở hai bên tạo thành 6 lá van, mỗiđộng mạch có 3 lá, động mạch phổi có một lá van trước và hai lá van bên, độngmạch chủ có hai lá van bên và một lá van sau
Trang 18
Trang trước | Trang sau -
Giải thích một số bệnh tim bẩm sinh:
Qua trình phát triển phôi thai của tim giúp ta hiểu được bệnh lý và giảiphẫu bệnh lý của một số bệnh bẩm sinh của tim
Bệnh thông liên nhĩ ( bệnh Bôtal ): Khi hai vách tiền phát và vách thứphát không phát triển tới sat nhau và không dính lại thì sau khi đứa trẻ rađời vẫn còn một lỗ thông giữa hai tâm nhĩ
Thiết đồ thể hiện thông vách liên nhĩ
(Click chuột vào ảnh để phóng to)
Thiết đồ thể hiện lỗ bầu dục bị bịt kín (Click chuột vào ảnh để phóng to)
Trang 19Thiết đồ thể hiện sự phát triển của vách
liên nhĩ (Click chuột vào ảnh để phóng to)
Thiết đồ thể hiện lố bầu dục hở (Click chuột vào ảnh để phóng to)
Bệnh hẹp động mạch phổi: Do vách liên chủ - phổi chia đôi hành độngmạch không đều Thường động mạch phổi hay bị hẹp
Bệnh thông liên thất ( bệnh Roger ): do vách dưới không phát triển tới sátvách trung gian hay do vách liên chủ - phổi không phát triển xuống tới tận
bờ trên vách dưỡi, nên để lỗ thông giữa hai tâm thất
Bệnh còn ống động mạch: ống động mạch hay ống Botal là ống thônggiữa động mạch phổi với động mạch chủ lúc còn bào thai Khi đứa trẻ rađời, ống động mạch này đáng lẽ phải teo đi, nếu không teo sẽ gây nênmột ống thông giữa động mạch chủ và động mạch phổi làm cho máu cuảđộng mạch phổi pha lẫn máu của động mạch chủ
ỐNG thông động mạch (tắc lại) sau khi sinh
Trang 20(Click chuột vào ảnh để phóng to)
Các bệnh phối hợp: Thường các dị dạng không xảy ra đơn độc mà hay kếthợp với nhau tạo thành các hội chứng Có 2 hội chứng hay gặp là::
- Tam chứng Fallot gồm có:
+ Thông liên thất
+ Ðộng mạch phổi bị hẹp
+ Tâm thất phải to ra
- Từ chứng Fallot gồm có 3 dị dạng trên cộng thêm một chứng nữa làđộng mạch chủ nằm ở giữa vách liên thất, vừa thông với tâm thất phải, vừathông với tâm thất trái
Chọn câu trả lời đúng
===================================
Câu hỏi 1 Sự tồn tại lỗ thông liên nhĩ là do:
a) Sự tiêu đi của phần giữa vách thứ phát
b) Sự tiêu đi của phần giữa vách nguyên phát
c) Sự phát triển không đầy đủ của vách thứ phát
d) a và b đều đúng
e) a, b, c đều đúng
Trang 21Câu hỏi 3 Máu của thai:
a) Trộn lẫn giữa máu đỏ và máu đen nhiều lần
b) Ðỏ nhất ở phần đầu của thai
c) Trao đổi khí ở nhau thai
Ðại cương hệ tuần hoàn
Trang trước | Trang sau -
Trang 22Các khái niệm chung:
Hệ tuần hoàn gồm có:
- Tim là cơ quan trung ương, co bóp để hút và đẩy máu
- Các mạch máu từ tim ra ngoài và từ ngoài về tim
Sự phân loại các mạch máu
Các mạch máu được chia thành:
Các động mạch:
Ðộng mạch là các mạch đưa máu từ tim đến các cơ quan ( kể cả phổi ).Mạch máu càng đi xa tim, càng phân nhỏ ra Các động mạch đập theo nhịp cobóp của tim Máu trong các động mạch thuộc hệ chủ có máu đỏ tươi, vì hồngcầu của máu có oxy Còn máu thuộc về hệ động mạch phổi thời đỏ sẫm, vì có ítoxy và nhiều CO2 Nhiều nguồn động mạch có thể cung cấp máu cho một vùng
cơ hay cho một tạng Do đó chỗ nào có nhiều cơ, thường có các động mạch đếnphân nhánh đối với nhau, tạo thành các vòng nối động mạch ở các tạng, cácđộng mạch phân nhánh thành các động mạch ngoài tạng và động mạch trongtạng, chạy sâu vào trong thành các tạng Các nhánh nhỏ nhất của động mạch ởtrong các tạng có thể tiếp nối rất ít và được coi như không tiếp nối với nhau.Nên động mạch này được gọi là động mạch tận ( ví dụ: các nhánh của độngmạch lách, động mạch ruột )
Ðộng mạch chủ và động mạch phổi , ở nơi xuất phát, có các van ( van tổchim ), làm cho máu không trở về tim
Các tĩnh mạch:
Các tĩnh mạch đưa máu từ cơ quan về tim Các nhánh nhỏ tập trung dầnthành các tĩnh mạch lớn Cuối cùng, có 2 tĩnh mạch lớn: tĩnh mạch chủ trên vàtĩnh mạch chủ dưới đổ về tim Tĩnh mạch thường ở sâu, đi kèm theo động mạch.Các động mạch nhỏ thường có 2 tĩnh mạch kèm theo Các động mạch lớn chỉ có
1 tĩnh mạch đi kèm ở lớp tổ chức mỡ dưới da, chỉ có các tĩnh mạch nông khôngkèm theo động mạch
Tĩnh mạch có các van, nhất là ở vùng dưới của tim Các van tĩnh mạchngăn máu không để máu chảy trở lại và chảy ngược lên, để về tim Nếu van hở,thì gây giãn tĩnh mạch
Các mao mạch:
Trang 23Các mao mạch là các mạch máu rất nhỏ ( đường kính từ 5 đến 40 ) Cácmao mạch nối với nhau thành mạng lưới Mạng lưới mao mạch được phân bốrộng rãi trong toàn bộ cơ thể ( hệ cơ, hệ xương, trong các thành mạch máu vàdây thần kinh ) Lưới mao mạch nối các động mạch và các tĩnh mạch với nhau.
Ðại cương hệ tuần hoàn
Trang trước | Trang sau -
Cấu tạo của thành mạch
Thành mạch máu có 3 lớp:
- Lớp trong ( tunica interna ): gồm các tế bào nội bì và các sợi liên kếtđàn hồi, tạo nên lớp niêm mạc lát ( endothélium ), phủ lên các van của độngmạch hoặc tĩnh mạch
- Lớp giữa ( tunica media ): gồm các sợi cơ trơn và các sợi liên kết đànhồi
+ ở các động mạch lớn, lớp giữa dày hơn, gồm nhiều thớ cơ trơn ở cácđộng mạch nhỡ và nhỏ, các vòng thớ cơ trơn nhiều lên, các sợi đàn hồi ít hơn
Do đó, các động mạch có thể co thắt hoặc nở giãn; khi bị đứt, động mạch khôngthể tự xẹp được, ta phải thắt động mạch
+ ở các tĩnh mạch, lớp giữa mỏng hơn, gồm các cơ trơn có thớ dọc vàthớ vòng, và có nhiều sợi đàn hồi Khi bị đứt, các tĩnh mạch nhỡ và nhỏ có thể
tự xẹp xuống
- Lớp ngoài ( tunica externa ): gồm các sợi tổ chức liên kết đàn hồi Tronglớp ngoài, có các mạch ( vasa vasorum ) nuôi dưỡng các thành mạch và các sợithần kinh giao cảm làm co thắt mạch ( các sợi vân mạch ) và các sợi thần kinhcảm giác
Thành mao mạch không có các sợi cơ, mao mạch có thể nở giãn hoặc cothắt được Thành của một số mao mạch ( ví dụ mao mạch tim, gan, ) có cáckhoảng thủng, qua đó các tế bào nhu mô của tạng tiếp xúc trực tiếp với máu
Trang 24Các thành phần của máu, chủ yếu là huyết tương, thấm qua thành mao mạch vàcác kẽ gian bbào, tạo thành môi trường Trong môi trường đó, các tế bào thựchiện các hoạt động dinh dưỡng.
Ðại cương hệ tuần hoàn
Trang trước | Trang sau -
Vòng tuần hoàn máu
Hệ tuần hoàn máu gồm 2 vòng:
- Vòng tuần hoàn lớn gồm:
+ Ðộng mạch chủ từ tim đi ra và phân nhánh đến các cơ quan
+ Hai tĩnh mạch chủ ( trên và dưới ) đưa máu từ các cơ quan về tim
- Vòng tuần hoàn bé gồm:
+ Ðộng mạch phổi đưa máu từ tim lên phổ
+ Các tĩnh mạch phổi đưa máu từ phổi về tim
Máu trong động mạch phổi màu đỏ sẫm, vì có cacboxyhemoglobin; máutrong các tĩnh mạch phổi màu đỏ hồng, vì có oxy hemoglobin
Sự thực, chỉ có một vòng tuần hoàn ( tuần hoàn đóng kín ) Máu từ tâmthất trái chảy vào động mạch chủ, tới các cơ quan Rồi qua các tĩnh mạch chủ,
về nhĩ thất và chạy xuống tâm thất phải Rồi từ đấy chạy lên phổi ( động mạchphổi ) và quay về nhĩ thất trái (tĩnh mạch phổi), để rồi chạy xuống tâm thất trái
Trang 25
Ðại cương hệ tuần hoàn
Trang trước | Trang sau -
Quy luật về đường đi của các động mạch:
Ðộng mạch đến cơ quan theo đường ngắn nhất
Tuy vậy, vị trí bào thai của tạng có vai trò quyết định trong sự phân phốicủa động mạch Ví dụ: ở bào thai, tinh hoàn ở 2 bên cột sống trong vùng thắtlưng và ở người lớn tinh hoàn nằm trong bìu Ðộng mạch nuôi tinh hoàn tách từđộng mạch chủ, còn bìu do các lớp của thành bụng tạo nên khi chĩu xuống, thì
do các động mạch đùi cấp máu
Các động mạch nằm ở mặt gấp của cơ thể
Do đó, động mạch được bảo vệ tốt Ví dụ: các mạch máu ở chi trên ở mặt trước Ðộng mạch đùi ở mặt trước, còn các mạch máu khác ở chi dưới thì ởmặt sau
Các động mạch được bảo vệ trong các màng và các ống, tạo nên bởixương, cơ và gân
Nếu các mạch được bảo vệ tốt, thì ít khi bị ép và tổn thương
Các động mạch lúc đến các nội tạng phải qua mặt trong hay mặt lõm củatạng
Rốn tạng hướng về động mạch chính ( ví dụ rốn thận, rốn gan hướng về độngmạch chủ )
Ðộng mạch thích nghi với chức phận từng cơ quan
ở các cơ quan phải hoạt động nhiều, các động mạch tách ra nhiều nhánhtiếp nối với nhau thành các lưới mạch (ví dụ ở các khớp xương) hoạc tạo nên cáccung mạch (ví dụ ở thành các tạng tiêu hoá)
Cỡ của động mạch tuỳ thuộc vào chức phận của tạng ( ví dụ: động mạchgiáp lớn hơn động mạch thanh quản )
Trang 26Các động mạch chạy vào các tuyến nội tiết thường bắt nguồn ở nhiều nơi( ví dụ các động mạch tuyến giáp tách ở động mạch cảnh ngoài và động mạchdưới đòn ).
Ðại cương hệ tuần hoàn
Trang trước | Trang sau -
Quy luật phân nhánh trong các cơ quan:
- Trong xương: Ðộng mạch nuôi xương đi vào thân xương Ngoài ra còn
có các động mạch từ màng xương (cốt mạc) vàtừ các đầu xương đến nuôixương
- ở khớp: Trong các dây chằng, mạch máu đi dọc theo các sợi liên kết vàthẳng góc với trục cử động của khớp
- Trong cơ: Mạch máu chạy song song với các bó sợi cơ và tách ra cácnhánh thẳng góc với bó sợi đó
- Trong tạng có phân thuỳ : Mạch máu đi vào trung tâm của tạng và sau
đó, phân nhánh vào các thuỳ
- Trong thành tạng hình ống: Nói chung các mạch máu chạy song song theo chiều của thành ống, rồi phân nhánh thẳng góc với các thớ của
thành tạng
Ðại cương hệ tuần hoàn
Trang trước | Trang sau
Trang 27-Tuần hoàn bên
Khi luồng máu bị nghẽn ( vì tắc mạch, thắt mạch, hay tổn thương mạch ),thì máu sẽ theo các nhánh nối để xuống các bộ phận ở dưới chỗ nghẽn Ðồngthời ở chỗ tổn thương sẽ sinh ra:
- Các mạch máu nối liền các đầu của động mạch hay tĩnh mạch với nhau
- Tuần hoàn bên hay phụ cận là một đặc tính thích nghi quan trọng của
cơ thể, để đảm bảo cung cấp máu được liên tục, khi mạch máu bị tắc
Ðại cương hệ tuần hoàn
Trang trước | Trang sau -
Tuần hoàn của rau và thai
Tuần hoàn thai gắn liền với tuần hoàn rau Rau cùng phát sinh ở một tếbào với phôi, là cơ quan trao đổi giữa người mẹ và thai; nên rau đảm nhận tất
cả chức năng đời sống mà thai chưa đủ năng lực Sự trao đổi oxy và chất dinhdưỡng đều diễn ra ở rau ( chủ yếu là do thẩm dịch )
Trang 28
Máu chuyển oxy và chất dinh dưỡng từ rau vào thai qua tĩnh mạch rốn.Tĩnh mạch rốn chảy vào tĩnh mạch chủ dưới:
- Trực tiếp qua ống arantius
- Qua tĩnh mạch cửa vào gan, rồi qua các tĩnh mạch trên gan
Như vậy, máu trong tĩnh mạch chủ dưới là máu hỗn hợp, gồm máu củatĩnh mạch rốn ( máu có nhiều oxy ) và máu của các tĩnh mạch ở phần dưới cơthể ( máu có ít oxy )
Tĩnh mạch chủ dưới chảy vào tâm nhĩ phải, cùng với xoang vành tim, vànhất là cùng với tĩnh mạch chủ trên ( tĩnh mạch này trái lại, mang toàn máu tĩnhmạch ít oxy từ phần trên cơ thể tới ) ở tâm nhĩ phải, một phần lớn máu qua lỗbầu dục ( lỗ Botal ) vào tâm nhĩ trái và trộn lẫn với máu ở đó, còn một phần nhỏxuống tâm thất phải Từ tâm thất phải, máu chảy vào động mạch phổi: mộtphần nhỏ qua phổi ( vì phổi ở thai chưa hoạt động ), rồi theo tĩnh mạch phổi vềtâm nhĩ trái, còn phần lớn qua ống động mạch ( nối động mạch phổi và độngmạch chủ ) để vào động mạch chủ xuống ( nghĩa là sẽ cung cấp chủ yếu chonửa dưới cơ thể ) Máu từ tâm nhĩ trái đổ và tâm thất trái, rồi qua động mạch
Trang 29chủ để chủ yếu đi lên đầu và chi trên Như vậy, đầu được cung cấp máu cónhiều oxy và có nhiều thuận lợi nhất để phát triển hơn các bộ phận khác Tómlại, động mạch chủ thu thập toàn thể máu từ tâm thất trái và phần lớn máu từtâm thất phải nhờ ống động mạch.
Máu ở động mạch chủ được phân phối đến những bộ phận của thai, haytheo các động mạch rốn chảy về rau
Tóm lại, tuần hoàn của thai có những đặc điểm sau:
- Không có tuần hoàn phổi
- Máu thai nhi có ít oxy
- Không có máu ở động mạch thuần khiết, trừ tĩnh mạch rốn ( tĩnh mạchrốn có máu động mạch từ rau chạy vào thai, động mạch rốn bé hơn có máu tĩnhmạch từ thai về rau )
Ðại cương hệ tuần hoàn
Trang trước | Trang sau -
Tuần hoàn sau khi đẻ
Hình ảnh thể hiện tuần hoàn trước và Vòng tuần hoàn sau khi sinh
Trang 30sau khi sinh(Click chuột vào ảnh để phóng to) (Click chuột vào ảnh để phóng to)
Thiết đồ cắt dọc theo tim
(Click chuột vào ảnh để phóng to)
Tuần hoàn trong gan sau khi sinh(Click chuột vào ảnh để phóng to)
Ðẻ là một bước nhảy trong sự phát triển của cơ thể: Thai từ một môitrường ở tử cung ( với những điều kiện tương đối ổn định ), sang một môitrường khác tiếp xúc với thế giới bên ngoài ( với các điều kiện luôn thay đổi, nhưnhiệt độ, độ ẩm, gió lạnh, ánh sáng ) Do đó, sự chuyển hoá cũng như cáchthức dinh dưỡng và hô hấp đều thay đổi về căn bản Bộ điều hoà và bộ hô hấpđều bắt đầu hoạt động và các hoạt động đó biểu hiện chủ yếu ở sự tuần hoàn.Tuần hoàn rau chuyển sang tuần hoàn vĩnh viễn Khi thai nhi bắt đầu thở, cácmạch máu ở phổi giãn mạnh và đầy máu, lúc đó ống động mạch xẹp xuống, tịtlại trong vòng 8 - 10 ngày sau khi đẻ Hai động mạch rốn teo lại ( 2 - 3 ngày ),còn tĩnh mạch rốn teo lại chậm hơn ( 6 - 7 ngày ) Do phổi bắt đầu hoạt động,máu từ các tĩnh mạch phổi tràn vào tâm nhĩ trái, áp lực máu giữa hai tâm nhĩphải và trái bằng nhau, nên máu từ tâm nhĩ phải không qua tâm nhĩ trái nữa,cho nên lỗ bầu dục khép kín lại ( chậm hơn so với ống động mạch) Tuy vậy,trong nhiều trường hợp, lỗ bầu dục có thể duy trì trong suốt một năm đầu, nếucòn duy trì suốt cả đời thì sẽ gây nên bệnh tim bẩm sinh
Trang 31
-Ðầu trang Trang trước | Trang sau
Ðại cương hệ tuần hoàn
Trang trước | Trang sau -
Quai động mạch chủ: Gồm có các nhánh cung cấp máu cho đầu cổ, chitrên và cơ tim
- Hai động mạch vành trái và phải
- Ðộng mạch cánh tay đầu phải, gồm có 2 ngành: động mạch cảnh chungphải, động mạch dưới đòn phải
Trang 32- Các động mạch trung thất ( cấp máu cho màng ngoài tim )
Ðộng mạch chậu chung chia thành:
- Ðộng mạch chậu trong, cấp máu cho các tạng trong chậu và các thànhchậu ( mông, đáy chậu )
- Ðộng mạch chậu ngoài, cấp máu cho chi dưới
Trang 33
Ðại cương hệ tuần hoàn
Trang trước | Trang sau -
Hệ tĩnh mạch:
a) Các tĩnh mạch phổi
Từ các mao mạch, tập trung thành các tĩnh mạch tiểu thuỳ, tĩnh mạchphân thuỳ, tĩnh mạch thuỳ, rồi thành 4 tĩnh mạch phổi đi từ phổi đổ vào tâm nhĩtrái
b) Hệ tĩnh mạch chung Gồm có:
Tĩnh mạch chủ trên cùng với tĩnh mạch dưới đòn, hợp thành thân tĩnhmạch tay đầu Hai thân phải và trái họp thành tĩnh mạch chủ trên, rồi đổvào tâm nhĩ phải
Tĩnh mạch chủ trên chỉ nhận một nhánh bên là tĩnh mạch đơn lớn Haitĩnh mạch đơn bé, trên và dưới, đổ vào tĩnh mạch đơn lớn Tĩnh mạch đơn lớnnằm ở sườn phải cột sống thắt lưng, chui qua cơ hoành và ở trung thất sau,cong ra phía trước, thành 1 quai, ôm lấy cuống phổi phải và đổ vào tĩnh mạchchủ trên
Trang 34Không phải là tất cả máu tĩnh mạch được đưa thẳng về tim, qua hệ tĩnhmạch chủ Các tĩnh mạch bắt nguồn từ các mao mạch ở dạ dày, ruột, lách vàtuỵ, sẽ chảy vào tĩnh mạch cửa hay tĩnh mạch gánh ( vena portea ), để rồi vàogan ở gan, tĩnh mạch cửa sẽ phân nhánh thành các mao mạch nhỏ, và từ đótĩnh mạch trên gan được tạo nên và đưa máu về tĩnh mạch chủ dưới Tĩnh mạchgánh là một tĩnh mạch chức phận Nói chung, hệ gánh là một hệ mạch ( độngmạch hay tĩnh mạch ) được tạo nên bởi một mạch máu mà hai đầu gánh 2 mạngmao mạch.
Ðại cương hệ bạch huyết
Trang trước | Trang sau -
Ðại cương:
Hệ bạch huyết (systema lymphaticum) bao gồm:
- Ðám rối các mao mạch mà chúng bắt đầu bởi một đầu tịt trong các khoang tổchức trong hầu hết các mô của cơ thể và cuối cùng bạch huyết được đổ vào một
số tĩnh mạch nhất định
- Các mạch bạch huyết là những đám mô bạch huyết nhỏ, chắc nằm ở một sốtrên đường đi của các mạch bạch huyết Các hạch bạch huyết dẫn bạch huyếtqua một hoặc nhiều hạch trước khi tới đổ vào tĩnh mạch
- Những đám mô bạch huyết nằm trong thành ống tiêu hoá (mô thượng bì bạchhuyết) và trong tỳ, tuyến ức
Mao mạch bạch huyết tạo thành các lưới bạch huyết trong các khoang mô.Những mắt lưới của mao mạch bạch huyết cũng như khảu kính của chúngthường rộng hơn các mao mạch máu lân cận Một nét quan trong của nội mô là
ở chỗ thành mao mạch bạch huyết cho phép các chất có kích thước phân tử lớnhơn từ các khoang tổ chức tế bào thấm vào lòng mao mạch dễ dàng hơn nội môcủa thân mao mạch mạch máu Khi một mạch bạch huyết bị tắc thì gây phù nề ởnhững tổ chức mà mạch đó thu nhận bạch huyết và dịch phù nề có chứa nhiềuprotein
Trang 35Chất dịch trong mạch bạch huyết được gọi là dưỡng chấp
Mao mạch bạch huyết có ở trong hầu hết các mô của cơ thể, nhưng không xuấthiện ở các cấu trúc vô mạch như thượng bì, tóc, móng, giác mạc, khớp, một sốsụn và cũng không thấy ở não, tuỷ sống, tủy của tỳ và tuỷ xương
Các mao mạch bạch huyết hợp lại với nhau tạo nên các thân bạch huyết lớn hơn,những thân này chạy tới các vùng lân cận hoặc tới các hạch u hoặc tới các hạchbạch huyết Qui luật chung là hạch bạch huyết thường qua một hoặc nhiều hạchbạch huyết trước khi đổ vào máu
Nhưng cũng có ngoại lệ như các mạch bạch huyết của tuyến giáp trạng, củathực quản, các mạch bạch huyết chạy trong dây chằng vành và dây chằng tamgiác gan, chúng lại đổ trực tiếp vào ống ngực
Những mạch bạch huyết nông của da và các mạch nông thường đi kèm với cáctĩnh mạch nông và có các quan hệ với mạch bạch huyết sâu
Những mạch bạh huyết sau thương có liên quan chặt chẽ với các động mạch haytĩnh mạch ở sâu
Bạch huyết của cơ thể cuối cùng tập trung vào hai ống lớn: ống ngực và ốngbạch huyết phải Các ống này lại đổ vào tĩnh mạch cánh tay đầu trái và phải Hầu hết các mạch bạch huyết của hai bên cơ thể nối với nhau qua đường giữa Những mạch bạch huyết lớn được cấp huyết bởi một lưới mạch hay các mạchcủa mạch (vasa vasorum) và thường có một đám rối các mạch máu nhỏ đi kèmtheo Vì vậy khi thành của mạch bạch huyết bị viêm (lymphagitis) thì những đámrối mạch máu này bị xung huyết nên với những mạch bạch huyết nông tathường thấy những đường đỏ nổi lên ngay ở da
Các mạch bạch huyết có khả năng rất lớn trong việc phục hồi và tạo thànhnhững mạch màu sau tổn thương
Ðại cương hệ bạch huyết
Trang trước | Trang sau
Trang 36-
Mạch bạch huyết:
Cấu tạo của mạch bạch huyết
Thành của mao mạch bạch huyết chỉ gồm một lớp tế bào nội mô, cũng như lớpnội mô của thành mao mạch mạch máu nhưng màng đáy của mao mạch nội môthường không có
Các mao mạch hợp lại tạo thành các mạch bạch huyết lớn hơn, ở các mao mạchnày bên ngoài lớp nội mô còn có lớp mô liên kết mỏng
Thành của các thân bạch huyết lớn có 3 lớp áo như ở thành của các tĩnh mạchnhỏ:
- Lớp áo trong gồm các tế bào nội mô và một lớp mòng mô sợi
- Lớp áo giữa có một số sợi cơ trơn mà chủ yếu là cơ vòng
- Lớp áo ngoài gồm chủ yếu các mô sợi và một ít các sợi cơ trơn
Các ống bạch huyết khác với các tĩnh mạch nhỏ ở chỗ trong lòng ống có các van
Ðó là các van bán nguyệt và thường được sắp xếp từng đôi một Các van đượchình thành do sự gấp nếp của nội mô với lõi là tổ chức sợi Bờ tự do của vanquay vào trong lòng của mạch bạch huyết Những van này có tầm quan trọngđáng kể của cơ thể trong dòng chảy bạch huyết
ống ngực có cấu trúc tương tự như của các tĩnh mạch có kích thước trung bìnhmặc dù các sợi cơ của lớp áo giữa không nhiều lắm
Chuyển động của bạch huyết
Dòng bạch huyết chảy trong mạch bạch huyết từ những khoang mô qua cáchạch bạch huyết để tới các tĩnh mạch Sự chuyển động của dòng bạch huyết phụthuộc vào các yếu tố sau đây:
- áp lực lọc trong mô do sự lọc chất dịch từ các mao mạch mạch máu tạo nên
- Sự co bóp của những cơ ở xung quanh ép vào các mạch bạch huyết Hướngcủa dòng bạch huyết chảy do các van quyết định
- ở nơi mà một thân bạch huyết liên quan mật thiết với động mạch thì sự đậpcủa động mạch có thể tác động vào thành mạch bạch huyết trợ giúp cho dòngbạch huyết chảy
Trang 37- Các động tác thở và áp lực âm tính của các tĩnh mạch cánh tay đầu cũng là yếu
tố góp phần vào dòng chảy của bạch huyết
- Các sợi cơ trơn trong thành mạch bạch huyết đóng vai tròi nổi bật ở các đoạngần van, sự kích thích của thần kinh giao cảm kèm theo thân bạch huyết gâynên sự co thắt của mạch bạh huyết
Ðại cương hệ bạch huyết
Trang trước | Trang sau -
Hạch bạch huyết:
Hình thể:
Hạch bạch huyết thường nhỏ, có hình bầu dục hoặc hình hạt đỗ, nằm trênđường đi của các mạch bạch huyết
Mỗi hạch bạch huyết có một chỗ lõm ở một bên của hạch gọi là rốn (hilus) qua
đó các mao mạch vào hoặc ra khỏi hạch Các mạch bạch huyết đi thoát ra khỏihạch ở rốn hạch, còn những mạch đến hạch từ bờ ngoại vi của hạch
Trên thiết đồ qua hạch bạch huyết ta thấy hạch gồm có vùng vỏ (cortex) và mộtvùng xẫm mầu hơn gọi là vùng tuỷ (medulla), giữa hai vùng có một đường ranhgiới Vỏ hạch thường nằm ở ngoại vi của hạch, nhưng không có ở rốn hạch, ởđây tuỷ hạch lấn tới bề mặt của hạch Các hạch bạch huyết thường tập trungnhiều ở trung thất, ở thành bụng sau, trong các mạc treo ruột, ở chậu hông, ở
cổ và các đầu chi
Cấu trúc của hạch bạch huyết:
Hạch bạch huyết được cấu tạo bởi một khung gồm có bao (capsula), các bè(trabecula) và tổ chức lưới và bên trong khung đó là các đám tế bào limpho vàcác đại thực bào tự do
- Bao hạch chủ yếu gồm các sợi collagen và một số tế bào sợi non ở giữa các bósợi và các sợi đàn hồi (có nhiều trong lớp sâu của bao) Bao hạch phủ mặt ngoài
Trang 38của hạch, ở mặt sâu của bao tách ra các bè có cấu trúc giống bao của hạch Các
bè này tiến sâu vào bên trong hạch ở rốn hạch có một số mô sợi dầy ăn sâu vàotủy hạch
- Tổ chức lưới tạo nên những mắt lưới ở khắp nơi trong các khoang giữa vỏ hạch
và các bè Nhiều nơi như ở vỏ hạch, các hệ thống lưới rất khó nhận biết vì trongcác mắt lưới chứa rất nhiều các tế bào limpho ở nơi khác rễ nhận biết hơn vìtrong mắt lưới có rất ít các tế bào limpho, những nơi này cho phép hạch bạchhuyết đi qua rễ ràng hơn, ít bị cản trở và gọi là các xoang bạch huyết ở dướibao hạch thường không có các tế bào limpho, các mắt lưới của hệ lưới ở đây dễdàng nhìn thấy trong các xoang bạch huyết gọi là các xoang bạch huyết dướibao Những khoang này liên kết với các khoang tương tự nằm dọc theo các bè
Tổ chức lưới của hạch bao gồm các sợi lưới và các tế bào lưới
- Các tế bào ở trong các mắt của tổ chức lưới phần lớn là các tế bào limpho, còncác đại thực bào, những tế bào tự do trong tổ chức lưới thường thấy trong cácxoang bạch huyết ở vùng vỏ hạch, các tế bào tập trung dầy đặc và tạo thànhcác khối riêng biệt gọi là các nang bạch huyết
- Các mạch bạch huyết đến đi vào trong hạch ở nhiều vị trí thuộc ngoại vi củahạch Sau khi phân nhánh và tạo thành một đám rối dầy đặc trong bao củahạch, mạch đến mở vào trong xoang bạch huyết ngay dưới bao hạch Khi cácmạch đến vào hạch, các lớp của thành mạch biến mất trừ một lớp nội mô, lớpnày sẽ liên tiếp với tế bào viền quanh xoang bạch huyết
Các mạch bạch huyết đi bắt đầu từ các xoang bạch huyết của tủy hạch Dòngbạch huyết theo mạch bạch huyết đến đi qua đám rối của bao hạch để tới cácxoang của vỏ hạch rồi vào các xoang bạch huyết của tủy hạch, cuối cùng theocác mạch đi ra khỏi hạch ở rốn hạch
Ðại cương hệ bạch huyết
Trang trước | Trang sau -
ống ngực và ống bạch huyết phải:
Trang 39 ống ngực:
Là một ống dẫn bạch huyết lớn nhất của cơ thể, nhận bạch huyết của hầuhết cơ thể trừ nửa phải đầu, cổ, thành ngực phải, chi trên bên phải, phổi phải,nửa tim phải và mpptj phần mặt hoành của gan (do ống bạch huyết phải) ốngdài 38 ? 45 cm, bắt đầu từ bể dưỡng chấp ở gần bờ dưới của đốt sống ngực 12;cuối cùng đổ vào hội lưu tĩnh mạch (Pirogff) bên trái của nền cổ
Từ bể dững chấp, ống ngực chui qua lỗ động mạch chủ của cơ hoành, rồichạy lên trên qua trung thất sau, đi ở bên trái động mạch chủ ngực và bên phảicủa tĩnh mạch đơn phía trước cột sống ngực Các dây chằng dọc trước của cộtsống và các động mạch gian sườn phải cũng như các phần tận của các tĩnhmạch bán đơn và bán đơn phụ nàm ở phía sau ống ngực Thực quản nằm phíatrước ống ngực Giữa thực quản và ống ngực có ngách của màng phổi phải láchvào
Khi tới đốt sống ngực V, ống ngực chạy chếch sang trái, đi vào trung thấttrên và đi dọc bờ trái của thực quản ở đây ống ngực đi ở phía sau quai độngmạch chủ và động mạch dưới đòn trái ở bên trái ống ngực đi sát vào màng phổitrung thất bên trái Từ đó ống ngực đi tới cổ bằng cách vòng cong ra ngoàingang mức với mỏm ngang đốt sống cổ VII Vì đường đi ở nền cổ như vậy, nên
ở đây ống ngực tạo thành một quai nhô cao trên xương đòn độ 3 ? 4 cm ở nền
cổ ống ngực chạy trước động mạch và tĩnh mạch đốt sống, thân giao cảm, thânđộng mạch giáp cổ và các ngành của thân này ống ngực cũng chạy phía trướcdây thần kinh hoành và bờ trong của cơ bậc thang trước, nhưng ở phía sauđộng mạch cảnh chung thần kinh X và tĩnh mạch cảnh trong bên trái Cuối cùngống ngực quặt xuống phía trước của động mạch dưới đòn (đoạn trong cơ bậcthang trước) và tận hết bằng cách đổ vào hội lưu của động mạch dưới đòn vàtĩnh mạch cảnh trong trái ống ngực có đường kính khoảng 5 mm ở chỗ nguyên
uỷ của ống Càng lên trên, đường kính càng nhỏ dần ẩng có nhiều chỗ thắt giữacác chỗ thắt là các chỗ phình
Ðôi khi có thể thấy ở giữa ống ngực tách thành hai ống có kích thướckhác nhau Rồi ngay sau đó hai ỗng này lại hợp với nhau hoặc lại chia thànhnhiều nhánh, tạo thành như đám rối Thỉnh thoảng còn có thể gặp ở đoạn trênống chia thành ngành phải và trái Ngành trái tận hết bằng cách đổ vào hợp lưutĩnh mạch bên trái (như của ống ngực bình thường), trong khi đó ngành phải lại
đổ vào tĩnh mạch dưới đòn phải và liên quan với ống bạch huyết phải
ống ngực có nhiều van, thường là nhứng van đôi ở chỗ ống ngực đổ vàotĩnh mạch, bờ tự do của van này quay vào trong tĩnh mạch để chống lại sự tràongược của máu tĩnh mạch chaỷ vào ống
Trang 40 ống bạch huyết phải
ống bạch huyết phải (ductus lymphaticus dexter) là một ống ngắn, dài độ
1 cm, bắt đầu từ bờ trong cơ bậc thang trước ở nền cổ và tận hết bằng cách đổvào hội lưu tĩnh mạch bên phải ở lỗ đổ vào tĩnh mạch có hai van bán nguyệtlàm cho máu ở tĩnh mạch không tràn vào bạch huyết được
ống bạch huyết phải nhận bạch huyết từ nửa phải của đầu và cổ qua thâncảnh phải (truncus jugularis dexter); từ chi trên bên phải qua thân dưới đòn phải(truncus subclavius dexter), từ nửa phải của lồng ngực, phổi phải, phần phải củatim và một phần mặt hoành của gan qua thân phế quản trung thất phải (truncusbronchomediastinalis dexter) ẩng bạch huyết phải chỉ có ở 20% cá thể Thườnggặp hơn là có 3 thân riêng biệt, và cả 3 thân bạch huyết này đổ riêng rẽ vào chỗhội lưu tĩnh mạch bên phải
Ðại cương hệ bạch huyết
Trang trước | Trang sau -
Bạch huyết của đầu và cổ
Các bạch huyết ở đầu và cổ bao gồm các nhóm tận và nhóm nông Nhómtận liên quan mật thiết với bao cảnh và được gọi là nhóm cổ sâu Tất cả cácmạch bạch huyết của đầu và cổ đều đổ vào nhóm hạch này hoặc trực tiếp quacác nhóm hạch nông Từ các hạch cổ sâu, các mạch bạch huyết tạo thành thâncảnh (truncus jugularis) ở bên phải thân cảnh đổ trực tiếp vào hội lưu tĩnh mạch(của tĩnh mạch cảnh trong với tĩnh mạch dưới đòn phải) hoặc đổ vào ống bạchhuyết phải ở bên trái thân cảnh trái đổ vào ống ngực
Các hạch cổ sâu
Các hạch bạch huyết cổ sâu (nodus lymphaticus cervicalis profundus)nằm dọc theo bao cảnh Có thể phân chia thành hai nhóm: nhóm trên và nhómdưới