Nếu chúng ta có thể xem Bản Đại Tuyên ngôn các Quyền Tự Do năm 1215 là tài liệu đầu tiên được viết ra, khởi điểm cho những điều khoản khác sẽ được ghi vào Hiến Pháp Anh Quốc, có người cò
Trang 1HIẾN PHÁP VƯƠNG QUỐC ANH
Trang 2Hiến pháp vương quốc Anh
Hiến Pháp là văn kiện cơ bản xác định những quyền dân chủ và bình đẳng của người dân chung sống trong một Quốc Gia
Nói đến Anh Quốc, về tổ chức chính trị, là nói đến quê cha đất tổ của Đại nghị Chế (Parliamentary Government), khuôn mẫu của hầu hết các phương thức tổ chức Chính Quyền Tây Âu, cũng như Hoa Kỳ là nơi chôn nhau cắt rốn của Tổng Thống Chế, khuôn mẫu tổ chức hành pháp của một số lớn quốc gia trên thế giới, chúng tôi đã có dịp đề cập đến trong bài Tổng Thống Chế Hoa kỳ
Nhưng từ ngày Quốc Hội Anh đặt viên đá góc tường, nền tảng cho Đại nghị Chế với câu Nhà Vua ở trong Quốc Hội ( The King in Parliament ), chúng tôi đã có dịp nhắc đền trong bài Quốc Hội, phương thức tổ chức Hành Pháp ở Anh có nhiều diễn biến
Trang 3Do đó, một số nhà chính trị học đề nghị thay từ ngữ Đại Nghị Chế bằng Nội Các Chế ( Cabinet Government), một số khác bằng Thủ Tướng Chế ( Prime Government)
Sau đây chúng ta cùng nhau tìm hiểu về thể thức tổ chức Hành Pháp tại Anh Quốc cũng như lý do của những từ ngữ được đề nghị trên
I SƠ LƯỢC VỀ QUỐC HỘI LƯỠNG VIỆN.
Năm 1066 hoàng tộc Norman từ lục địa Âu Châu , vượt eo biển Manche qua chiếm hòn đảo Anh Quốc
Vua đặt quyền bính cai trị và luật lệ trên khắp tân vương quốc
Các lãnh chúa hàng năm phải nộp thuế cho vua
Không đầy hai thế kỷ sau đó, năm 1215, các lãnh chúa trong vương quốc, các nam tước ( baron) hợp nhau tại Runnynmede, gần Windsor, cùng đồng ý ký Bản Đại Tuyên Ngôn các Quyền Tự Do ( Magna Charta Libertatum) để đặt yêu sách đối với vua:
- Nếu vua muốn lấy thuế nhiều hơn đã được quy định trong những điều khoản được ký kết,vua cần phải được sự thỏa thuận của Đại Hội Đồng (Magnum Consilium)
Trang 4- Các nam tước cũng như những người dân tự do khác ( tức không phải dân nô lệ), vua không được đem ra xét xử bằng thẩm phám đoàn gồm toàn quan chức của vua, mà phải được thẩm phán đoàn dân sự xét hỏi, thẩm định và tuyên án
Nếu chúng ta có thể xem Bản Đại Tuyên ngôn các Quyền Tự Do năm 1215 là tài liệu đầu tiên được viết ra, khởi điểm cho những điều khoản khác sẽ được ghi vào Hiến Pháp Anh Quốc, (có người còn đi xa hơn cho rằng Bản Tuyên Ngôn Tự Do trên dựa vào tinh thần tự do của Bản Tổng Kết Luật Lệ và Phong Tục của Anh Quốc (Tractatus de legibus et Consuetudinibus Angliae của Glan Will khoản năm 1189), thì trái lại Đại Hội Đồng không thể được coi là khởi điểm cho Quốc Hội Anh
Các thành viên của Đại Hội Đồng là những nhân vật do vua trực tiếp chỉ định ( gồm những lãnh chúa cao cấp và những đấng bậc cao trọng trong giáo quyền).Như vậy Đại Hội Đồng không có tính cách đại diện dân cử của Quốc Hội, một trong ba điều kiện tiên quyết mà chúng tôi đã có dịp nói đến trong bài Quốc Hội
Đại Hội Đồng chỉ là Hội Đồng Tư Vấn của vua, có đặc tính như các tổ chức của thời các lãnh chúa, kiểu Hội Đồng Thượng Thẩm của Pháp ( Etats Généraux de Paris) hay các tổ chức Quốc Hội Âu Châu trong thời Quân Chủ Chuyên Chế lúc
đó
Đại Hội Đồng của Anh Quốc lúc bấy giờ là tổ chức tư vấn của vua, để góp ý kiến với vua trong nhiều việc như:
Trang 5- Bàn cãi những vấn đề quốc sự như đối ngoại, lập pháp, thuế má hay phụ cấp, cứu xét các đơn từ thỉnh nguyện, xét xử các vấn đề kiện tụng dân luật cũng như hình luật
- Một mặt , kể từ ngày Bản Đại Tuyên Ngôn các Quyền Tự Do ra đời, quyền hành của vua dần dà bắt đầu bị đặt điều kiện , mặt khác một vài lãnh chúa uy quyền rất ương ngạnh lắm khi hành động bất cần được sự chấp thuận của vua, như vụ lãnh chúa Simon de Monfort, vào năm 1265 bất cần vua đã tự ý đứng ra triệu tập hai kỵ
mã và hai thường dân ở mỗi thôn ấp ( borough) để thành lập Quốc Hội
Trước tình trạng không mấy sáng sủa đó, nhà vua thấy thay vì mỗi năm phải thu ngân sách từ các lãnh chúa, vua có thể liên lạc trực tiếp với các cộng đồng địa phương, có nguồn lợi dồi dào và bảo đảm hơn lãnh chúa
- Nhưng với sáng kiến vừa kể, một viễn ảnh mới được phát hiện.Các cộng đồng địa phương, làng xã, thôn ấp một mặt tuyên hứa bảo đảm ngân sách cho hoàng gia khỏi thiếu hụt, nhưng với điều kiện phải được cử người đại diện trực tiếp của họ trước hoàng gia để đạo đạt yêu sách và nhu cầu của họ.Cộng đoàn đại diện của các làng xã , thôn ấp tạo thành Hội Đồng có tính cách đại diện , được dân cử, khác với Đại Hội Đồng của vua cũng như nhiều hình thức Quốc Hội thời Trung Cổ
Như vậy sự liên hệ giữa vua và làng xã thôn ấp đã được bắt đầu vào thế kỷ 13
Trang 6Làng xã thôn ấp tại địa phương là những đơn vị động lực phát triển kinh tế, bảo đảm liên tục cho ngân sách hoàng gia, với tổ chức tự trị về hành chánh.Và như vậy
là đại diện của họ là Hội Đồng Đại Diện bên cạnh vua ở Westminster Nói cách khác, từ thế kỷ 13 như vừa nói, họ đã cử người vào Quốc Hội với ý nghĩa hiện đại của chúng ta
Còn nữa, theo gương của Simon de Monfort, năm 1295 vua Edward I, muốn cho Quốc Hội có nhiều đại diện của mọi tầng lớp quần chúng, đứng ra triệu tập Quốc Hội Kiểu Mẫu, gồm- thành phần các huân tước ( Lords),- các đấng bậc cao trọng trong tôn giáo (hai thành phần nầy được vua đứng ra chỉ định),- hai kỵ mã cho mỗi làng xã,- hai người dân tự do ( không phải dân nô lệ) cho mỗi thôn xóm hoàng gia
và đại diện các giáo sĩ hạ cấp
Nhưng Quốc Hội Kiểu Mẫu của vua Edward I kéo dài không được bao lâu.Bởi lẽ
từ nửa thế kỷ 14 trở đi, hai nhóm quân tước và đấng bậc cao trọng giáo sĩ bắt đầu
có những cuộc hợp riêng rẽ, vì có nhu cầu và lợi thú riêng thuộc giai cấp và giới chức của họ, tách rời nhóm đại diện làng xã thôn ấp, vì quyền lợi và nhu cầu của các nhóm khác biệt nhau
Như vậy Quốc Hội Kiểu Mẩu tự chia thành hai nhóm, nhóm Thượng Viện và nhóm Hạ Viện
Sự việc Quốc Hội trở thành Lưỡng Viện do những cuộc nhóm hợp riêng như vừa
kể bắt đầu từ năm 1351
Trang 7Khác với hình ảnh thông thường mà chúng ta thấy tại Quốc Hội các nước, Quốc Hội nhóm trong một thính phòng hình bán nguyệt, ở Quốc Hội Anh quốc Quốc Hội nhóm trong một thính phòng hình chữ nhật.Ở phía cuối phòng trên bậc cao là bàn của vị Xướng Ngôn Viên ( Speaker), phía dưới, thấp hơn là bàn của các vị Thư Ký.Bên phải của vị Xướng ngôn Viên là những dãy bàn của các vị đại biểu phe thân chính phủ.Dãy bàn thứ nhất dành cho các Bộ Trưởng hay nhân viên chính phủ
Phía trái của Xướng Ngôn Viên là những dãy ban dành cho những vị lãnh đạo các chính đảng đối lập Theo ngôn ngữ của người Anh, nếu đương kim chính phủ được gọi là Chính Phủ Hành Quyền ( Executive Government) , thì thành phần đối lập được gọi là Chính Phủ Trong Bóng Tối ( Shadow Government)
Trong Quốc Hội Chính Phủ Hành Quyền có nhiệm vụ đưa ra đường lối, chương trình chính trị cho đất nước, thì Chính Phủ Trong Bóng Tối cũng có nhiệm vụ phê phán và đưa ra những đường lối , dự án mới cho Chính Phủ trong tương lai để dân chọn lựa trong kỳ bầu cử tới
Do đó trong tinh thần dân chủ của người Anh, thành phần đối lập cũng cần thiết cho dân chủ không kém gì thành phần chính phủ đương nhiệm
Vì thế, phe đối lập luôn luôn được phe đương quyền kêu gọi đối thoại một cách kính cẩn: Các Ngài Phe Đối Lập ( Her Majesty Opposition)
Trang 8Trước nhiều vấn đề hệ trọng, việc Thủ Tướng Chính Phủ đương quyền tham khảo
ý kiến phe đối lập trước khi quyết định là thể thức hành pháp dường như bắt buộc
Trong các phiên họp tranh cãi tại Quốc Hội, vị đại biểu phát biểu ý kiến không trực tiếp nói thẳng với phía bên kia hay với một vị đại biểu khác đồng đảng với mình, mà luôn luôn quay về nói với vị Xướng Ngôn Viên, để vị nầy , sau khi thấu hiểu và thâu thập ý kiến của Quốc Hội, sẽ đến trình bày lại với vua
Và có lẽ do vị trí của phe thân chính phủ và phe đối lập ở bên phải và bên trái vị Xướng Ngôn Viên, mà từ ngữ hữu phái và tả phái phát xuất từ đó ( vì tầm hiểu biết về lịch sử của chúng tôi có hạn, mong các bạn độc giả , nhứt là các bậc đàng anh dạy bảo thêm cho, xin cám ơn)
Theo tục lệ, kể từ ngày các làng xã, thôn ấp cử người vào Quốc Hội, xác thực hơn
kể từ ngày Simon de Monfort gọi dân chúng ở thôn ấp ngồi vào Quốc Hội năm
1265, hay xác thực hơn nữa từ ngày Hạ Viện bắt đầu hoạt động, giữ vai trò chính yếu ( tính đến 1965 là đúng 700 năm), mọi dự án được đem ra bàn thảo trong Quốc Hội phải được đọc đi đọc lại đến 3 lần.Sỡ dĩ phải đọc lại đến 3 lần là vì các đại diện của Quốc Hội Simon de Monfort phần lớn là dân quê, nông dân mù chữ được chọn từ các thôn ấp.Thói quen đọc 3 lần đó, Quốc Hội Anh vẫn còn giữ đến ngày nay, mặc dù mục đích cũng như hoàn cảnh đã thay đổi:
- Lần thứ 1: Tường trình các dự án
Trang 9- Lần thứ 2: Quốc Hội bàn thảo chung sau khi nghe đọc lại, sau đó tùy theo lãnh vực của vấn đề, dự án sẽ được giao cho các Ủy Ban Chuyên Môn (Select Committees) cứ xét
- Lần thứ 3: Sau khi Ủy Ban liên hệ xem xét tường tận các dự án, Quốc Hội sẽ nhóm hợp phiên khoáng đại, trong đó Ủy Ban Chuyên Môn sẽ đọc lại một lần nữa nguyên bản của dự án cùng với những ý kiến và phương thức thực hiện để Quốc Hội biểu quyết
II - QUỐC HỘI, HIẾN PHÁP VÀ BẦU CỬ
Trong bài nói về Hiến Pháp, có lần chúng tôi đã trình bày : Nếu Anh Quốc là Quốc Gia tiền phong đặt khuôn mẫu và thể thức cho cả toà nhà Quốc Hội Dân Chủ cho các nước Tây Âu, thì đối với Hiến Pháp Anh quốc không phải là mẫu mực để các nước dân chủ Tây Âu bắt chước.Bởi lẽ Anh Quốc không có một Hiến Pháp được viết ra trên giấy trắng mực đen tất cả những điều khoản, nguyên tắt nền tảng
và thể thức tổ chức cho cơ cấu quốc gia như Hiến Pháp của các nước Tây Âu , kể
cả Hoa Kỳ
Nói như vậy không có nghĩa là Anh Quốc không có Hiến Pháp.Nói cách khác, các điều khoản của Hiến Pháp Anh Quốc không được ghi chép vào một bản văn duy nhứt, mà hàm chứa trong các văn bản được viết trải qua dòng lịch sữ thăng trầm của chính trị, xã hội , kinh tế của xứ sở:
Trang 10- Hàm chứa trong các điều khoản luật pháp của làng xã, thôn ấp, ngay cả trước khi hoàng gia Norman đến chiếm hòn đảo Anh, được gọi là Luật Pháp Thông Thường (Common Law),- hàm chứa trong các lời tuyên án của các vị thẩm phán ( Cases),- hàm chứa trong các cư xử theo thói quen, tập quán của dân chúng (consuetudinary law)
Như trên chúng ta đã đề cập là văn bản đầu tiên được viết ra một cách rõ rệt , khởi đầu cho một vài nguyên tắc của Hiến Pháp Anh là Bản Đại Tuyên Ngôn các Quyền Tự Do ( Magna Charta Libertatum), từ giữa thế kỷ 13, lúc các làng xã, thôn
ấp bắt đầu có đại diện trực tiếp với vua.Nói cách khác Hạ Viện bắt đầu mặc cả , đặt điều kiện với vua, biến những lời thỉnh nguyện thành những đòi hỏi , những dự
án luật , những đòi hỏi dân có quyền mà nhà vua phải nhượng bộ ( Bill of Rights):
Nếu nhà vua không ra sắc luật cho dân được quyền , Quốc Hội sẽ không phê chuẩn dự khoản thuế mà vua dự liệu cho ngân sách
Trong hai thế kỷ 15 và 16, nhiều cuộc chạm trán giữa Quốc Hội và Hoàng Gia đã đến độ căng thẳng, nhứt kà đối với Hoàng Gia Tudor.Sau cùng, căng thẳng đến độ các vị vua của Hoàng Gia Stewart nhiều lần định phủ quyết các quyết định của Quốc Hội, dựa vào truyền thống cố hữu
- Vua thay Trời trị dân ,- luật của vua là ý muốn của Trời ,- vua không bị luật lệ nào ràng buộc ( legibus solutus)
Trang 11Cuộc chạm trán còn kéo dài đến thế kỷ 17 - Năm 1628 vua Charles I đã phải chấp nhận Bản Văn Đòi Hỏi Các Quyền Lợi ( Bill of Rights),
- Và năm 1679 Sắc Luật Bảo Vệ Cơ Thể (Habeas Corpus Act) cũng được vua phê chuẩn , trong đó có điều khoản luật cấm bắt bớ giam cầm một cách vô cớ Ngoài
ra trong Bản Văn Đòi Hỏi Các Quyền Lợi được vua William và Hoàng Hậu Marie d`Orange ấn ký, vua và hoàng gia đều phải tuân giữ luật lệ như mọi người dân
Với hai sắc luật vừa kể, chúng ta có thể coi là Quốc Hội chiếm lấy quyền thượng đẳng của Quốc Gia trên cả Vua và Hoàng Hậu
Với Sắc Luật về Quyền Kế Vị (Act of Settlement) năm 1701, quyền thừa kế của Hoàng Gia không phải do thần quyền , mà do Quốc Hội quyết định
Bắt đầu từ thế kỷ 18 trở đi, nhà vua không còn được quyền phủ quyết các quyết định của Quốc Hội nữa Các dự án luật được đệ trình lên vua để vua ấn ký và trở thành luật đều được vua chuẩn y bằng những thành ngữ theo pháp ngữ cỗ, nói lên nguồn gốc Pháp Quốc Norman của Hoàng Gia:
- Nhà vua đồng ý ( le roi le veut)
- « Hãy thi hành như dự án luật muốn » ( soit fait come il est desiré)
Và nếu những dự án luật về ngân sách cho vua, thì vua sẽ phê chuẩn như sau :
Trang 12- « Vua cám ơn các con dân tốt lành của Ngài, chấp nhận lòng tốt của họ và như vậy Ngài chấp nhận »( Le Roi remercie Ses bons sujets, accepte leur bénévolence,
et ainsi le veut)
Ngoài ra những bản văn được viết ra một cách rỏ rệt như vừa trích dẫn kể trên với ngày tháng, Hiến Pháp Anh Quốc cũng hàm chứa nhiều bản tuyên án của các phiên tòa ( Cases)
- Bản Tuyên Án về Đặc Quyền của Hoàng Gia ( Case of Proclamations) năm 1611- hay Bản Tuyên Án Chống Lại Ngân Hàng Anh Quốc ( Bowles v Bank of England) về vấn đề tài chánh,- cũng như nhiều Bản Án về dân luật cũng như hình luật được người dân Anh coi là những điều khoản nguyên tắc của Hiến Pháp Do
đó, một cách nào đó, các vị thẩm phán được coi là những vị cố vấn cho Quốc Hội Lập Hiến , cũng như Quốc Hội Thường Nhiệm trong việc soạn thảo ra dự án cũng như trong việc quyết định luật pháp
Và sau cùng, những cách hành xử trong dân chúng theo tập tục, truyền thống cũng được người Anh coi là những điều khoản của Hiến Pháp để tổ chức xã hội của họ Việt Nam chúng ta có câu : Phép vua thua lệ làng hoặc
Quan có cần nhưng dân không vội,Quan có vội, quan lội quan đi
Ở phần trên, chúng ta có đề cập đến việc các làng xã, thôn ấp ngay từ thế kỷ 13 đã bắt đầu cử người đại diện trực tiếp và thường trực của mình trước hoàng gia, nếu
Trang 13vua muốn được dân chúng trả thuế để bảo đảm cho ngân sách hoàng gia khỏi thiếu hụt
Điều kiện của dân chúng là: Không cho dân chúng có đại diện, thì không trả thuế (no taxation without representation).Và nhà vua vì nhu cầu tài chính đã phải chiều
ý dân.Từ đó làng xã thôn ấp có quyền cử người đại diện trực diện với vua.Các người đại diện của dân , cùng với các huân tước, các đấng bậc cao trọng trong tôn giáo ( do vua chỉ định) hợp thành Quốc Hội Rồi vì nhu cầu và quyền lợi khác biệt, Quốc Hội duy nhứt lúc đầu đã tách ra thành Lưỡng Viện Quốc Hội
Nhưng chúng ta sẽ vấp phải lỗi lầm lớn, nếu chúng ta nghĩ rằng việc tuyển cử các đại biểu từ làng xã, thôn ấp có tính cách bầu cử đại chúng ( universal suffrage) như hiện nay.Trên thực tế, lúc đó các ứng viên cũng như cử tri đều bị giới hạn bởi nhiều khó khăn
Theo ước tính, lúc đầu những người có quyền bầu cử và ứng cử không quá 4% dân số.Để giới hạn quyền bầu cử, vua lật ngược lại câu đòi hỏi trên của dân: Không đóng thuế thì không có quyền được đại diện ( no representation without taxation)
Và những ai được coi là bảo đảm có khả năng đóng thuế, là những địa chủ, có đất đai ( theo quan niệm sở hữu thời trung cổ)
Bởi vì chỉ có địa chủ ( theo quan niệm vừa kể) mới có đất đai, có lợi tức hàng năm vững chắc, đáng được tin cậy để giao cho việc quản trị hành chánh địa phương, có
Trang 14khả năng vô tư để xử những vụ kiện tụng nhỏ tại địa phương ( process by jury) và hành xử quyền đại diện của mình tại Quốc Hội Wesminster một cách vô vị lợi
Nhiều người có những nguồn lợi khác, nhứt là trong thời gian kỹ nghệ Anh Quốc phát triển, không thiếu người đã trở thành giàu có gấp mấy lần địa chủ nhờ những nguồn lợi về thương mại và kỹ nghệ, vẫn không được quyền tuyển cữ và còn bị nghi ngờ là làm giàu bất chính, nếu nguồn tài lực của họ không biến thành sự giàu
có cụ thể bằng việc mua lấy đất đai ( landed property)
Và cũng vì phát triển kỹ nghệ mà một số thôn ấp bị dân chúng bỏ trống hay Thôn
ấp ( Rotten Boroughs), nhưng vẫn được có đại diện ở Quốc Hội, trong khi đó thì nhiều khu vực mới, nhứt là những làng mạc đông đúc dân cư chung quanh khu kỹ nghệ vẫn không được có đại diện.Một trong những Thôn ấp được huân tước Russell, đại diện cho nhóm cải cách Quốc Hội đưa ra, đó là trường hợp Old Sarum, chỉ còn có 3 địa chủ , vậy mà cũng có đại diện ở Quốc Hội.Nhiều trường hợp như vậy đã được đem ra bàn cãi ở Quốc Hội để sửa đổi.Với Sắc Luật Bảy Năm , năm 1715, rồi đến Sắc Luật về Quốc Hội năm 1911, nhiệm kỳ Quốc Hội được thu ngắn lại 5 năm
Với Sắc Luật Cải Tổ Qui Mô ( Great Reform Act) năm 1911, Quốc Hội phân chia lại lãnh thổ Anh Quốc thành nhiều đơn vị bầu cử mới, sau khi đã loại bỏ 56 Thôn
ấp được kiểm chứng
Trang 15Đối với phụ nữ, cho mãi đến năm 1832, thể chế tuyển cử Anh quốc vẫn còn giữ thái độ nam tôn nữ ty Năm 1832, với Sắc Luật Đại Cải Cách trước đó vẫn chưa cho phép phái nữ Anh Quốc được bỏ phiếu Phái nữ phải chờ mãi đến năm 1918, với Sắc Luật Đại Diện Dân Chúng (Representation of the People Act) mới được đi
bỏ phiếu, nếu họ có trên 30 tuổi
Và năm 1928, với Đạo luật Nội Quy các cô 21 tuổi lần đầu tiên mới được đi bỏ phiếu
III - HOÀNG GIA, CHÍNH PHỦ VÀ DÂN CHÚNG
Qua những dòng lịch sử vừa trình bày trên, chúng ta thấy rằng quyền thế của vua càng ngày càng bị giảm bớt đi song song và ngược chiều với tiến trình lớn mạnh quyền lực của Quốc Hội
So với uy quyền của các Vị Nguyên Thủ Quốc Gia tại các nước theo Đại Nghị Chế, quyền hành của vua ( hiện nay , của Nữ Hoàng Elisabeth) Anh Quốc bị thu gọn lại rất nhiều, nhưng uy thế của vua được dân chúng rất kính nể và thương mến
Nhà vua hiện là biểu tượng cho sự đoàn kết quốc gia, cũng như tượng trưng cho sự hợp tác trong khối Thịnh Vượng Chung ( Commonwealth)
Đặc quyền mà Hiến Pháp qui định cho vua hiện nay được ghi như sau:
Trang 16Quyền được hỏi ý kiến, quyền kích lệ, cảnh giác những mối nguy hiểm đối với bất
cứ quyết định nào ( The right to be consulted, the right to encourage, the right to warn)
Hiện nay Hoàng Gia vẫn có một Hội Đồng Tư Vấn ( Privacy Council) gồm 300 thành viên.Nhưng trừ những cuộc Đại Lễ hoặc các cơ hội đặc biệt, ít khi Hội Đồng hội hợp đủ mặt.Trong các thành viên Hội Đồng Tư Vấn, một số người giữ chức vụ tương đương với nhiệm vụ của các Bộ Trưởng Chính Phủ.Hội Đồng Tư Vấn đã bắt đầu làm việc bên cạnh vua từ khoảng năm 1600 trở đi
Năm 1701 Sắc Luật về Quyền Kế Vị cấm không cho vua chọn thành viên của Hội Đồng Tư Vấn từ các đại diện dân cử làng xã thôn ấp.Nói cách khác, chọn từ các đại biểu của Hạ Viện, sợ vua có thể mua chuộc họ để thao túng, lũng đoạn Quốc Hội.Một tu chính án cho sắc luật trên được biểu quyết năm 1707 đồng thuận cho vua được chọn thành viên của Hội Đồng Tư Vấn giữa các Hạ Nghị Sĩ, nhưng những người được chọn đương nhiên ( ipso facto) sẽ bị mất chức Dân Biểu Quốc Hội
Muốn trở thành Nghị Sĩ lại, họ phải trãi qua một cuộc bầu cử trở khác.Và những sắc luật tu chính kế tiếp năm 1919, 1926 và 1936 ( Reelection of Ministers Act) bãi bỏ điều khoản bó buộc vừa được nêu lên.Các vị Bộ trưởng cũng như các nhân vật trong Chính Phủ vẫn là Nghị Sĩ của Hạ Viện ( một đặc tính của Đại nghị Chế, ngược với nguyên tắc phân chia quyền lực trong Tổng Thống Chế Hoa kỳ)