MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong bất kỳ chế độ xã hội nào, vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước luôn được các giai tầng xã hội quan tâm hàng đầu. Quyền lực chính trị là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp, trong đó, vấn đề quyền lực nhà nước được coi là trung tâm. Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực chính trị có hiệu quả sẽ là điều kiện để thực hiện được những mục đích đã đề ra, mang lại hạnh phúc và nhiều lợi ích nhất cho nhân dân, đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình nắm giữ, tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị thường tiềm ẩn rất nhiều những nguy cơ khác nhau như tham nhũng, lãng phí, lạm quyền… có thể dẫn tới tác động tiêu cực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ở các nước tư bản trên thế giới, trải qua nhiều thăng trầm cách mạng trong lịch sử, vấn đề kiểm soát được hình thành trong cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị như một vấn đề tất yếu. Đặc biệt, Vương quốc Anh là nước điển hình theo chế độ quân chủ đại nghị đã xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm hướng tới sự minh bạch trong hoạt động. Ngài ra, sự kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan quyền lực là một yêu câu cần thiết trong xã hội đương đại hướng tới một xã hội phát triển. Không chỉ dừng lại ở nguy cơ tiềm ẩn mà nhiều nguy cơ trong quá trình cầm quyền đã phát sinh thành những tai họa, tệ nạn tiêu cực trên thực tế làm ảnh hưởng rất lớn tới uy tín, danh dự của cán bộ, công chức, các cơ quan nhà nước, làm giảm hiệu quả của bộ máy nhà nước, gây hậu quả xấu đến công cuộc quản lý và xây dựng đất nước, lợi ích và đời sống nhân dân…Vì vậy, vấn đề kiểm soát và cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị là một nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, em chọn đề tài “Vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị ở Vương quốc Anh hiện nay” làm đề tài nghiên cứu kết thúc học phần Quyền lực chính trị và cầm quyền.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bất kỳ chế độ xã hội nào, vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lựcnhà nước luôn được các giai tầng xã hội quan tâm hàng đầu Quyền lực chínhtrị là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp, trong đó, vấn đềquyền lực nhà nước được coi là trung tâm Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụngquyền lực chính trị có hiệu quả sẽ là điều kiện để thực hiện được những mụcđích đã đề ra, mang lại hạnh phúc và nhiều lợi ích nhất cho nhân dân, đấtnước Tuy nhiên, trong quá trình nắm giữ, tổ chức và thực hiện quyền lựcchính trị thường tiềm ẩn rất nhiều những nguy cơ khác nhau như tham nhũng,lãng phí, lạm quyền… có thể dẫn tới tác động tiêu cực cho sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
Ở các nước tư bản trên thế giới, trải qua nhiều thăng trầm cách mạngtrong lịch sử, vấn đề kiểm soát được hình thành trong cơ chế hoạt động củacác tổ chức trong hệ thống chính trị như một vấn đề tất yếu Đặc biệt, Vươngquốc Anh là nước điển hình theo chế độ quân chủ đại nghị đã xây dựng cơchế kiểm soát quyền lực nhằm hướng tới sự minh bạch trong hoạt động Ngài
ra, sự kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan quyền lực là một yêu câu cần thiếttrong xã hội đương đại hướng tới một xã hội phát triển
Không chỉ dừng lại ở nguy cơ tiềm ẩn mà nhiều nguy cơ trong quátrình cầm quyền đã phát sinh thành những tai họa, tệ nạn tiêu cực trên thực tếlàm ảnh hưởng rất lớn tới uy tín, danh dự của cán bộ, công chức, các cơ quannhà nước, làm giảm hiệu quả của bộ máy nhà nước, gây hậu quả xấu đến côngcuộc quản lý và xây dựng đất nước, lợi ích và đời sống nhân dân…Vì vậy,vấn đề kiểm soát và cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị là một nhiệm vụ có
ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
hiện nay Chính vì vậy, em chọn đề tài “Vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị
ở Vương quốc Anh hiện nay” làm đề tài nghiên cứu kết thúc học phần Quyền
lực chính trị và cầm quyền
Trang 22 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong chính trị học phương Tây, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước
là vấn đề rõ ràng cả về lý luận và thực tiễn Những nghiên cứu cụ thể nhằmtìm hiểu những phương thức kiểm soát cụ thể khác nhau
Cho đến nay, các nghiên cứu chuyên sâu về kiểm soát quyền lực nhànước được thâu tóm trong các chương trình tổng kết từ các hoạt động giámsát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các hoạt động thanh tra, kiểm tra, Một số đề tài nghiên cứu có đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nướcnhư: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, “Tăng cường hoạt động giámsát của Quốc hội nước ta hiện nay”, Các nghiên cứu này xuất phát từ cáchtiếp cận và phương pháp luật học đã phân tích từng hoạt động cụ thể của các
cơ quan kiểm soát Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu đến vấn đềkiểm soát quyền lực chính trị ở Anh
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Qua tìm hiểu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế kiểm soátquyền lực chính trị ở Vương quốc Anh, rút ra một số nghĩa ý trong xây dựng
cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một cách khái quát những khái niệm, các quan điểm,phạm trù về kiểm soát quyền lực chính trị
- Làm rõ thực trạng kiểm soát quyền lực chính trị ở Vương quốc Anhhiện nay
- Rút ra một số ý nghĩa trong xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực ởViệt Nam hiện nay
4 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu tiểuluận gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 3NỘI DUNG Chương 1
LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm quyền lực chính trị
Cho đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về quyền lực chính trị Tiêubiểu là các khái niệm sau:
- Quyền lực chính trị là quyền sử dụng sức mạnh cho mục đích chính trị;
- Quyền lực chính trị là quyền lực xã hội nhằm giải quyết lợi ích giaicấp, dân tộc, nhân loại;
- Quyền lực chính trị là quyền lực của một hay liên minh giai cấp –Quyền lực chính trị là quyền lực của các giai cấp, các nhóm xã hội dùng đểchi phối, tác động đến quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước nhằmtối đa hóa lợi ích của mình
- Quyền lực chính trị là quyền lực của nhà nước, các đảng chính trị, các
tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức bầu cử, các cơ quan tự quản địa phương;
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, quyền lực chính trị là quyền lực của mộthay liên minh giai cấp, tập đoàn xã hội hoặc của nhân dân (trong điều kiệnchủ nghĩa xã hội); nó nói lên khả năng của một giai cấp nhằm thực hiện lợiích khách quan của mình Quyền lực chính trị theo đúng nghĩa của nó, là bạolực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác
Từ những cách tiếp cận nêu trên, có thể hiểu một cách chung nhất,quyền lực chính trị là quyền sử dụng sức mạnh của một hay liên minh giaicấp, tập đoàn xã hội nhằm thực hiện sự thống trị chính trị; là năng lực áp đặt
và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình – chủyếu thông qua đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước
Như vậy, quyền lực chính trị chỉ hình thành trong xã hội có giai cấp vànhà nước Trong xã hội đó, vị trí, vai trò của các giai cấp, các lực lượng xã
Trang 4hội rất khác nhau, nên nguồn lực của quyền lực chính trị cũng khác nhau và
đó là cơ sở để hình thành quyền lực chính trị
Quyền lực chính trị phụ thuộc vào sự phát triển của sản xuất, của sựphân công lao động trong xã hội và do đó phụ thuộc vào cơ cấu xã hội Khitrình độ phát triển của xã hội còn thấp, sự phân công lao động chưa rộng, cơcấu xã hội còn đơn giản thì quyền lực chính trị chỉ có từ vài ba giai cấp cơbản của xã hội Khi trình độ phát triển cao hơn, sự phân công lao động xã hộitrải rộng, cơ cấu xã hội phức tạp xuất hiện quyền lực chính trị của nhiều giaicấp, nhóm xã hội và các lực lượng chính trị xã hội khác nhau Trong xã hộikhông còn giai cấp, quyền lực chính trị không còn nữa Khi phân công laođộng xã hội còn ở trình độ thấp, cơ cấu xã hội còn đơn giản, quyền lực chínhtrị của giai cấp thống trị về kinh tế cơ bản đã được tổ chức thành nhà nước
Do vậy, khi nghiên cứu các giai đoạn này, nhiều tác giả đồng nhất quyền lựcchính trị với quyền lực nhà nước Trong các giai đoạn phát triển cao hơn,quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước có sự khác biệt rõ rệt Quyền lựcchính trị phụ thuộc vào ba yếu tố sau:
Thứ nhất, về khách quan, quyền lực chính trị phụ thuộc vào sự phâncông lao động xã hội, vào vị trí, vai trò của các giai cấp trong cơ cấu xã hội
Thứ hai, về chủ quan, quyền lực chính trị phụ thuộc vào khả năng sửdụng các nguồn lực của các giai cấp, các lực lượng xã hội, tức khả năng tậptrung quyền lực (tổ chức và tập hợp lực lượng)
Thứ ba, quyền lực chính trị phụ thuộc vào năng lực chi phối, ảnh hưởng
và sử dụng quyền lực nhà nước, nhằm đạt được mục đích của giai cấp mình
Từ những yếu tố trên, có thể thấy rằng một giai cấp có thể ở địa vịthống trị, nhưng do sự phát triển kinh tế - xã hội, vị trí, vai trò của giai cấp đótrong hệ thống sản xuất thay đổi, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan, vai tròthống trị của giai cấp đó có thể mất, chuyển vào tay giai cấp khác Sự thay đổikhách quan như vậy đã từng diễn ra qua sự thay đổi của các phương thức sản
Trang 5xuất Vai trò thống trị đã lần lượt nằm trong tay các giai cấp như: giai cấp chủ
nô, giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản,
Mặt khác, trong cùng một điều kiện khách quan như nhau, nhưngquyền lực chính trị của một giai cấp ở mỗi nước không giống nhau Tỏngcùng một quốc gia nhưng quyền lực chính trị của một giai cấp qua mỗi thời
kỳ khác nhau có thể khác nhau Sự khác biệt đó bị chi phối bởi năng lực chủquan của chủ thể quyền lực, tức khả năng sử dụng các giá trị xã hội, nhữngnguồn lực có được, sự tự tổ chức lực lượng cả về vật chất, tư tưởng, tinh thần, Nếu không có năng lực này, vị trí, vai trò khách quan của một giai cấp, mộtnhóm xã hội, một lực lượng xã hội dù thuận lợi về mặt lịch sử cũng chỉ mãimãi là nguồn lực, không thể trở thành giai cấp thống trị xã hội
1.1.2 Khái niệm kiểm soát quyền lực chính trị
Trên lĩnh vực chính trị - xã hội, khái niệm kiểm soát chứa đựng nộihàm khá phong phú gồm: xem xét, kiểm tra, thanh tra, ngăn chặn, can thiệp,
xử lý, trừng phạt Về mặt lịch sử, hành động kiểm soát ban đầu được áp dụngtrong lĩnh vực kinh tế - tài chính, sau đó nó được mở rộng, phát triển cùng với
sự ohát triển của nhà nước pháp quyền Ban đầu, nó chỉ được áp dụng nhằmkiểm soát quyền lực hành pháp, sau đó được mở rộng sang mọi nhánh quyềnlực khác
Ngày nay, khái niệm kiểm soát được hiểu là một chức năng hiến địnhnhằm mục đích đảm bảo rằng các cơ quan quyền lực công đều bị đặt trongnhững giới hạn đã được hiến pháp và pháp luật quy định Chức năng kiểmsoát được thể hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức đa dạng: ủy quyền, xácnhận, chấp thuận, xác minh, kiểm tra, thanh tra, xử phạt, phê bình Các thiếtchế kiểm soát được tổ chức theo hệ thống gồm nhiều cấp nhằm đảm bảo sựminh bạch, chính xác của hành động kiểm soát
Kiểm soát quyền lực chính trị là một khái niệm chính trị - pháp lý vàthể chế, bao hàm sự hạn chế nhất định đối với quyền lực chính trị; là mộttrong những nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền
Trang 6Có hai loại kiểm soát là tiền kiểm soát và hậu kiểm soát Tiền kiểm soát
là hành động tự kiểm soát của từng chủ thể trước khi thực hiện hành động.Hậu kiểm soát là hành động kiểm soát những gì đã xảy ra, đã được tiến hành.Trong trường hợp này, chủ thể kiểm soát và đối tượng kiểm soát là nhữngpháp nhân khác nhau; chủ thể kiểm soát không tham gia vào những gì đã diễn
ra nên có khả năng tiến hành kiểm soát một cách khách quan, không thiên vị
Có nhiều cách phân loại kiểm soát Căn cứ vào bản chất và đặc điểmchủ thể kiểm soát, có loại hình thể chế kiểm soát thể chế do các cơ quan nhànước thực hiện và loại hình kiểm soát phi thể chế do các tổ chức, nhóm xã hộiphi chính thức thực hiện Loại thình kiểm soát thể chế bao gồm kiểm soátchính trị, kiểm soát tư pháp, kiểm soát hành chính và kiểm soát xã hội Loạihình kiểm soát phi thể chế bao gồm kiểm soát do các phương tiện thông tin,
dư luận xã hội thực hiện và kiểm soát do các tổ chức phi chính phủ, các nhómđại diện tiến hành
Kiểm soát chính trị thuộc chức năng của nghị viện (Quốc hội) và trướchết được hiểu là một công cụ để hạn chế quyền lực hành pháp Đối tượng củakiểm soát chính trị có thể là một hành động chính trị cụ thể, một hoạt độngchính trị chung hoặc một quy định đã ban hành, và đặc biệt là các thiết chếquyền lực Kiểm soát chính trị không có chế tài xử phạt, nhưng không vì thế
mà không có vai trò, vị trí và sức mạnh trong đời sống chính trị Bản thân việcđưa các hoạt động của quyền lực công ra cho công luận xem xét, đánh giá,phản biện, tự nó đã có ý nghĩa hạn chế và kiểm soát Để thực hiện được quyềnkiểm soát chính trị đối với quyền lực hành pháp, Quốc hội cần đảm bảo đượcquyền xác định quyền hạn của quan chức các cấp, quyền hạn chính trị củanguyên thủ quốc gia và quyền quyết định, phê chuẩn ngân sách
Kiểm soát tư pháp là loại hình kiểm soát quyền lực nhằm đảm bảo tínhtối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội và trong hoạt động của các cơquan quyền lực Đây được xem là loại kiểm soát cứng, với những quy địnhnghiêm ngặt của pháp luật, khác với kiểm soát chính trị là loại kiểm soát mềm
Trang 7đối với quyền lực Kiểm soát tư pháp, với tính cách là hoạt động thuần túy tưpháp, chỉ do các lực lượng nghiệp vụ (thẩm phán, quan tòa, ) tiến hành.Chức năng kiểm soát là bác bỏ mọi quyết định và hành động của quyền lựccông cộng khi chúng trái với hiến pháp hoặc làm tổn hại đến các quyền hiếnđịnh Để triển khai hoạt động kiểm soát tư pháp, cần đảm bảo cả tiền kiểm,kiểm soát thường xuyên và hâu kiểm Thông thường, kiểm soát tư pháphướng vào đảm bảo tính hiến định của các đạo luật quốc gia; các văn bản quyphạm pháp luật của chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý nhànước; các hành động của chính quyền; các hiệp ước quốc tế; lệnh ban bố tìnhtrạng khẩn cấp; các luật cắt giảm quyền lực lập pháp; các trường hợp có xungđột pháp luật; hiệu quả hoạt động của chính quyền hành pháp; quyền tài phánquốc gia,
Kiểm soát hành chính là loại kiểm soát do quyền lực hành pháp tiếnhành đối với các hoạt động của tổ chức bộ máy của chính mình Có các loạikiểm soát sau:
- Kiểm soát theo ngành dọc: cơ quan cấp trên kiểm soát các thiết chếcấp dưới
- Kiểm soát tài chính: kiểm soát các nguồn thu, các khoản chi và cácnguồn lực vật chất khác của chính quyền
- Tự kiểm soát: mỗi thiết chế thường xuyên tự nhìn nhận, đánh giá,phán xét mọi hoạt động của mình
Kiểm soát xã hội là loại hình kiểm soát do nhân dân tiến hành một cáchtrực tiếp, hoặc thông qua đại diện của mình Để đảm bảo cơ chế dân chủ tham
dự của người dân, hiến pháp nhiều nước cụ thể hóa rằng mọi công dân đều cóquyền tham gia vào quá trình hoạch định, triển khai và kiểm soát quyền lựccông Chất vấn trực tiếp các quan chức trở thành một trong những hình thứcphổ biến nhất của kiểm soát xã hội
1.2 Vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị trong lịch sử
Ngay từ thời cổ đại, tư duy chính trị phương Tây đã đề cập đến vấn đềkiểm soát quyền lực chính trị thông qua cách thức tổ chức quyền lực nhà
Trang 8nước Arixtốt là người đầu tiên nêu ra phương thức phân quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp Sau này, tư tưởng chính trị phương Tây tiếp tục pháttriển như cơ chế sơ đẳng để thực hiện kiểm soát quyền lực chính trị.
Vào thời kỳ khủng hoảng và tan ra của chế độ phong kiến châu Âu, đãxuất hiện phong trào văn hóa phục hưng với sự góp mặt xuất sắc của nhiềunhà tư tưởng chính trị lớn Nicolo Machiavelli nằm trong số các nhà tư tưởng
đó, đã luận chứng rằng sức mạnh là cơ sở của quyền lực, nhưng bản thân sứcmạnh nhất thiết phải dựa trên nền tảng pháp luật, nghĩa là cũng phải tuân thủnhững quy định cụ thể Ngay cả quân vương – người có sức mạnh và quyềnlực chính trị lớn nhất trong chính thể cộng hòa mà Machiaville thiết kế - cũngchỉ là người đucợ dân cử và dân giao phó quyền lực chính trị
Baruc Spinoza là một nhà tư tưởng chính trị lớn của Hà Lan thế kỷXVII, đã khẳng định mạnh mẽ rằng quyền lực nhà nước không phải là vô hạn.Theo ông, quyền lực nhà nước phải được tổ chức theo thiết chế đại biểu Cácthiết chế này ban hành các đạo luật để nhà nước cai quản xã hội và thực hiệngiám sát nhà nước trong việc thực thi các đạo luật đó
John Lôccơ là người khởi thảo thuyết phân chia quyền lực và là người
đã coi việc hạn chế quyền lực nhà nước thành lập pháp, hành pháp và liênminh, Lốccơ xác định quyền lập pháp là quyền lực cao nhất trong nhà nước.Quyền lập pháp thuộc về nghị viện, đưa ra các đạo luật nhưng không trực tiếptriển khai thực thi luật Quyền hành pháp thuộc về nhà vua, nhưng nhà vua vàcác quan chức khác xungz phụ thuộc vào pháp luật Vua không có đặc quyềnnào đối với nghị viện nhằm ngăn chặn nhà vua thâu tóm toàn bộ quyền lực vềmình và xâm phạm các quyền tự nhiên của công dân
Trong phong trào cách mạng tư sản Pháp, đã xuất hiện hàng loạt nhà tưtưởng chính trị kiệt xuất, nổi tiếng là Môngtetxkiơ Ông là người đầu tiên đưa
ra công thức quyền lực như giải pháp cần thiết để bảo vệ tự do của công dân
Kế thừa quan điểm của Lốccơ về việc phân chia tổ chức quyền lực như tổchức nhà nước, nhưng quyền lực thứ ba theo Môngtetxkiơ là quyền tư pháp –
Trang 9quyền trừng phạt người phạm tội và phân xử khi có tranh tụng giữa các tưnhân Ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân biệt với nhau
và giao cho ba cơ quan khác nhau nắm giữ Điểm cốt yếu trong chủ trươngphân quyền của Môngtetxkiơ là mỗi cơ quan hoạt động trong lĩnh vực củamình, không có quyền trong lĩnh vực khác nhưng có quyền ngăn chặn quyềnlực của cơ quan khác
Tư tưởng phân chia quyền lực của Môngtetxkiơ tiếp tục đượcEnmanuel Kant, nhà tư tưởng chính trị Phổ thế kỷ XVIII tiếp tục kế thừa và
bổ sung Kant không theo thuyết cân bằng quyền lực mà chủ truognư xâydựng sự thống nhất giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong thiếtchế nhà nước Ông thiết kế cấu trúc quyền lực nhà nước gồm ba quyền: lậppháp thể hiện ý nguyện và chủ quyền tập thể của nhân dân; hành pháp thuộcngười cầm quyền theo luật và tuân thủ pháp luật; tư pháp do quyền lực hànhpháp bổ nhiệm Tính chỉnh thể và sự nhất trí giữa ba quyền lực này, theoKant, có thể ngăn ngừa sự chuyên chế và đảm bảo phồn vinh cho quốc gia
1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về kiểm soát quyền lực.
Xét ở hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước Nga, Lênin xác định rằngnhiệm vụ hàng đầu đặt ra cho chính quyền Xô Viết là thực hiện tốt sự quản lýnhà nước trên mọi lĩnh vực, trong đó trọng tâm không còn là lĩnh vực chínhtrị mà chuyển sang lĩnh vực kinh tế Lênin khẳng định: kiểm kê và kiểm soátnếu do chính quyền tối cao của nhà nước tiến hành, đó là thực chất của côngcuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, một khi giai cấp vô sản đã giành được và đảmbảo đucợ nền thống trị chính trị
Căn cứ vào việc phân tích tình hình nước Nga, Lênin chỉ rõ sở dĩ phảitiến hành kiểm kê, kiểm soát thật nghiêm ngặt bởi các nguyên nhân vừa chủquan, vừa khách quan Một là, bản thân chức năng quản lý của nhà nucớ Xôviết đối với một lĩnh vực của đời sống xã hội đã hàm chứa nhiệm vụ kiểmsoát việc thực thi quyền lực của nhân dân lao động Hai là, nền kinh tế bị kiệt
Trang 10quệ sau chiến tranh nay lại phải đương đầu với hàng loạt khó khăn, thử tháchmới Ba là, bộ phận nhà nước Xô viết còn non trẻ, hạn chế, yếu kém Bốn là,các thế lực chống đối, trong đó có các lực lượng tư sản có nhiều âm mưu thủđoạn trốn tránh khỏi sự kiểm soát của chính quyền cách mạng Năm là, đãxuất hiện một số biểu hiện tiêu cực ngay trong đội ngũ cán bộ chính quyền vàquần chúng nhân dân.
Với nhãn quan lãnh tụ cách mạng, Lênin cho rằng toàn bộ vấn đề kiểmsoát chung quy là vấn đề ai là người kiểm soát và ai bị kiểm soát, đồng thời,Lênin khẳng định dưới chính quyền Xô viết, sẽ có một sự kiểm soát dân chủ -cách mạng của giai cấp vô sản, ban đầu là của đội ngũ công nhân và sau đóđược mở rộng ra thành sự kiểm soát của toàn bộ nhân dân lao động Chuyênchính vô sản và sự kiểm soát của toàn dân, đó là những công cụ, phải songhành đồng thời, không được thực hiện cái này mà quên cái kia Đối tượngchịu sự kiểm soát bao gồm: tất cả các đơn vị kinh tế, các ngành, đoàn thể, cánhân, và các cấp chính quyền Lênin nhiều lần nhấn mạnh nhà nước vừa làchủ thể kiểm soát, vừa là đối tượng kiểm soát
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ kiểm soát với nghĩa rộng, baohàm cả xem xét, điều tra, nắm tình hình, kiểm tra, giám sát, Theo Người,khi đã có đường lối, chính sách đúng thì việc thành công hay thất bại củanhiệm vụ cách mạng chỉ phụ thuộc vào khâu triển khai thực hiện, trong đó cóhoạt động kiểm tra, kiểm soát
Giám sát, kiểm soát có vai trò quan trọng trong việc đưa đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống; đánh giáchúng phù hợp hay không và năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ, đảngviên ra sao Bỏi vậy, chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: muốn chống bệnhquan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết đó có được thi hành haykhông, thi hành có đúng không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho quachuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát Kiểm soát khéo léo bao nhiêukhuyết điểm lòi ra hết
Trang 11Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phương pháp và hình thức kiểmsoát, giám sát Phải tiến hành kiểm soát, giám sát cả gián tiếp và trực tiếp,trong đó trực tiếp là chủ yếu và thường xuyên Phải tiến hành sự kiểm soát,giám sát của tổ chức đối với tổ chức, tổ chức đối với cá nhân, cấp trên đối vớicấp dưới, cấp dưới đối với cấp trên, giám sát của đoàn thể đối với cán bộ,đảng viên, giám sát lẫn nhau Cách tốt nhất là thật thà tự phê bình và phê bìnhtrong nội bộ tổ chức, đồng thời tiếp thu nghiêm chỉnh ý kiến phê bình củanhân dân.
Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành cơ chế kiểm soátquyền lực đối với bộ máy nhà nước, chính là kiểm soát “cán bộ” TheoNgười, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hay thấtbại đều do cán bộ tốt hay kém” Đối với các cơ quan trong bộ máy nhà nước,Người luôn nhắc nhở về việc bảo đảm và thể hiện sự thống nhất về bản chấtcủa mối quan hệ trong hệ thống chính trị Điều này còn thể hiện tính nhấtquán ngay trong các bản Hiến pháp qua các thời kỳ Tính nhất quán đó đượcminh chứng bằng tính ổn định của thể chế suốt nhiều thập kỷ qua Đó là: sựlãnh đạo, vai trò cầm quyền chỉ do một đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) nắmgiữ; quan hệ kiểm soát quyền lực giữa cơ quan quyền lực với cơ quan chấphành dựa trên nền tảng của dân chủ xã hội chủ nghĩa; quan niệm về kiểm soát,thiết kế tổ chức (trong Đảng, Nhà nước, các cơ cấu bên trong Nhà nước ),triển khai thực hành nhất quán việc kiểm soát quyền lực
Để việc giám sát, kiểm soát đạt hiệu quả, chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ýphải khéo léo trong hình thức, phương pháp, linh hoạt, uyển chuyển và phảiđảm bảo đúng các nguyên tắc cơ bản của tổ chức, nhất là nguyên tắc tập trungdân chủ, đảm bảo tính công khai, dân chủ giữa chủ thể và đối tượng giám sát.Mặt khác, bản thân những người giám sát, kiểm soát nhất thiết phải tránh cănbệnh quan liêu Tiến hành giám sát theo hệ thống, đến tận nơi để kiểm soát.Người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín, năng lực, trình độ và kỹnăng kiểm soát thuần thục
Trang 12Chương 2
CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở ANH HIỆN NAY
2.1 Khái quát về hệ thống chính trị nước Anh
2.1.1 Lập pháp
Chính trị Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland lập nền trên thểchế quân chủ lập hiến với thủ tướng đảm nhiệm vị trí đứng đầu chính phủ.Đây là hệ thống chính trị đa nguyên với sự ủy thác một phần quyền lực cho
xứ Scotland, xứ Wales và Bắc Ireland Quyền hành pháp thuộc về chính phủ
Ở Anh, quyền lập pháp thuộc về Quốc hội Quốc hội là trung tâm của
hệ thống chính trị tại Liên hiệp Vương quốc Anh, cũng là định chế lập pháptối cao Chính phủ được hình thành từ quốc hội và chịu trách nhiệm trướcquốc hội Quốc hội Anh có hai viện: Hạ viện gọi là House of Commons vàthượng viện là House of Lord Hay còn gọi là Viện Thứ dân và Viện Quý tộc
Thượng viện (Viện quý tộc):
Thượng viện trước đây là một thiết chế cấu thành bởi các nhà quý tộc
có quyền thế tập Hiện nay, những cải cách vẫn đang tiến hành đã biến nơinày thành một tập hợp gồm các thành viên có quyền thế tập, các giám mụccủa Giáo hội Anh Quốc và các thành viên được bổ nhiệm (quý tộc trọn đờinhưng không truyền chức cho hậu duệ để những người này có thể gia nhậpviện quý tộc) Viện Quý tộc xem xét các đạo luật được thông qua bởi ViệnThứ dân, có quyền đưa ra những tu chính cũng như có quyền phủ quyết trìhoãn, cho phép Viện Quý tộc trì hoãn các đạo luật trong thời hạn mười haitháng Tuy vậy, quyền phủ quyết này bị giới hạn bởi tập quán và bởi Bộ LuậtQuốc hội
Viện Quý tộc cũng là tòa kháng án chung thẩm của Liên hiệp Vươngquốc Anh, mặc dù trong thực thế chỉ có một nhóm nhỏ thành viên Viện Quýtộc tham gia các vụ xét xử Đạo luật Cải cách Hiến pháp năm 2005 phác thảo
kế hoạch thành lập Tối cao Pháp viện Liên hiệp Vương quốc Anh để thay thếvai trò của Viện Quý tộc
Trang 13Trụ sở của Thượng viện Anh được đặt tại điện Westminster Hiện nay,Thượng viện có 713 thành viên, phần lớn là những người được nhà vua chỉđịnh suốt đời theo đề nghị của Thủ tướng Những công khanh kế truyềnkhoảng 90 người, 26 người là giám mục cao cấp của Giáo hội Anh.
Kể từ thế kỷ XIX, quyền lực của Thượng viện Anh đã bị giảm súttương đối nhiều Ngày nay, vai trò của Thượng viện thấp hơn Hạ viện Anh
Chức năng của thượng viện Anh:
- Xem xét các dự luật;
- Kiểm soát chính phủ;
- Thành lập các ủy ban độc lập;
- Quyền kiểm tra;
- Cơ quan tư pháp cao nhất;
- Quyền giám định
Hạ viện (Viện Thứ dân)
Vương quốc Anh được chia thành các đơn vị bầu cử có dân số tươngđương nhau (được ấn định bởi Ủy ban Địa giới), mỗi đơn vị bầu chọn mộtthành viên quốc hội cho Viện Thứ dân (Hạ viện) Trong số 646 dân biểu hiệnchỉ có một người là không thuộc chính đảng nào Trong lịch sử đương đại, tất
cả thủ tướng và lãnh tụ đảng đối lập đều đến từ Viện Thứ dân, ngoại trừLord Alec Douglas-Holmes, người phải từ chức khỏi Viện Quý tộc để trởthành thủ tướng năm 1963 Thủ tướng sau cùng được chọn từ Viện Quý tộc làHầu tước xứ Salisbury, rời chức vụ năm 1902
Cơ chế bầu cử chọn một đại diện cho một đơn vị bầu cử đã giúp hìnhthành hệ thống lưỡng đảng hiện hành Thông thường, quốc vương ủy nhiệmcho nhân vật nhiều quyền lực nhất ở Hạ viện thành lập chính phủ khi có mộtchính đảng nắm thế đa số Trong tình huống đặc biệt, nhà vua có thể yêu cầumột chính khách với thiểu số ở quốc hội thành lập chính phủ khi không cóđảng chiếm đa số đòi quyền thành lập chính phủ liên hiệp Sự chọn lựa nàychỉ xảy ra trong những tình huống khẩn cấp như đang trong tình trạng chiến
Trang 14tranh Cần lưu ý rằng chính phủ được thành lập không phải bởi nghị quyết củaquốc hội nhưng bởi sự ủy nhiệm của vương triều Viện Thứ dân có cơ hộibiểu thị sự tín nhiệm dành cho chính phủ khi biểu quyết cho bài Diễn vănVương quyền (chương trình lập pháp được soạn thảo bởi chính phủ tân lập).
Hạ viện bao gồm 659 thành viên được bầu, gọi là các nghị sỹ(Members of Parliament) Chức năng chính của Hạ viện là lập pháp bằng cáchthông qua các đọa luật của Nghị viện, thảo luận các vấn đề chính trị hiệnhành Hạ viện Anh có vai trò quan trọng, đặc biệt trong vấn đề ngân sáchquốc gia
2.1.2 Hành pháp
Vương quốc Anh là nước theo chế độ quân chủ lập hiến Nguyên thủquốc gia hiện nay là nữ hoàng Elizaneth II, đồng thời là nguyên thù quốc giacủa nhiều nước trong khối Thịnh vượng chung do Anh đứng đầu
Chính phủ thi hành các chức năng hành pháp của đất nước trên danhnghĩa của Vương quyền, vì trên lý thuyết, quyền hành pháp thuộc về hoànggia Nhà vua bổ nhiệm thủ tướng theo những quy định chặt chẽ, theo đó thủtướng phải là thành viên của Viện Thứ dân, vì như thế mới giành được sự ủng
hộ của Viện cho việc thành lập chính phủ Sau đó thủ tướng tuyển chọn bộtrưởng để lãnh đạo các bộ ngành của chính phủ Có khoảng hai mươi bộtrưởng cao cấp được chọn để tham gia Nội các
Giống các chính quyền theo thể chế đại nghị khác, nhánh hành pháp(được gọi là chính phủ) chịu trách nhiệm với Quốc hội – một nghị quyết bấttín nhiệm được thông qua bởi quốc hội sẽ có thể buộc chính phủ hoặc phải từchức hoặc phải giải tán quốc hội và tổ chức tổng tuyển cử Trong thực tế,thành viên quốc hội thuộc các chính đảng lớn thường bị kiểm soát bởi giớilãnh đạo đảng trong quốc hội để bảo đảm biểu quyết của họ phải phù hợp vớichủ trương của đảng Như thế, nếu chính phủ chiếm thế đa số, sẽ khó xảy ratình trạng không có đủ phiếu để thông qua các dự luật do chính phủ đệ trình
Trang 15Trong tháng 11 năm 2005, chính phủ Blair đã phải vấp phải thất bạiđầu tiên khi đệ trình dự luật kéo dài thời gian giam giữ nghi phạm khủng bốđến 90 ngày Dự luật sau cùng của chính phủ bị đánh bại tại Hạ viện là Dựluật Shop Hours đệ trình năm 1986 Suốt trong thế kỷ XX, chỉ có ba dự luậtcủa chính phủ bị đánh bại tại quốc hội Dù vậy, một chính phủ thiểu số hoặcmột chính phủ liên hiệp sẽ đối diện với nhiều nguy cơ hơn trong nỗ lực thuyếtphục quốc hội thông qua các dự luật Đôi khi họ phải vận dụng các biện phápđặc biệt như "đưa rước" các dân biểu đang nghỉ bệnh đến dự các kỳ họp quốchội hầu có đủ số phiếu cần thiết Năm 1983 Margaret Thatcher vànăm 1997 Tony Blair lên nắm quyền với đa số vượt trội đã bảo đảm thànhcông trong tất cả cuộc biểu quyết ở quốc hội để có thể thông qua các đề áncấp tiến cũng như các cải cách pháp lý Nhưng các thủ tướng khác như trongtrường hợp của John Major năm 1992, với đa số mong manh, chỉ cần một sốtương đối nhỏ những dân biểu ít tiếng tăm không chịu tuân thủ chủ trương củađảng cũng có thể làm thất bại nỗ lực của chính phủ thông qua các dự luật Do
đó, những chính phủ có đa số mỏng ở quốc hội thường có khuynh hướng thỏahiệp với các phe phái khác nhau bên trong đảng hoặc tìm kiếm sự ủng hộ từcác chính đảng khác
Thủ tướng Anh có vai trò rất quan trọng trong hệ thống chính trị, làchức vụ nắm hầu hết các quyền lực trong chính phủ Thủ tướng là người đứngđầu đảng chiếm đa số ghế trong quốc hội Tuy không phải là người đứng đầunhà nước, nhưng thủ tướng Anh là người đại diện quốc gia tham dự các cuộchọp thượng đỉnh của các nguyên thủ quốc gia khối G.7
2.1.3 Tư pháp
Quan Chưởng ấn (The Lord Chancellor) là người đứng đầu nhánh tưpháp tại Anh và xứ Wales, bổ nhiệm thẩm phán cho các tòa hình sự trêndanh nghĩa của vương triều Quan Chưởng ấn đảm nhiệm các chức tráchtrong cả ba nhánh của chính quyền – hành pháp, lập pháp và tư pháp Đây lànét đặc thù trong vòng các nền dân chủ của thế giới hiện đại Tuy nhiên, Đạo