Do đó khi giải quyết vấn đề bảo vệ chống sét đường dây phải có quan điểm tổng hợp nghĩa là phải có kết hợp chặt chẽ với việc chống sét ở trạm, đặc biệt ở đoạn đường dây gần trạm đoạn tớ
Trang 1Chương VIII
Bảo vệ chống sét đường dây tải điện
Đ8-1 Yêu cầu chung đối với bảo vệ chống sét đường dây:
Đường dây là phần tử dài nhất trong lưới nên thường bị sét đánh và chịu tác dụng của quá điện áp khí quyển
Quá điện áp không những chỉ gây nên phóng điện trên cách điện đường dây mà còn truyền sóng vào trạm biến áp gây sự cố phá hoại cách điện trong trạm Do đó khi giải quyết vấn đề bảo vệ chống sét đường dây phải có quan điểm tổng hợp nghĩa là phải
có kết hợp chặt chẽ với việc chống sét ở trạm, đặc biệt ở đoạn đường dây gần trạm (
đoạn tới tramk) phải được bảo vệ cẩn thận vì khi sét đánh ở khư vực này sẽ đưa vào trạm các quá điện áp với tham số lớn, rất nguy hiểm cho cách điện của trạm
Quá điện áp khí quyển có thể là do sét đánh thẳng lên đường dây hoặc sét đánh xuống mặt đất gần đó và gây nên quá điện áp cảm ứng trên đường dây Có thể thấy trường hợp đàu nguy hiểm nhất vì đường dây phải chịu đựng toàn bộ năng lượng của phóng điện sét, do đó nó được chọn để tính toán chống sét đường dây
Như đã trình bày trong phần cách điện của hệ thống, vì trị số của quá điện áp khí quyển rất lớn nên không thể chọn mức cách điện đường dây đáp ứng đưọc hoàn toàn yêu cầu của quá điện áp khí quyển mà chỉ chọn theo mức độ hợp lý về kinh tế và
kỹ thuật Do đó yêu cầu đối với bảo vệ chống sét đường dây không phải là loại trừ hoàn toàn khả năng sự cố do sét mà chỉ là giảm sự cố tới giới hạn hợp lý ( xuất phát từ yêu cầu và sơ đồ cung cấp điện của phụ tải, số lần cắt dòng điện ngắn mạch cho phép của máy cắt điện, đường dây có hoặc không có trang bị thiết bị tự động đóng lại v.v )
Trong phạm vi chương này, sẽ tập trung vào cách tính toán số lần cắt điện do sét, trên cơ sở đó xác định được phương hướng và biện pháp để giảm số lần cắt điện nói chung và của một số loại đường dây cụ thể
Với độ treo cao trung bình của dây trên cùng ( dây dẫn hoặc dây chống sét) là h,
đường dây sẽ thu hút về phía mình các phóng điện của sét trên giải đất có chiều rộng 6
h và chiêù dài bằng chiều dài đường dây L Từ tần số có phóng điện sét xuống đất trên diện tích 1 km2 ứng với một ngày sét 0,1 ữ 01,5 (chươngXVI) có thể tính được tổng số lần có sét đánh thẳng lên đường dây hàng năm:
nng s. ư số ngày sét hàng năm trong khu vực có đường dây đi qua ( h tính theo m và L theo km)
Trang 2Vì tham số của phóng điện sét - biên độ dòng điện I, và tốc độ của dòng điện
dt
s
= ưcó thể có nhiều trị số khác nhau, do đó không phải tất cả các lần có sét đánh lên đường dây đều dẫn đến phóng điện trên cách điện Để có phóng điện, quá điện áp khí quyển phải có trị số lớn hơn mức cách điện xung kích của đường dây, khả năng này
được biểu thị bởi xác suất phóng điện ( v pt) và như vậy số lần xảy ra phóng điện trên cách điện sẽ là:
Npd = Nvpd = 0 6 0 9 , ữ , h n ng s. I vpd 10ư 3 (8-2)
Đây chưa phải là số lần nhảy máy cắt điện do sét hàng năm vì thời gian tác dụng của quá điện áp khí quyển rất ngắn, khoảng 100 μs, trong thời gian làm việc của hệ thống bảo vệ rơle thường không bé quá một nửa chu kỳ tần số công nghiệp tức là 0,01s
Do đó phóng điện xung kích chỉ gây nên cắt điện đường dây khi tia lửa phóng
điện xung kích trên cách điện chuyển thành hồ quang duy trì bởi điện áp làm việc của lưới điện Xác suất chuyển từ tia lửa phóng điện xung kích thành hồ quang phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố quan trọng nhất là građiện của điện áp làm việc dọc theo đường phóng điện Trị số građiện càng lớn thì việc duy trì điện dẫn trong khe phóng điện và chuyển thành hồ quang cáng thuận lợi
Sự phụ thuộc của xác suất chuyển thành hồ quang ηưgọi tắt là xác suất hình thành hồ quang - vào građiện của điện áp làm việc dọc theo đường phóng điện cho bảng 8-1
Bảng 8-1
Xác suất hình thành hồ quang
lv lv
pd
Cuối cùng tính được số lần cắt điện do sét hàng năm của đường dây:
Ncd = 0 6 0 9 , ữ , hL n ng s. vpd η 10ư 3 (8-3)
Để so sánh khả năng chịu sét của các đường dây có tham số khác nhau, đi qua những vùng có cường độ hoạt động của sét khác nhau thường tính trị số " suất cắt
đường dây " tức là số lần cắt khi đường dây có chiều dài 100km
ncd = 0 6 0 9 , ữ , h n ng s. vpd η ( 8-4)
Trang 3Từ (21-4) thấy rằng có hai hướng khác nhau trong việc giảm thấp số lần cắt điện
do sét tức là hoặc giảm trị số v pd hoặc giảm η Việc giảm xác suất phóng điện trên cách điện được thực hiện bằng cách treo trên dây chống sét và tăng cường cách điện
đường dây Treo dây chống sét là biện pháp rất có hiệu quả trong việc giảm số lần cắt
điện đường dây, tuy nhiên cần lưu ý một số vấn đề sau đây:
ư Dây chống sét làm nhiệm vụ bảo vệ chống sét đánh thẳng cho dây dẫn ( dây pha) nhưng chưa phải là an toàn tuyệt đối mà vẫn còn khả năng sét đánh vào dây dẫn Trong thời gian gần đây,
ở nhiều nước ngày càng sử dụng rộng rãi đường dây hai lộ đi trên cùng cột điện, chiều cao cột có thể tới 40 ữ50m Kinh nghiệm vận hành của của các đường dây này cho thấy xác suất sét đánh vòng qua dây chống sét vào dây dẫn (vα) không những chỉ phụ thuộc vào góc bảo vệ α mà còn tăng theo chiềucao cột điện Xác suất này được biểu thị bởi công thức kinh nghiệm:
α
α
α ư góc bảo vệ của dây chông sét ( độ)
h cưchiều cao cột điện (m)
ư Dù không xét đến khả năng sét đánh vòng qua day chống sét vào dây dẫn thì việc bảo vệ bằng dây chống sét cũng không thể đảm bảo có mức chịu sét tuyệt đối Khí sét đánh vào dây chống sét sẽ gây nên điện áp tác dụng lên cách điện mà phần chủ yếu của nó là điện áp giáng trên bộ phận nối đất cột điện Nếu dòng điện sét và điện trở nối
đất cột điện lớn thì điện áp tác dụng lên cách điện có khả năng vượt quá mức cách điện xung kích của nó và gây nên phóng điện ngược tới dây dẫn Như vậy dây chống sét phát huy tác dụng được nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào tình hình nối đất cuả cột điện Trong các vùng đất xấu ( (ρ≥ 105Ω.cm) dây chống sét sẽ không còn phát huy tác dụng nên có thể không dùng nó ngay cả ở các đường dây 110ữ 330kV [( quy trình xây lắp thiết bị điện Liên xô - 1965 ( điều 115-72)]
Cũng với lý do trên, ở những đường dây điện áp thấp ( từ 35kV trở xuống) cũng không dùng dây chống sét Các đường dây này có mức cách điện không cao nên khi sét
đánh vào dây chống sét thường đưa đến phóng điện ngược tới dây dẫn
Giám xác suất hình thành hồ qung η được thực hiện bằng cách giảm cường độ
điện trường dọc theo đường phóng điện, như dùng cột xà gỗ để tăng chiều dài đường phóng điện Trong trường hợp này građiện điện áp làm việc có thể giảm tới khoảng cách 0,1 ữ 0,2 kV/m và xác suất hình thành hồ quang chỉ còn 10 ữ 20% Dùng cách
Trang 4điện gỗ còn có tác dụng làm tăng mức cách điện xung kích của đường dây nên xác suất phóng điện ( )v pd cũng được giảm thấp
Đ8-2 Quá điện áp cảm ứng trên đường dây
Khi sét đánh xuống đất gần khu vực đường dây thì dưới tác dụng của điện từ trường của dòng sét, trên dây dẫn sẽ xuất hiện điện áp cảm ứng
u x t cu u x t cu d u x t
cu t
Thành phần từ của điện áp cảm ứng u x t cu t ( ), quyết định bởi từ trường ngoài và có trị số bằng: u x t cu t ( ) E x t dl( )
T t
Thành phần điện u x t cu d( ), gây nên bởi
điện trường của dòng sét và được xác định theo biểu thức:
u x t cu d( ), =ϕ ( )x t, +u x t d( ), (21-7)
( )
ϕ x t, là thế vô hướng của điện trường tại điểm cần xét trên đường dây ở thời điểm t, còn trị số u d ( )x t, là điện áp gây bởi điện tích của bản thân đường dây chuyển động ở dạng sóng khi có tác dụng của điện trường ngoài Sự chuyển động này chỉ có liên quan đến thành phần trường có phương trùng với trục của đường dây ( thành phần E x d
trên hình 8-1) và được xác định bởi phương trình điện tín có vế phải:
δ δ
δ δ
δ δ
2
2 2
2 2
1
u
x
x
d
ư = (8-8)
ở đây không đi sâu vào các chi tiết tính toán mà chỉ đưa ra kết quả chung về độ lớn của điện áp cảm ứng tại điểm gần độ lớn của điện áp cảm ứng tại gần nơi sét đánh:
Hình 8-1
Tính toán quá điện áp cảm ứng
khi sét đánh gần đường dây
x
z
Ēx
x=0
x
h
Ēzđ
Ēyđ
Ēt Ēxđ
v
v
y
Trang 5U K I h
b
cumax = 0 60 s ( 8-9)
trong đó: hư độ treo cao trung bình của
dây dẫn (m)
bư Khoảng cách từ đường dây
tới nơi bị sét đánh (m)
K0ư Hệ số phụ thuộc vào
tốc độ của phóng điện ngược, cho trên
hình 21-2
Đường cong biến thiên của điện
áp cảm ứng U cu( )0,t tại điểm gần nơi sét
đánh được biểu thị trên hình 8-3, ở đấy có vẽ riêng các thành phần điện và từ Khi tốc
độ phóng điện ngược tăng thì thành phần từ tăng do tốc độ biến thiên của từ trường lớn Nhưng thành phần điện thì ngược lại có giảm chút ít vì trị số dòng điện sét I s = av, giữ không đổi, nếu tăng tốc độ của phóng điện ngược sẽ làm giảm mật độ 6 và làm giảm
điện trường
Đa số các phóng điện ngược đều có tốc độ khoảng 0,1 ữ 0, 2 tốc độ ánh sáng ( β =0 1 0 2, ữ , )nên hệ số K0 có thể chọn bằng 0,5 và trị số U cu max được tính theo:
b
cu
s
max = 30 (8-10) Công thức (8-9), (8-10) chỉ đúng với trường hợp đơn giản là khi dòng điện sét có
dạng sóng vuông góc Nếu là dạng sóng xiên góc thì tốc độ biến thiên của điện từ trường sẽ bé hơn và trị
số điện áp cảm ứng giảm thấp, tuy nhiên sự giảm thấp này chỉ đáng
kể khi sét đánh gần tức là khi
b < vτ d s
Điều cần quan tâm nhất không phải là xác định giới hạn về
độ lớn của quá điện áp cảm ứng
mà là tìm được xác suất xuất hiện quá điện áp với một biên độ nào
đấy ví dụ bằng hoặc lớn hơn mức cách điện đường dây (≥ U50%) Khi xét giải đất đặt cách đường dây khoảng cách b có chiều rộng
Hình 8-2
phóng điện ngược
Hình 8-3
gần nơi sét đánh ứng với các trị số khác nhau của
v
1.0 0.8 0.6 0.4
0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0
U cư max
k 0 =
60Ih/b
β
0.7
0.6
0.5
0.4
0.3
0.2
0.1
0 4 8 12 16 20 24 28 32 36 40
β=0.1
β=0.4
β=0.4
β=0.2
β=0.1
β=0.2
Ucư
60Ish
Trang 6db và chiều dài 100km, tổng số lần có sét đánh vào giải đất này sẽ là:
(0 1 0 15, ữ , )db.10 100ư 3 .H ng s. =(0 01 0 015, ữ , )n db ng s. ( db tính theo m)
Để trị số điện áp cảm ứng bằng hoặc vượt quá mức cách điện đường dây
U50%dòng điện sét phải có biên độ:
h
s ≥ 50%
30
Đây cũng là điều kiện để có phóng điện trên cách điện đường dây và như vậy xác suất phóng điện có trị số bằng:
h
s
= ư26 1 = ư 780
50%
,
Số lần sét đánh trong rải đất db có tạo nên quá điện áp cảm ứng đủ lớn để gây nên phóng điện trên cách điện đường dây sẽ là :
U b h
= 0 01 0 015ữ
50%
780
Để có tổng số phải lấy tích phân đẳng thức trên từ giới hạn bmin = 3htới ∞ và cho cả hai phía đường dây:
b
=
∞
∫
m in
( lấy trị số bmin = 3hvì như đã quy định ở trên, đường dây thu hút về phía mình tất cả các phóng điện sét trong giải đất rộng 6h , còn khi sét đánh ở ngoài giải này sẽ xem như
đánh xuống đất và gây nên quá điện áp cảm ứng) Cuối cùng tính được:
pd
ng s
U
50%
260
50%
(8-11) Trong công thức h tính bằng mét, U50%tính theo kV và Npd là số lần phóng điện
do quá điện cảm ứng trên chiều dài 100km đường dây hàng năm Kết quả tính toán cho thấy, khi đường dây có độ treo cao trung bình h = 10m và nằm trong vùng sét hoạt động mạnh có n ng s. = 100ngày, số lần xuất hiện quá điện cảm ứng có trị số vượt quá mức cách
điện xung kích của đường dây 35kV (U50% ≈350kV)là 10ữ 15 lần hàng năm, và đường dây 110kV (có U50% ≈700kV)ưkhoảng 1,5 lần/năm Như vậy đối với đường dây 110kV trở lên trong tính toán chống sét có thể không xét đến quá điện áp cảm ứng vì số lần phóng điện do nó gây nên rất nhỏ so với khi có sét đánh thẳng lên đường dây Đối với các đường dây 35 KV trở xuống, đường dây điện áp càng bé thì trị số Npd càng lớn do
đó cần phải chú ý đến quá điện áp cảm ứng trong tính toán cũng như trong vận hành
Trang 7Đặc điểm của quá điện áp cảm ứng là xuất hiện đồng thời ở cả ba pha và trị số giữa các pha không chênh lệch nhau nhiều, do đó nguy hiểm không phải là đối với cách điện giữa các pha mà là cách điện đối với đất và đối với các loại đường dây này biện pháp chống quá điện áp cảm ứng hợp lý là dùng cột gỗ
Đ8-3 Sét đánh trên đường dây không theo dây chống sét
Khi dường dây không treo dây chống sét, sét đánh chủ yếu là vào dây dẫn còn khả năng đánh thẳng vào cột rất ít và có thể bỏ qua
Có thể xem tại nơi sét đánh mạch của khe sét được ghép nối với tổng trở sóng của dây dẫn có trị số bằng Z dd
2 ( day dẫn hai phía ghép song song) Vì tổng trở của dây
dẫn Zdd khá lớn, khoảng 400 ữ 500Ω, nên dòng điện sét giảm đi nhiều so với khi sét
đánh vào nơi có nối đất tốt Theo công thức (16-2) dòng điện ở nơi sét đánh chỉ còn:
I
s
dd
s
=
+
≈
0 0
2 2
Do ở mỗi bên của dây dẫn sẽ truyền sóng dòng điện I s
4 ( hình8-4) và tạo nên
điện áp trên dây dẫn
dd
4 100 (8-12)
Để tính toán số lần cắt điện cần xét riêng cho các loại đường dây cột sắ và cột gỗ vì chúng khac nhau rất nhiều
1 Đường dây cột sắt (bê tông)
Phóng điện trên cách điện đường dây sẽ xẩy ra khi đạt được điều kiện:
U dd =100I s ≥U50%
U50% là trị số điện áp phóng điện xung kích
bé nhất của cách điện đường dây
Điều kiện này ứng với khi dòng điện sét vượt quá mức chịu sét ( mức bảo vệ)
Ibv của đường dây:
I s =I bv = U50%
Như vậy điều kiện phóng điện chỉ phụ thuộc vào một tham số của phóng điện sét
- biên độ dòng điện - mà không phụ thuộc vào độ dốc dòng điện Xác suất phóng điện
Hình 8-4
Phân phối dòng điện khi sét
đánh vào dây dẫn
Z0
Zdđ
Zdđ
Khe sét
4
s
I
4
s
I
2
s
I
Trang 8sẽ là xác suất hiện dòng điện sét có trị số ≥ I bv , xác định theo công thức (1-3) và tiếp theo đó tính được trị số N pd theo công thức (8-2) Do tình hình sét thường chỉ đánh vào một pha ( pha trên cùng khi dây dẫn các pha bố trí theo 3 đỉnh tam giác hoặc pha bên khi dây dẫn bố trí trong cùng mặt phẳng ngang) nên trước tiên sẽ xẩy ra phóng điện trên cách điện của pha đó và khi đạt được điều kiện duy trì hồ quang sẽ dẫn đến ngắn mạch chạm đất một pha Như vậy việc cắt điện do sét còn phụ thuộc vaò phương thức nối đất của điểm trung tính Đối với lưới điện có điểm trung tính trực tiếp nối đất ( thường là các lưới điện áp 110kV trở lên) khi có ngắn mạch chạm đất hệ thống bảo vệ rơle sẽ làm nhảy máy cắt điện do đó trị số n cd được tính theo (8-4)
Ví dụ đường dây 110kV có U50% ≈645kV( chọn theo cực tính âm vì phần lớn các phóng điện sét đều có cực tính âm) sẽ tính được I bv = 6 5, kV và xác suất phóng điện
v pd = 0 8, Chuỗi cách điện treo 110kV có chiều dài khoảng 1,2m nên građiện của điện
áp làm việc E lv 110 kV m
31 2 , =53 / và xác định dược xác suất hình thành hồ quang
η= 0 6, Suất cắt của đường dây 110 kV cột sắt có độ treo cao trung bình của dây dẫn trên cùng h= 10m đi trong vùng có số ngày sét hàng năm là 100 ngày sẽ có trị số bằng
n cd = 0 06 0 09 10100 0 8 0 6, ữ , , , = 28 8 43 3, ữ , Số lần cắt điện do sét như vậy là quá
lớn, do đó đường dây 110 kV khi đi trong vùng sét hoạt động mạnh và trung bình cần phải được bảo vệ bằng đường dây chống sét
Trong lưới điện có điểm trung tính cách điện đối với đất ( hoặc nối đất qua cuộn dây hồ quang), thường là các lưới điện áp 35 kV trở xuống, thì dù có hồ quang chạm
đất ở một pha vẫn không đưa đến cắt điện đường dây ( khi có cuộn dập hồ quang có thể xem η= 0) Cắt điện do sét chỉ xảy ra khi có phóng điện ở 2 hoặc 3 pha và đưa đến ngắn mạch giữa các pha Nghiên cứu với đường dây có kết cấu như ở hình 8-5, khi sét
đánh vào dây dẫn ngoài cùng và xảy ra phóng điện trên cách điện của dây đó, dòng
điện sét được tản trong đất thông qua bộ phận nối đất của cột điện tính cho trường hợp nguy hiểm nhất là khi sét đánh vào dây dẫn ở chỗ gần cột điện, lúc này khe phóng điện sét xem như bị ngắn mạch qua điện trở nối đất R của cột điện và dòng điện sét xam như
bị ngắn mạch qua điện trở nối đất R của cột điện và dòng điện sét có trị số bằng trị số toàn bộ I s ( mà không phải là I s
2 )
Điện áp giáng trên bộ phận nối đất có trị số bằng I R s , đó cũng là điện áp trên dây dẫn bị sét đánh, điện áp trên thân và xà cột điện.Đồng thời trên các pha không bị sét đánh cũng có xuất hiện điện áp với trị số k I R d s mà k d là hệ số ngẫu hợp giữa dây không bị sét đánh và dây bị sét đánh khi có sét đến ảnh hưởng của vầng quang
Trang 9Như vậy cách điện của dây dẫn thứ hai sẽ phải chịu điện áp I R s (1ưk d) và sẽ có phóng điện trên đó nếu đạt điều kiện:
d
ư
50%
Trị số U50%là mức cách điện xung kích của dây dẫn thứ hai chọn theo cực tính dương Từ (21-14) có thể thấy rõ tác dụng quan trọng của nối đất trong bảo vệ chống sét đối với các đường dây này
Ví dụ tính toán với đường dây 35kV cột sắt có trị số U50% =350kV , dộ cao
h= 10m và đi trong vùng sét có n ng s. = 100 ngày/năm Đường dây này có hệ số ngẫu hợp
k d = 0 3, và xác suất hình thành hồ quang
η= 0 52,
Nếu tính với R= 10Ω sẽ được
Ibv = 50 kA và xác suất phóng điện v pd = 0 15, Suất cắt của đường dây trong trường hợp này sẽ bằng:
n cd = 0 06 0 09 10100 0 15 0 52, ữ , , , =4 68 7 02, ữ ,
Trị số này bé hơn nhiều so với so với của
đường dây 110kV Nếu giảm điện trở nối đất cột
điện tới mức R= 5Ω thì suất cắt chỉ còn
n cd =0 78 0 17, ữ , nghĩa là giảm được 6 lần so với khi R= 10Ω
Có thể cho rằng, khi đường dây đi qua các vùng đất dẫn điện tốt việc cải thiện nối đất ở cột điện là biện pháp có hiệu quả và hợp lý nhất để giảm số lần cắt điện do sét gây nên
Hình 8-5
Sét đánh vào đường dây cột sắt
(bê tông) không treo dây chống
sét trong lưới điện có điểm trung
tính đặt cách điện ( hoặc nối đất
qua cuộn dập hồ quang)
2
s i
2
s
i
s
i
Trang 10Khi sét đánh trên dây dẫn của đường dây cột gỗ sẽ có hai khả năng phóng điện như nêu trên hình 8-6
Phóng điện theo đường a xảy ra khi
đạt được điều kiện:
I Is = =bv a U50%
100 ( 8-15) Tương tự như vậy khi phóng điện theo
đường b:
I s I bv U( k )
b
d
ư
50%
Cách điện của hai đường dây này đều
là cách điện tổ hợp giữa không khí hoặc cách
điện đường daay với gỗ Nếu tính mức cách
điện xung kích của gỗ theo 100 /kV m/ và so sánh hai khả năng trên sẽ thấy được
I bv a I
bv
b
> nghĩa là phóng điện giữa các pha thường xảy ra trước tiên và chỉ khi dòng điện sét đủ lớn thì mới có phóng điện tiếp theo xuống đất Ngoài ra theo đường a thì xác suất hình thành hồ quang tương đối bé, ví dụ đường dây 110kV cột gỗ có chiều dài đường phóng điện l s khoảng 10m, građiện điện áp làm việc E lv = 110 = kV m
1043 6 4, / nên hệ
số η gần bằng không trong khi đó chiều dài l b khoảng 6,5 građiện
3 6 5 , 17 / và η= 0 2, Như vậy dù có xảy ra phóng điện theo khả năng a thì cũng không thể đưa đến cắt điện
Do đó đối với đường dây cột gỗ ( không treo dây chống sét và không nối đất) số lần cắt điện do sét sẽ tính toán theo khả năng phóng điện giữa các pha xác định bởi (21-16) Ví dụ đường dây 110kV cột gỗ có U b kV
50% =1690 và k d = 0 3, thì I bv b = 24kAvà
v pd = 0 4, , suất cắt của đường dây có chiều cao h= 10m đi trong vùng có n ng s. = 100 sẽ
có trị số bằng:
ncd = 0 06 0 09 10100 0 4 0 2 , ữ , , , = 4 8 7 2 , ữ ,
Từ ví dụ này thấy rằng, đường dây cột gỗ có tần số cắt điện thấp hơn nhiều so với đường dây cột sắt không có dây chống sét Khi đường dây đi qua vùng đất xấu, nối
đất gặp nhiều khó khăn thì việc dùng cột xà gỗ lag hợp lý về kinh tế kỹ thuật vì không phải đầu tư vào phần nối đất mà vẫn đạt được mức an toàn vận hành khá cao
Đ8-4 Sét đánh trên đường dây có treo dây chống sét
Khi đường dây có treo dây chống sét thì chủ yếu sét sẽ đánh vào dây chống sét
Hình 8-6
Sét đánh trên dây dẫn đường dây
cột gỗ.
a b