1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Máy tính kinh doanh - Bài 4 doc

19 315 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 199,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một hệ thống thông tin dùng máy tính có các đặc điểm sau: • Cung cấp thông tin cần thiết cho tổ chức, kể cả xử lý giao dịch và quản lý hồ sơ chính xác • Thu thập dữ liệu quan trọng, xử l

Trang 1

BÀI 4: KHÁI NIỆM HỆ THỐNG THÔNG TIN, PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH VÀ

AN TOÀN MÁY TÍNH

I Giới thiệu hệ thống thông tin

Tại sao phải nghiên cứu các HTTT và công nghệ thông tin? Cũng giống như người ta đã đặt câu hỏi tương tự tại sao nên nghiên cứu kế toán, tài chính, quản lý tác vụ, tiếp thị, quản lý nguồn nhân lực, hay quản lý chức năng kinh doanh chủ yếu nào khác Các hệ thống và công nghệ thông tin đã trở thành một thành phần sống còn quyết định sự thành công của các doanh nghiệp và các tổ chức Do đó, nó là một môn học cần được nghiên cứu trong việc quản trị và quản lý kinh doanh Có thể bạn sẽ trở thành một nhà quản lý, hay một doanh nhân chuyên nghiệp trong tương lai Chính vì thế, có sự hiểu biết căn bản về HTTT là quan trọng giống như hiểu các lĩnh vực chức năng khác trong kinh doanh

Hệ thống thông tin dùng máy tính (CIS)

Hệ thống là gì? Hệ thống có thể được định nghĩa đơn giản là một nhóm các phần tử tạo thành một thể thống nhất Ví dụ, hệ thống mặt trời và các hành tinh của nó, hệ thống sinh học của

cơ thể, hệ thống kỹ thuật của nhà máy lọc dầu, và hệ thống kinh tế xã hội của một tổ chức

kinh doanh Tuy nhiên, khái niệm hệ thống trong mô tả HTTT xem Hệ thống như một nhóm

các thành phần có liên quan cùng làm việc với nhau hướng về mục tiêu chung bằng cách tiếp nhận đầu vào (Input) và sản xuất đầu ra (Output) trong một quá trình biến đổi có tổ chức Hệ thống có chu kỳ sống của mình gồm các giai đoạn như: thiết kế sơ bộ; thiết kế chi tiết; chế tạo, lắp ráp, tích hợp và thử nghiệm; sản xuất và hỗ trợ khách hàng; kết thúc và vứt bỏ đi Một hệ thống thông tin dùng máy tính có các đặc điểm sau:

• Cung cấp thông tin cần thiết cho tổ chức, kể cả xử lý giao dịch và quản lý hồ sơ chính xác

• Thu thập dữ liệu quan trọng, xử lý chúng, lưu trữ dữ liệu và kết quả xử lý, và truyền bá thông tin trong tổ chức

• Bao gồm dữ liệu, phần cứng, phần mềm, nhân sự được huấn luyện và các thủ tục Tổ chức và tháp quyền lực

Hầu hết các HTTT được thiết kế phù hợp với cấu trúc tổ chức có sẵn và hỗ trợ cho chúng hoạt động Các mảng công việc trong tổ chức có thể bao gồm là tài chính, tiếp thị và kinh doanh, nguồn nhân lực, điều hành và hệ thống thông tin

Chuỗi mệnh lệnh trong tổ chức

Trong tổ chức lớn, giám đốc điều hành (CEO) giao cho các nhà quản lý cấp cao (Senior Manager) phụ trách từng bộ phận như tài chính hay tiếp thị sao cho các bộ phận đó làm việc hiệu quả CEO lo những vấn đề khác lớn hơn như tổ chức sẽ đi về đâu trong tương lai và nó bị ảnh hưởng bởi xu hướng trong môi trường bên ngoài tổ chức ra sao? Nhà quản lý cấp cao thuê nhà quản lý cấp trung (Middle Manager) quản lý các bộ phận nhỏ hơn Nhà quản lý cấp trung

Trang 2

lại phân công trách nhiệm cho nhà quản lý cấp vận hành (Operational Manager) trực tiếp quản lý nhân sự thừa hành như công nhân, thư ký và các nhân viên khác

Tất cả những nhà quản lý đều thực hiện vài hay tất cả những chức năng quản lý sau đây: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát

• Lập kế hoạch: thiết lập mục tiêu và tạo ra chiến lược hoàn thành mục tiêu

• Tổ chức: sắp xếp tài nguyên sao cho đạt được mục tiêu

• Lãnh đạo: truyền thông mục tiêu và khích lệ mọi người đạt được mục tiêu

• Kiểm soát: đánh giá mục tiêu có được đáp ứng không và điều chỉnh hành

Thế nào là thông tin tốt?

Không phải tất cả thông tin đều có giá trị Làm sao phân biệt được dữ liệu và thông tin?

Phân biệt dữ liệu và thông tin Từ dữ liệu dạng số nhiều của datum, nhìn chung từ data (dữ

liệu) dùng cho cả dạng số ít lẫn số nhiều Dữ liệu là sự kiện còn thô sơ hay chỉ là các quan sát, các hiện tượng vật lý hay giao dịch kinh doanh Dữ liệu là sự đo lường khách quan các

thuộc tính (đặc điểm) của thực thể như con người, nơi chốn, sự vật, và biến cố

Người ta thường dùng từ dữ liệu và thông tin có thể hoán đổi cho nhau Tuy nhiên, tốt hơn là nên xem dữ liệu như nguyên liệu thô được xử lý để thành sản phẩm thông tin Kế đó chúng ta

sẽ định nghĩa thông tin là dữ liệu đã được đổi thành cái có ích và có ý nghĩa đối với người

dùng cuối Do đó, dữ liệu thường chịu thêm quá trình xử lý cộng thêm giá trị (data processing hay information processing):

(1) Dữ liệu được tập họp, sắp xếp, tổ chức

(2) Nội dung của nó được phân tích và đánh giá

(3) Và nó được đặt trong bối cảnh thích hợp cho người sử dụng Vì thế, bạn nên xem thông tin như dữ liệu đã xử lý được đặt trong bối cảnh là có ích đối với người dùng cuối Xem hình

Thông tin Dữ liệu

35 000 VNĐ 12 đv

12 000 VNĐ Tâm

Saigon

100 000 VNĐ 100 đv

Xử lý dữ liệu

Người bán: Tâm

Vùng:

Saigon Doanh số hiện tại:

147 đv = 147 000

Hình: Sự biến đổi dữ liệu thành thông tin

Tên, số lượng, và giá trị dollar ghi trên mẫu bán hàng là dữ liệu về giao dịch bán hàng Tuy nhiên, trưởng phòng kinh doanh thì không xem đó là thông tin Nó chỉ là thông tin sau khi sắp xếp, tổ chức thành thông tin bán hàng có ý nghĩa: doanh số theo loại sản phẩm, theo vùng bán hàng, hay theo người bán

Trang 3

Thông tin có giá trị có các đặc điểm sau:

• Tính đúng lúc

• Tính cập nhật

• Tính thời gian

• Tính thường xuyên

• Tính liên quan

• Tính đầy đủ

• Tính xác đáng

• Tính rõ ràng

• Tính chi tiết

• Tính thứ tự

• …

Hệ thống thông tin trong tổ chức:

TPS

Hệ hỗ trợ hoạt động bao gồm loại hệ thống xử lý giao dịch (TPS) Hệ thống xử lý giao dịch

ghi lại và xử lý dữ liệu là kết quả của các giao dịch kinh doanh Ví dụ các HTTT xử lý những thay đổi về bán hàng, mua sắm, và tồn kho Kết quả của những xử lý đó được dùng để cập nhật CSDL khách hàng, tồn kho, và các thứ khác Sau đó, những CSDL này cung cấp tài nguyên dữ liệu có thể tiếp tục được xử lý và sử dụng bởi HTTTQL, Hệ hỗ trợ quyết định, và Hệ thông tin giám đốc

Hệ thống xử lý giao dịch cũng tạo ra nhiều sản phẩm thông tin Thí dụ, hệ thống này tạo ra các bảng kê khách hàng, tài khoản lương nhân viên, biên nhận bán hàng, đơn mua sắm hàng hóa, chi phiếu cổ tức, mẫu thuế, và các bảng kê tài chính Hệ thống xử lý giao dịch xử lý các

giao dịch theo hai cách cơ bản Theo cách xử lý bó, dữ liệu giao dịch được tích lũy trong một khoảng thời gian và được xử lý định kỳ Theo cách xử lý tức thời, dữ liệu được xử lý tức thì

sau khi giao dịch xảy ra Thí dụ, Hệ thống điểm bán (POS) tại các cửa hàng bán lẻ có thể sử dụng thiết bị đầu cuối ghi lại tiền mặt để nắm bắt và chuyển dữ liệu bán hàng qua các mối liên kết viễn thông để các trung tâm máy tính khu vực xử lý tức thời hay theo cách xử lý bó

MIS

MIS ra đời từ năm 1960 trở thành điển hình của hầu hết nỗ lực gắn liền với công nghệ thông tin và lý thuyết hệ thống để xử lý dữ liệu trong các tổ chức Ở thời điểm đó, hiển nhiên là máy tính đang được áp dụng để giải quyết các bài toán kinh doanh theo kiểu từng phần một, tập trung hoàn toàn vào việc máy tính hoá công việc sổ sách và thư ký Khái niệm MIS phát

triển là để khắc phục việc sử dụng máy tính không hiệu quả Mặc dù bị mờ nhạt do những

thất bại ban đầu, các khái niệm MIS vẫn được ghi nhận là hệ thống thông tin hữu hiệu trong các tổ chức vì hai lý do sau:

Trang 4

• Nó nhấn mạnh định hướng quản lý của công nghệ thông tin trong kinh doanh Mục

tiêu chính của hệ thống thông tin dựa vào máy tính là hỗ trợ các nhà quản lý ra quyết

định chứ không phải chỉ đơn thuần xử lý dữ liệu được tạo ra bởi các hoạt động kinh

doanh

• Nó nhấn mạnh các công việc cần làm để xây dựng HTTT (systems framework) để tổ chức các ứng dụng HTTT Các ứng dụng của công nghệ thông tin trong kinh doanh phải được xem như các HTTT dựa vào máy tính được tích hợp và có liên quan lẫn nhau và không được nhìn HTTT như các công việc xử lý dữ liệu độc lập

DSS

Là tiến trình tự nhiên từ hệ thống báo cáo thông tin và hệ thống xử lý giao dịch Hệ hỗ trợ quyết định là HTTT tương tác và dựa vào máy tính, sử dụng các mô hình quyết định và cơ sở dữ liệu chuyên môn hóa để hỗ trợ quá trình ra quyết định của người dùng cuối là nhà quản lý

Do đó, chúng rất khác với hệ thống xử lý giao dịch, tập trung xử lý dữ liệu được tạo ra từ các giao dịch và nghiệp vụ kinh doanh, mặc dù chúng trích lọc dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu công ty

do TPS duy trì Chúng cũng rất khác với HTTTQL, tập trung cung cấp cho nhà quản lý các thông tin được qui định trước (các báo cáo) Nhờ các báo cáo này, nhà quản lý có thể ra các loại quyết định khác nhau hợp lý và hiệu quả hơn

Hệ DSS cung cấp cho nhà quản lý mô hình phân tích, mô phỏng, dữ liệu, và các khả năng trình bày thông tin khác Các nhà quản lý tạo ra thông tin họ cần đối với các loại quyết định không có cấu trúc bằng quá trình dựa trên mô phỏng và tương tác Thí dụ, bảng tính điện tử và phần mềm hỗ trợ quyết định khác cho phép nhà quản lý đặt ra một loạt các câu hỏi dạng What-if và nhận được các câu trả lời kiểu tương tác

Do đó, thông tin từ DSS khác với câu trả lời được qui định trước do MIS tạo ra Khi sử dụng DSS, nhà quản lý mô phỏng, xem xét các trường hợp có thể và nhận thông tin thăm dò dựa trên một loạt các giả định Do đó, nhà quản lý không cần qui định trước nhu cầu thông tin của mình Thay vào đó, DSS giúp họ tức thời tìm được thông tin mong muốn Chương 11 sẽ bàn thêm về vấn đề này

EIS

Là HTTTQL được thay đổi để đáp ứng nhu cầu thông tin chiến lược cho lãnh đạo cấp cao Họ nhận được thông tin từ nhiều nguồn, gồm thư từ, các bản ghi nhớ, tạp chí định kỳ, và các báo cáo viết tay cũng như được tạo bằng máy tính Những nguồn thông tin khác của giám đốc là các buổi họp, các cuộc điện thoại, và hoạt động xã hội Do đó, nhiều thông tin cho họ phát xuất từ những nguồn không phải là máy tính Thông tin do máy tính tạo ra không giữ vai trò chủ yếu trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của các nhà lãnh đạo

Mục đích của hệ thống thông tin hỗ trợ giám đốc dựa vào máy tính là cung cấp cho họ khả năng truy cập dễ dàng và tức thì thông tin có chọn lọc, có tính quyết định đến việc hoàn thành mục tiêu chiến lược của công ty Do đó, EIS phải dễ dùng và dễ hiểu Kết xuất đồ họa được dùng nhiều hơn, truy xuất tức thì cơ sở dữ liệu bên trong và bên ngoài được cung cấp EIS cung cấp thông tin về tình trạng hiện thời và xu hướng của các yếu tố chính do các nhà lãnh đạo chọn lọc EIS đã trở nên rất phổ biến trong những năm gần đây đến mức các nhà quản lý bậc trung cũng dùng nó

Trang 5

ES

Sự phát triển của thông minh nhân tạo (AI) đã ảnh hưởng đến các HTTT Thông minh nhân tạo là một ngành khoa học máy tính mà mục tiêu lâu dài của nó là phát triển cho các máy tính suy nghĩ, cũng như nhìn thấy, nghe thấy, đi đứng, trò chuyện và cảm giác được Thí dụ, các dự án AI, gắn liền với sự phát triển các giao diện máy tính tự nhiên, người máy công nghiệp cao cấp, các phần mềm máy tính thông minh Mủi đột phá chính là phát triển các chức năng máy tính kết hợp với sự thông minh của con người, như lý luận, học tập, giải quyết vấn đề

Một trong những ứng dụng thực tiễn nhất của AI là phát triển hệ chuyên gia (ES) Hệ chuyên

gia là HTTT dựa trên cơ sở tri thức; nghĩa là nó sử dụng kiến thức về một lãnh vực cụ thể để

hoạt động như một nhà tư vấn chuyên nghiệp đối với người sử dụng Các thành phần của hệ chuyên gia là cơ sở kiến thức và phần mềm thực hiện kết luận dựa trên kiến thức và cho các câu trả lời đối với các câu hỏi của người sử dụng Hệ chuyên gia đang được sử dụng trong nhiều lãnh vực khác nhau, gồm ngành y, kỹ thuật, vật lý, và kinh doanh Thí dụ, hệ chuyên gia ngày nay giúp chẩn đoán bệnh tật, tìm kiếm mỏ khoáng, phân tích hợp chất, tư vấn đại tu, và làm kế hoạch tài chính Hệ chuyên gia có thể hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ, hoặc quản lý

Kho dữ liệu và Khai thác dữ liệu

Kho chứa dữ liệu lưu trữ dữ liệu trong năm và các năm trước nữa, trích xuất từ nhiều cơ sở dữ liệu điều hành khác nhau của cơ quan Đó là tài nguyên dữ liệu trung tâm đã được chọn lọc, hiệu đính, tiêu chuẩn hóa, và tích hợp để giám đốc và những người dùng cuối khác có thể sử dụng cho nhiều dạng phân tích kinh doanh, nghiên cứu thị trường, và hỗ trợ quyết định Kho

chứa dữ liệu có thể lại được phân nhỏ thành gian dữ liệu (data marts), chứa từng phần bộ dữ liệu cụ thể của kho dữ liệu Một cách dùng chủ yếu của kho chứa dữ liệu là khai thác dữ liệu

Trong khi khai quật dữ liệu, các dữ liệu trong kho chứa dữ liệu được xử lý để nhận diện những yếu tố khóa và những xu hướng diễn ra trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Việc này dùng để giúp cho giám đốc ra quyết định về thay đổi chiến lược trong hoạt động kinh doanh để giành thêm lợi thế cạnh tranh trên thị trường

Máy tính trong lĩnh vực bán lẻ

Trong lĩnh vực bán lẻ, máy tính được sử dụng rất phổ biến để tạo ra lợi thế cạnh tranh Thí dụ, tại các điểm bán POS (Point of Sale), nhân viên kiểm tra tính tiền các món hàng bằng cách quét chúng qua máy đọc mã vạch UPC (Universal Product Code) mà bạn có thể nhìn trên các gói hàng thực phẩm và nhiều sản phẩm khác Máy quét trong siêu thị phát ra chùm tia laser và chúng sẽ bị tắt do mã vạch UPC cản trở Hình ảnh phản xạ được biến đổi thành xung điện và gửi tới máy tính lưu trữ, chúng phù hợp với thông tin về giá Thông tin về giá được trả về cho thiết bị đầu cuối, hiện ra trên màn hình và in nó ra trên biên lai khách hàng Nhờ thế mà việc xử lý nhanh hơn và sai sót về giá ít hơn Ngoài ra, thẻ thông minh được sử dụng rộng rãi để thanh toán tại các nơi tính tiền tại bãi giữ xe, máy bán hàng, quầy sách báo, trả tiền điện thoại, và các cửa hàng bán lẻ Trong một kiểm tra tại New York người ta nhận

Trang 6

thấy nhờ hệ thống kiểm tra ảnh khách hàng khi sử dụng thẻ tín dụng, hệ thống tự động truy cập vào cơ sở dữ liệu hình ảnh và cho hiện lên ảnh của họ đã làm giảm đến 95% sự gian lận thẻ tín dụng

II Các ngôn ngữ lập trình

Ngôn ngữ lập trình cho phép thảo chương viên phát triển tập hợp các lệnh cấu tạo thành

chương trình máy tính Nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau đã được phát triển, mỗi loại có từ vựng, ngữ pháp, và cách dùng riêng của nó

5 thế hệ ngôn ngữ (TLTK: 8C page 454)

Ngôn ngữ máy

Ngôn ngữ máy (hoặc ngôn ngữ thế hệ thứ nhất) là ngôn ngữ lập trình ở mức căn bản nhất

Trong thời kỳ đầu của sự phát triển máy tính, tất cả các lệnh chương trình phải được viết bằng cách dùng mã nhị phân duy nhất cho mỗi máy tính Loại lập trình này gắn liền với nhiệm vụ ghi lệnh khó khăn theo dạng một chuỗi các chữ số nhị phân (một hay không) hoặc hệ thống số khác Các nhà lập trình phải có kiến thức sâu về các hoạt động bên trong của loại CPU cụ thể họ đang sử dụng Họ phải viết chuỗi dài các lệnh chi tiết để hoàn thành nhiệm vụ xử lý đơn giản Lập trình theo ngôn ngữ máy đòi hỏi ghi rõ những vị trí ô nhớ cho mỗi lệnh và mục của dữ liệu được dùng Những yêu cầu này làm cho việc lập trình ngôn ngữ máy trở thành một nhiệm vụ khó khăn và dễ sai Chương trình ngôn ngữ máy cộng hai số với nhau trong CPU của một máy tính cụ thể và lưu trữ kết quả có thể có dạng được trình bày ở hình

• Ngôn ngữ máy:

Sử dụng lệnh mã nhị phân

1010 11001

1011 11010

1100 11011

• Ngôn ngữ cấp cao:

Sử dụng các phát biểu ngắn hay các khái niệm số học:

BASIC: X = Y + Z COBOL: COMPUTE X = Y + Z

• Hợp ngữ Assembler:

Sử dụng lệnh mã ký hiệu

LOD Y

ADD Z

STR X

• Ngôn ngữ thế hệ thứ tư:

Sử dụng các phát biểu tự nhiên và không cấu trúc SUM THE FOLLOWING NUMBERS

Hình: Ví dụ về bốn ngôn ngữ lập trình Những lệnh ngôn ngữ lập trình này có thể được dùng

để tính tổng hai số biểu diễn bởi công thức X = Y + Z

Ngôn ngữ Assembler

Ngôn ngữ Assembler (hoặc ngôn ngữ thế hệ thứ hai) là ngôn ngữ lập trình ở mức kế tiếp Chúng được phát triển nhằm giảm bớt khó khăn trong việc lập trình ngôn ngữ máy Việc sử

Trang 7

dụng ngôn ngữ Assemler đòi hỏi các chương trình dịch ngôn ngữ gọi là Assemblers cho phép máy tính biến đổi các lệnh của ngôn ngữ đó sang lệnh máy Ngôn ngữ Assembler thường được gọi là ngôn ngữ ký hiệu bởi vì các ký hiệu được dùng để biểu diễn mã tác vụ và và địa chỉ nhớ Viết tắt theo bảng chữ cái tiện lợi và những ký hiệu khác biểu diễn các phần tử mã tác vụ, vị trí nhớ, và dữ liệu Ví dụ, tính X=Y+Z trong ngôn ngữ Assenbler có thể có dạng như hình trên

Các ưu điểm và khuyết điểm Ngôn ngữ Assembler dùng các chữ viết tắt theo bảng chữ cái

dễ nhớ hơn thay cho các địa chỉ bằng số thực tế của dữ liệu Điều này làm cho lập trình hết sức đơn giản, bởi vì lập trình viên không cần biết chính xác vị trí nhớ của dữ liệu và lệnh Tuy nhiên, ngôn ngữ Assembler vẫn còn định hướng máy, bởi vì những lệnh ngôn ngữ Assembler rất gần với lệnh ngôn ngữ máy của kiểu máy tính cụ thể đang được sử dụng Ngoài ra, lưu ý rằng mỗi lệnh Assembler tương ứng một lệnh máy duy nhất, và số lệnh như nhau được yêu cầu cho cả hai minh họa

Ngôn ngữ Assembler vẫn được sử dụng rộng rãi như một phương thức lập trình máy tính theo ngôn ngữ định hướng máy Hầu hết nhà sản xuất máy tính cung cấp ngôn ngữ Assembler phản ánh lại tập lệnh ngôn ngữ máy duy nhất của một loại máy tính Tính năng này là mong muốn đặc biệt đối với các nhà lập trình hệ thống (ngược lại với lập trình ứng dụng), bởi vì nó cung cấp cho các nhà lập trình sự điều khiển và linh hoạt hơn khi thiết kế một chương trình đối với một máy tính cụ thể Sau đó, họ có thể sản xuất ra các phần mềm hiệu quả hơn, nghĩa là, các chương trình yêu cầu các lệnh, ô nhớ, và thời gian CPU hoạt động ít nhất để thực hiện công việc xử lý đặc biệt được giao

Ngôn ngữ bậc cao

Ngôn ngữ bậc cao (hoặc ngôn ngữ thế hệ thứ ba) sử dụng các lệnh, được gọi là phát biểu, sử

dụng những phát biểu tắt hoặc các biểu thức số học Các phát biểu ngôn ngữ bậc cao riêng rẽ

thực tế là các lệnh macro; nghĩa là, mỗi phát biểu phát ra nhiều lệnh máy khi dịch thành ngôn ngữ máy bởi chương trình dịch ngôn ngữ bậc cao gọi là compilers hoặc intepreters Các phát

biểu ngôn ngữ bậc cao giống như các câu hay biểu thức toán học được yêu cầu để biểu diễn

bài toán hoặc thủ tục đang được lập trình Cú pháp (nguyên tắc ngữ vựng, chấm câu, luật văn phạm) và ngữ nghĩa (ý nghĩa) của những phát biểu đó không phản ánh mã bên trong của bất

kỳ máy tính cụ thể nào Ví dụ, việc tính toán X=Y+Z sẽ được lập trình theo ngôn ngữ bậc cao của BASIC và COBOL được thể hiện ở hình trên

Các ưu điểm và khuyết điểm Hiển nhiên là ngôn ngữ bậc cao dễ học và dễ hiểu hơn ngôn

ngữ Assembler Hơn nữa, ngôn ngữ bậc cao có nguyên tắc, hình thức, cú pháp ít khắt khe hơn, cho nên, khả năng bị lỗi giảm đi Tuy nhiên, các chương trình ngôn ngữ bậc cao thường ít hiệu quả hơn chương trình ngôn ngữ Assembler và đòi hỏi giờ máy lớn để dịch sang lệnh máy Bởi

vì hầu hết ngôn ngữ bậc cao là độc lập máy, các chương trình được viết theo ngôn ngữ bậc cao không cần phải lập trình lại khi một máy tính mới được thiết lập, và các lập trình viên máy tính không phải học ngôn ngữ mới cho mỗi máy tính họ lập trình Bảng sau đây nhấn mạnh một vài ngôn ngữ bậc cao chủ yếu vẫn được sử dụng theo vài dạng ngày nay

Trang 8

Ada: Augusta Ada Byron, lập trình viên đầu tiên thế giới xem xét đến Được phát triển cho Bộ Quốc

phòng Mỹ như ngôn ngữ cấp cao chuẩn thay cho COBOL và FORTRAN

BASIC: (Beginner’s All-Purpose Symbolic Instruction Code) Ngôn ngữ định hướng thù tục đơn giản

được thiết kế cho việc lập trình của người dùng cuối

C: ngôn ngữ cấu trúc mức vừa được phát triển như một phần của hệ điều hành UNIX Nó giống với

ngôn ngữ Assembler độc lập máy

COBOL: (Common Business Oriented Language) Ngôn ngữ giống tiếng Anh được sử dụng rộng rãi

để lập trình cho các ứng dụng kinh doanh

FORTRAN: (FORmula TRANslation) Ngôn ngữ bậc cao được thiết kế cho các ứng dụng khoa học

kỹ thuật

Pascal: Do Blair Pascal đặt tên Được phát triển đặc biệt cho các khái niệm lập trình cấu trúc chặt

chẽ

Bảng: Nhiều ngôn ngữ lập trình cấp cao quan trọng

Ngôn ngữ thế hệ thứ tư

Ngôn ngữ thế hệ thứ tư mô tả nhiều loại ngôn ngữ lập trình khác nhau, không thủ tục và

không qui ước nhiều như những ngôn ngữ trước Các ngôn ngữ này được gọi là ngôn ngữ thế hệ thứ tư (4GLs) để phân biệt chúng với ngôn ngữ máy (thế hệ thứ nhất), ngôn ngữ Assembler (thế hệ thứ hai), và ngôn ngữ bậc cao (thế hệ thứ ba)

Hầu hết các ngôn ngữ thế hệ thứ tư là ngôn ngữ không thủ tục, khuyến khích người sử dụng

và các lập trình viên qui định kết quả họ muốn, trong khi máy tính xác định thứ tự các lệnh đạt được những kết quả này Người sử dụng và lập trình viên không còn phải mất nhiều thời gian viết nhiều lệnh máy tính phải theo để đạt được kết quả Vì thế, ngôn ngữ thế hệ thứ tư

đã giúp đơn giản hóa quá trình lập trình Ngôn ngữ tự nhiên là 4GLs rất gần với tiếng Anh

hoặc ngôn ngữ con người khác Hoạt động nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển ngôn ngữ lập trình, dễ sử dụng cũng như đàm thoại thông thường bằng tiếng mẹ đẻ

Ví dụ, INTELLECT, ngôn ngữ tự nhiên 4GL, sẽ sử dụng phát biểu như, “What are the average exam scores in MIS 200?” để lập trình một nhiệm vụ ghi điểm kiểm tra trung bình đơn giản

Các ưu điểm và khuyết điểm Có nhiều sự khác nhau chủ yếu trong tính dễ sử dụng và sự

phức tạp kỹ thuật của sản phẩm 4GL Ví dụ, INTELLECT và English Wizard là những ví dụ của ngôn ngữ truy vấn tự nhiên không đặt nặng các nguyên tắc văn phạm chặt chẽ, trong khi ngôn ngữ truy vấn như SQL đòi hỏi các phát biểu cấu trúc ngắn gọn Tuy nhiên, tính dễ dùng của 4GL, nguời sử dụng thường rất khó ghi chồng lên các dạng thức hay thủ tục của 4GLs được qui định trước Hơn nữa, mã ngôn ngữ máy được tạo ra bởi chương trình mà chương trình đó lại được phát triển bởi 4 GLs thì hiệu quả kém hơn nhiều (tốc độ xử lý và số lượng ô nhớ cần đến) so với chương trình được viết bằng ngôn ngữ như COBOL Những sai hỏng chủ yếu xảy ra trong vài ứng dụng xử lý giao dịch lớn được lập trình theo 4GL Những ứng dụng này không có khả năng cung cấp thời gian đáp ứng hợp lý khi đối mặt với số lượng lớn các xử lý giao dịch và hỏi đáp của người dùng cuối trong thực tế Tuy nhiên, 4GLs đã cho thấy một thành công lớn trong các ứng dụng kinh doanh không có quá nhiều khối lượng xử lý giao dịch

Trang 9

Ngôn ngữ định hướng đối tượng

Hình: Ví dụ về đối tượng là tài khoản

tiết kiệm ngân hàng, gồm dữ liệu về

cân đối tài khoản khách hàng và các

tác vụ căn bản có thể được thực hiện

trên dữ liệu này

Ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng (OOP) đã có từ khi Xerox phát triển Smalltalk vào năm

1960 Tuy nhiên, ngôn ngữ hướng đối tương như Visual Basic, C++, and Java đã trở thành công cụ chủ yếu của việc phát triển phần mềm Tóm lại, trong khi hầu hết những ngôn ngữ lập trình khác tách yếu tố dữ liệu ra khỏi các thủ tục hay các lệnh sẽ được thực hiện nhờ vào

chúng, ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng “cột” chúng lại với nhau thành các đối tượng Vì

thế, một đối tượng gồm có dữ liệu và lệnh có thể được thực hiện dựa vào dữ liệu Ví du,ï một đối tượng có thể là một tập hợp dữ liệu về tài khoản tiết kiệm ngân hàng của khách hàng, và các tác vụ (như tính lãi) có

thể được thực hiện nhờ vào dữ liệu Hoặc một đối tượng có thể là dữ liệu dạng đồ họa như cửa sổ hiển thị video, cộng với các lệnh hiển thị có thể được sử dụng nhờ vào đối tượng Xem hình

Trong ngôn ngữ thủ tục, chương trình gồm các thủ tục thực hiện lệnh dựa trên từng yếu tố dữ liệu Tuy nhiên, trong hệ thống hướng đối tượng, đối tượng nói những đối tượng khác thực hiện lệnh trên chính nó Ví dụ, để mở một cửa sổ hiển thị trên màn hình máy tính, đối tượng menu đầu tiên có thể gởi một thông báo mở cho đối tượng cửa sổ và cửa sổ sẽ xuất hiện trên màn hình Đó là bởi vì đối tượng cửa sổ chứa mã chương trình để mở chính nó

Ngôn ngữ hướng đối tượng dễ sử dụng và hiệu quả hơn cho việc lập trình giao diện người sử dụng hướng đồ họa mà nhiều ứng dụng đòi hỏi Ngoài ra, một khi đối tượng được lập trình, chúng có thể sử dụng lại được Bởi thế, việc sử dụng lại các đối tượng là một lợi thế chính của lập trình định hướng đối tượng Ví dụ, các nhà lập trình có thể xây dựng giao diện người sử dụng cho chương trình mới bằng cách ráp các đối tượng chuẩn như cửa sổ, thanh, hộp, nút, và biểu tượng Vì thế, hầu hết những bộ lập trình ngôn ngữ hướng đối tượng cung cấp cho GUI, hỗ trợ “trỏ và nhấp”, “ấn giữ, kéo và buông” sự lắp ráp đối tượng nhìn thấy được, gọi là

lập trình trông thấy

Giới thiệu Chu kỳ Phát triển chương trình

Gồm sáu giai đoạn:

Trang 10

• Xác định vấn đề: Đây là việc của nhà phân tích hệ thống, họ cung cấp các đặc tả chương trình (dữ liệu đầu vào, dạng thức thông tin đầu ra, giao diện) cho các thảo chương viên

• Thiết kế chương trình: qui định các thành phần làm cho chương trình hoạt động Công cụ sử dụng là lưu đồ và sơ đồ hình cây

• Viết (coding) chương trình: chọn ngôn ngữ thích hợp, gõ vào các câu lệnh tuân theo cú pháp (syntax)

• Thử và tìm lỗi chương trình: sau khi loại bỏ lỗi cú pháp chương trình sẽ được thực thi Tuy nhiên, có thể tồn tại lỗi luận lý (logic) vì chương trình dịch không thể phát hiện được lỗi này và có thể dẫn đến kết quả sai

• Tài liệu hóa chương trình: viết tất cả thành tài liệu để có thể sửa hay phát triển chương trình sau này

• Thực hiện và duy trì chương trình: cho người sử dụng chạy thử, họ có thể phát hiện các lỗi mà giai đoạn bốn bỏ qua Nhóm lập trình sửa các lỗi này và cần đánh giá chương trình định kỳ để cải tiến hay cập nhật hay bổ sung tính năng mới cho chương trình

III An toàn máy tính

Theo một thăm dò gần đây tại Hoa Kỳ, hơn phân nữa các công ty được thăm dò bị tổn thất tài chính hơn 100 000 USD do gian lận bằng máy tính; 17 công ty mất hơn một triệu đô la chỉ do yếu tố an toàn

Tội phạm máy tính và Internet

Thủ thuật lấy cắp mật khẩu

• Đoán mật khẩu

• Nhìn lén khi người sử dụng gõ mật khẩu vào bàn phím

• Sử dụng chương trình kiểmtra dữ liệu và tìm mật khẩu, số thẻ tín dụng và các thông tin có giá trị khác

• Tìm tên và mật khẩu người sử dụng trong các giỏ rác của tổ chức/công ty

• Nhà quản trị mạng có cơ hội biết được thông tin về máy tính và hệ thống mail của bạn

• Chuyên viên kỹ thuật yêu cầu bạn cho biết thông tin về tên và mật khẩu khi giúp bạn khắc phục sự cố nào đó

Sửa chương trình và dữ liệu để lấy cắp tiền khách hàng

Lập trình viên thay đổi chương trình trừ một số tiền rất nhỏ của từng khách hàng Vì có nhiều khách hàng nên số tiền lấy cắp có thể là đáng kể Trong trường hợp sửa dữ liệu, người nội bộ sửa dữ liệu về về tài khoản của khách hàng để họ không biết số tiền bị mất

Virus máy tính

Ngày đăng: 22/07/2014, 01:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w