NGÀNH CHÂN KHỚP ARTHROPODAĐây là ngành động vật lớn nhất với hơn 1.5 triệu loài, chúng có hình thái rất đa dạng với những đặc điểm cơ bản sau: - Cơ thể đối xứng hai bên, phân đốt dị hình
Trang 1NGÀNH CHÂN KHỚP (ARTHROPODA)
Đây là ngành động vật lớn nhất với hơn 1.5 triệu loài, chúng có hình thái rất
đa dạng với những đặc điểm cơ bản sau:
- Cơ thể đối xứng hai bên, phân đốt dị hình nhưng từng nhóm đốt lại có xu hướng nối liền nhau để tạo thành phần cơ thể rỏ rệt như đầu, ngực, bụng
- Toàn bộ cơ thể được bao bọc bằng một lớp cutincu, mỗi đốt có màng nối mềm làm cho chúng có thể cử động được chỉ trừ các đốt liền nhau như đầu, ngực có khi lớp chitin này thấm muối vô cơ (CO32-, PO43-) hay các chất khác làm cho vỏ cơ thể trở nên cứng Chitin là một polysaccharite có chưa nitơ (polyacetylglucosamine) co tính thun giản bền chắc Màu sắc của vỏ bên ngoài có thể là do màu sắc hóa học của các sắc tố trong tế bào biểu mô hay do sắc màu lý học của lớp chitin (do hiện tượng giao thoa ánh sáng) hay cả hai Do có lớp chitin cứng bao bọc nên chúng phải lột xác để lớn lên
- Có các phần phụ với cấu tạo phân đốt, phân hóa đa dạng giữ các chức năng khác nhau trong hoạt động sống, bên cạnh phần phụ này (chân bò, chân hàm, chân bơi) chúng có thể hình thành cánh Các phần phụ này hoạt động được nhờ những bó cơ riêng biệt bám vàomấu trong của lớp chitin để điều khiển hoạt động của từng bộ phận và có sự xuất hiện các cơ đối kháng
I Lớp Giáp Xác (Crustacea)
1 Đặc điểm chung
- Phân bố rộng trong môi trường nước như sống được trong môi trường đất ẩm, bơi hay trôi nổi trong nước, bò hay sống cố định hoặc ký sinh
Trang 2- Cơ thể phân hóa rỏ thành ba phần là đầu, thân và bụng Tuy vậy tùy theo loài mà cá đốt trên cơ thể có khuynh hướng kết lại và bọc chung trong một vỏ giáp (giáp đầu ngực)
- Cơ thể phân đốt, mỗi đốt có một đôi phụ bộ và tùy theo nhiệm vụ mà các phụ bộ này có cấu tạo khác nhau:
+ Râu 1 có 1, 2 hay 3 nhánh tùy theo loài với nhiệm vụ là khứu giác và xúc giác do hạch thần kinh não điều khiển, phần này tươngứng với xúc biện + Râu A2 do phần phụ đốt thân thứ 1 biến đổi thành, râu này có 2 nhánh và làm nhiệm vụ xúc giác
+ Hàm trên gồm hai nhánhhay một phiến nghiền, có xúc biện hay khôngg có Xúc biện do nhánh trong của phiến nghiền biến đổi thành
+ Hàm dưới 1 và 2 có hai nhánh
+ mắt cũng được xem như là phụ bộ vì mắt có cuống và khi mắt bị đứt thì nó sẽ tái sinh thành râu
Hình 9.1: Mặt cắt dọc của một con tôm thể hiện cấu tạo trong của giáp xác (theo Root).
Trang 3- Hệ hô hấp: ở giáp xác thấp không có cơ quan hô hấp chuyên biệt cho nên quá trình trao đổi chất diễn ra trên bề mặt cơ thể, riêng các loài giáp xác cao có cơ quan hô hấp chuyên hóa là những tấm mang hay sợi mang nằm ở gốc các phần phụ
- Hệ tuần hoàn gồm
có tim và các mạch máu,
máu không có màu đỏ vì
đây là hemocyanin với nhân
là Cu2+
- Hệ tiêu hóa gồm có
miệng, dạ dày, ruột và hậu môn nhưng ruột được chia thành 3 phần: phần trước có chitin lót ở mặt trong, phần giữa có dịch tiêu hóa do gan tiết vào
- Hệ bài tiết do hậu đơn thận biến đổi thành tuyến râu và tuyến hàm
- Tuyến nội tiết còn có tuyến lột xác còn gọi là tuyến Y giúp con vật sinh trưởng và tái sinh, tuyến xoang ở cuống mắt điều khiển sự lột xác và sinh trưởng, sinh trứng cùng với sự biến màu Tuyến sinh tinh nằm sát với ống sinh tinh, nó kiểm soát mọi sự phân hóa sinh dục ở con đực, riêng ở con cái thì di buồng trứng chi phối Tuyến X kìm hãm sự tăng trưởng của tuyến sinh tinh
- Hệ thần kinh bao gồm chuổi hạch kép nằm ở phần bụng, chuổi này có thể
co ngắn hay tập trung lại
- Các giác quan như xúc giác do lông trên râu hay rãi rác trên cơ thể đãm nhận, túi thăng bằng nằm ở gốc râu A2 của bộ Decapoda hoặc ở nhánh trong chân bụng 6 của Mysidacea, mắt là dạng mắt kép
- Đực cái phân tính, sinh sản hữu tính Trứng thụ tinh sẽ qua một số giai đoạn biến thái rồi hình thành nên con trưởng thành hay cũng có hiện tượng sinh sản đơn tính như ở giáp xác thấp
2 Một số giống loài thường gặp
Hình 9.2: hệ tuần hoàn của tôm (theo Gegenbaur).
Trang 4a Phân lớp giáp xác lớn (Malacostraca)
+ Bộ decapoda
Bộ phụ Natantia
- Phần bụng và phần phụ bụng phát triển thích ứng với lối sống bơi lội
- Kích thước cơ thể lớn, phần đầu và ngực nằm chung trong một vỏ giáp (gọi là giáp đầu ngực) Có ba đôi chân hàm, 5 đôi chân ngực và 6 đôi chân bụng
- Giáp đầu ngực kéo dài về phiá trước tạo thành chủy, có răng ở cạnh trên và cạnh dưới Số lượng và sự phân bố của răng chủy là đặc điểm phân loại
Công thức răng chủy được xác định như sau
c
b a
CR= / với a: số răng trên giáp đầu ngực; b: tổng số răng cạnh trên và c: tổng số răng ở cạnh dưới
- Trên giáp còn có gờ, gai, rãnh như: gở rãnh trên chủy, gờ rãnh râu, rãnh tim mang, gai râu, gai gan
- Trên phần bụng có 5 đôi chân bơi và 1 đôi chân đuôi (telson), mỗi đôi chân đều có cấu tạo dạng hai nhánh
- Họ Palaemonidae: đôi chân ngực 1 và 2 có dạng kìm, vòng vỏ đốt thân số 2 bao trùm vòng vỏ 1 và 3, râu 1 có 3 nhánh
Macrobrachium: Có gai râu và gai gan, không có gai mang.
Exopalaemon: có gai râu, gai mang, không có gai gan, chủy dài hình σ
Palaemonetes: có gai râu, gai mang, không có gai gan, chủy không có mào
nhô cao
Leptocarpus: chỉ có gai râu
- Họ Penaeidae: đôi chân ngực 1, 2 và 3 có dạng kìm, vòng vỏ đốt thân số 2 không bao trùm vòng vỏ 1, râu 1 có 2 nhánh
Penaeus: chủy có răng trên và dưới
Metapenaeus: không có răng dưới chủy, chủy thẳng, gốc chủy nhô cao.
Trang 5Parapenaeopsis: không có răng dưới chủy, chủy cong dạng σ.
Metapenaeopsis: không
có răng dưới chủy, đầu lớn vỏ
dày
Parapenaeus: không có
răng dưới chủy, đường khớp
dọc ở mặt lưng kéo dài từ gốc
chủy đến hết bờ sau của giáp
đầu ngực
Atypopenaeus: không
có răng dưới chủy, có sóng
lưng từ đốt số 2 đến số 6
Trachypenaeus: không có
răng dưới chủy, có rãnh dọc
kéo dài trên gai gan
- Họ Atyidae: Giáp đầu
ngực chỉ có gai râu,
đầu của càng số 1 và 2
có túm lông rậm, kích
thước cơ thể nhỏ hơn 50 mm
Bộ phụ Reptantia hay Branchyura
- Bụng và phần bụng kém phát triển, thích ứng với lối sống bò tuy nhiên cũng có khả năng bơi lội được
- Giáp đầu ngựchình hộp, gần vuông, không có chủy
+ cạnh trước có trán và ổ mắt, góc ngoài có răng ổ mắt
+ cạnh bên của giáp đầu ngực chia thành cạnh bên trước và sau
Hình 9.3: Một số dạng của Bộ Decapoda A: Palaemonetes vulgaris; B-C: Ốc mượn hồn Pagurus; D: Cua biển Callinectes
sapidus; E: còng Uca crenulata (theo Davenport).
Trang 6+ Trên mặt lưng giáp đầu ngực có gờ, rãnh và thùy như rãnh đầu, rãnh bán nguyệt, rãnh chữ H, gờ sau trán, thùy sau trán
- Phần bụng có 7 đốt và có xu hướng tiêu giảm, nó gấp vào mặt dưới của giáp đầu ngực gọi là yếm
- Phần phụ bụng có khuynh hướng tiêu giảm, con cái có 4 đôi chân bụng có 2 nhánh, con đực chỉ còn lại hai đôi chân bụng 1 và 2 biến thành chân giao cấu Không có chân đuôi
Họ Parathelphusidae: giáp đầu ngực có 3 răng lớn cạnh bên Đốt 6-7 của phần bụng tóp nhỏ lại
Somanithelphusa: đây là giống cua đồng
Họ Potamidae: giáp đầu ngực không có răng lớn, đốt bụng 6 và 7 thuôn đều, cạnh bên nhẵn hoặc viền mấu gai
Ranguna: chân giao phối 1 cong về phía trong, đốt ngọn hình vuốt nhọn, gờ
sau trán nổi rỏ
Potamiscus: chân giao phối 1 có phần ngọn hình búp hay lưỡi dao thẳng.
Họ Ocynpodidae: cuốn mắt dài và nhỏ, hai càng bên trái và phải lớn nhỏ không đều nhau, nhất là ở con đực Giáp đầu ngực hình vuông hay hình chữ nhật,
ít khi tròn, xoang miệng bình thường, khoang mắt dài và hơi nghiên gần như chiếm cả phần trước vỏ giáp
Uca: đây là giống còng vùng triều ven biển
Họ Portunidae: chân bò ít nhiều thích nghi với đời sống bơi, góc trong nhánh trong chân hàm 1 thường có 1 lá nhỏ, xúc giác 1 gập nghiên hay nằm ngang
Scylla: trong giống ciua biển này có ba loài phổ biến ở ĐBSCL
Portunus: cũng có nhiều loài ghẹ ở ĐBSCL
Họ Grapsidae: hai bên thân thẳng hay hơi cong, gần giống như hình vuông, trán rộng
Trang 7Varuna: nhân dân ven biển thường bắt gặp vào những tháng mùa đông, đây
là thời kỳ sinh sản, chúng nổi trên mặt biển để tìm bạn
Matura: chúng thường được thấy cùng với Varuna.
+ Bộ Stomatopoda (giáp xác chân hàm)
- Đây là loại giáp xác lớn, có hình con bọ ngựa, đôi chân ngực 2 biến thành dạng lưỡi hái (giống như càng của con bọ ngựa)
- Các đốt ngực trông rất rỏ ràng, các đốt bụng phát triển lớn và đôi chân bụng
6 kết hợp với đuôi tạo thành bánh lái
- Là loài ăn thịt, sống đáy chủ yếu ở vùng biển nhiệt đới
Họ Squillidea
Squillaraphidea
Squilla
+ Bộ Mysidacea
(giáp xác chân chẻ)
- Sống ở vùng
nước ngọt và
nước mặn
- Có vỏ giáp bao
trùm phần ngoài của giáp đầu ngực
Hình 9.4: Hình dạng ngoài của Stomatopoda Squilla mantis (theo Calman)
Hình 9.5: Một dạng Mysidacea Mysis sp (theo sars)
Trang 8- Chân ngực có hai nhánh, chân ngực 1 biến thành chân hàm
- Con mẹ giữ trứng cho đến khi nở thành con non
Họ Mysidae + Bộ Isopoda và Tanaidacea (giáp xác chân đều)
hướng lưng bụng, các đốt đầu nối liền với 1 hoặc 2 đốt ngực, không có vỏ giáp bao phần đầu ngực
- Các đôi chân bụng có dạng một nhánh, giống nhau theo kiểu chân bơi Chân bụng dẹp mỏng, có mang ở mỗi chân, các chân này xếp chồng lên nhau hình thành nắp đậy
- Sinh sản hữu tính (sống trong môi trường nước), trứng phát triển trong buồng phôi (ngực con cái) cho đến khi thành con non giống với bố mẹ (thiếu đôi chân cuối cùng)
- Riêng Isopoda phần chân đuôi có cấu tạo dạng chân lá có hai nhánh
Họ Anthuridae: cơ thể hình que dài, chân ngực 1 có cấu tạo khác với các chân ngực sau
Cyathura
Họ Corallanidae: cơ thể hình trứng, chân ngực 1 giống với các chân ngực khác
Tachaea
Hình 9.6: Một số dạng giáp xác A: Cumacida; B: Isopodida; C:
Tanaiida; D: Isopodida (theo Sars, Smith, Hale và Johnson).
Trang 9+ Bộ Tanaidacea: chân đuôi gồm một phần gốc và hai nhánh hình sợi phân đốt
Họ Apseudidae
Apseudes
+ Bộ Amphipoda (giáp xác chân khác, giáp xác bơi nghiên)
- Cơ thể dẹp bên, phầnđầu gắn liền với một hoặc hai đốt ngực, không có giáp đầu ngực
- Chân ngực có cấu tạo khác nhau từ trước đến sau
+ Hai đôi đầu biến thành càng
+ 5 đôi sau dạng chân bò, trong đó 3 đôi cuối dài hơn và hướng ra phía sau
- Chân bụng có 6 đôi
+ 3 đôi đầu dạng chân bơi
+ 3 đôi sau dạng chân nhảy
- Telson có dạng 1 phiến liền hay dạng 2 thùy cách biệt nhau
- Sinh sản hữu tính, con mẹ giữ trứng trong khoang trứng cho đến khi phát triển thành con non
Họ Haustoriidae: râu 1 có nhánh phụ, dài ít nhất là 2 đốt, râu 1 ngắn hơn râu 2 Các đốt chân ngực ngắn, bè to, có nhiều tơ rậm
Eohaustorius
Họ Grammaridae: râu 1 có nhánh phụ, râu 1 dài hơn râu 2 Các đốt chân ngực hẹp và thưa
Melita
Họ Hyalidae: râu 1 không có nhánh phụ, nếu có thì chỉ có một đốt, không có xúc biện ở hàmtrên, đốt gốc chân ngực 3 và 4 không có răng cạnh sau
Trang 10Họ Oedicerostidae: có xúc biện hàm trên, đốt gốc chân ngực 3 và 5 không có răng cạnh sau, râu 1 không nhân nhánh, chủy lớn có dạng mỏ cong Chân đuôi nhẵn
Metoediceropsis
Họ Corophiidae: có xúc biện hàm trên, đốt gốc chân ngực 3 và 5 không có răng cạnh sau, râu 1 không phân nhánh, chủy nhỏ hình mũi nhọn
Kamaka: các đốt 2, 4, 5 của phần cuốn râu ở con đực thon dài, không có gai
hay mấu lồi, xúc biện hàm có 3 đốt, thùy bên đầu lồi dài ra phía trước
Gradidierella: các đốt 2, 4, 5 của phần cuốn râu ở con đực thon dài, không có
gai hay mấu lồi, xúc biện hàm có 3 đốt, thùy bên đầu không lồi ra phía trước
Corophium: các đốt 2, 4, 5 của phần cuốn râu ở con đực phìn to,có gai hay
mấu lồi, xúc biện hàm có 2 đốt
+ Bộ Euphausiacea (giáp xác hình tôm)
- Có dạng giống như con tôm nhưng giáp đầu ngực không bao trùm kín phần gốc chân ngực và mang
- Không có chân hàm
- Gốc chân ngực, cuốn mắt, các đốt bụng có cơ quanphát quang đặc trưng
- Sinh sản hữu tính, trứng nở thành ấu trùng nauplius rồi lột xác nhiều lầnqua nhiều giái đoạn ấu trùng rối mới trở thành cá thể trưởng thành Họ Euphausiacea
Euphausia
Acetes
2 Lớp Côn Trùng (Insecta)
a Bộ phù du (Ephemeroptera)
Trang 11Cơ thể trưởng thành có một đôi cánh dạng màng, đốt thân ở giữa hay mằm trước cánh, phiá sau cánh có dạng thùy
Đuôi bụng có hai tơ đuôi dài,
phần miệng tiêu giảm
Âúu trùng phù du thường thấy ở
suối, sông và hồ , ít gặp nơi nước tỉnh
và có thể sống trong môi trường nước vài
năm
Thức ăn của chúng là tảo, thức vật
đang phân hủy, một số ăn động vật
Con trưởng thành sống vài giờ, không ăn chỉ tham gia sinh sản rồi chết Thường thấy ấư trùng Cloeon sống bám vào cây cỏ thủy sinh
b Bộ chuồn chuồn (Odonata)
Phần cổ chân có 3 đốt, các đôi cánh có hình dạng và kích thước như nhau, râu ngắn có từ 3-7 đốt
Phần miệng thích hợp với phương thức nhai, môi dưới có khi dản dài ra như cái gàu, khi co lại giống như mặt nạ bao phủ phần miệng
Âúu trùng sống trong môi trường nước, có cơ quan bắt mồi đặc trưng là mặt nạ
Phần đuôi có mang dạng khí quản
Có hai bộ phụ là Zygoptera (chuồn chuồn kim) và Anisoptera (chuồn chuồn ngô)
Hình 9.7: Một dạng ấu trùng phù du
Hình 9.8: Âúu trùng chuồn chuồn Zygoptera.
Trang 12Thức ăn của chúng là nguyên sinh động vật, côn trùng khác thậm chí cả cá.
c Bộ cánh nữa (Hemiptera).
Phần phụ miệng kết hợp lại dạng mỏ phù hợp với phương thức chích và
hút
Có hai đôi cánh, Cánh nằm ở đốt thân giữa, giống như da nhất là ở phần gốc, gốc cánh trước có nữa trong dày, nữa ngoài mỏng
Chân sau biến thành dạng bơi (sống trong môi trường nước)
Đa phần sinh vật trong nhóm này ăn ấu trùng muỗi, ấu trùng côn trùng khác, giáp xác và cá
Các giống thường gặp là bọ gạo (Notonecta), chúng là địch hại của cá con, thường gây hao hụt trong nghề sản xuất giống Cà cuống (Lethoceros) sống trong nước có tuyến thơm dùng làm gia vị
d Bộ cánh cứng (Coleoptera)
Phần hàm của miệng biến đổi thích hợp với việc nhai, cánh trước không có gân, cánh sau xếp theo chiều dọc và chiều ngang
Đuôi bụng không có sợi tơ ở phần sau nhưng khi có thì mất đi phần móc của chân ở vị trí số 4 và 10, không có sợi tơ trung gian Không có mang sơ khai hay ống khí ở đuôi bụng Râu 1 có 11 đốt, phần đệm trước cánh dài
Có hai đôi cánh, đôi cánh trước dài và cứng, thường có dạng túi để đựng cánh sau và
Hình 9.9: Âúu trùng Chuồn
chuồn Anisoptera.
Hình 9.10: Hình dạng ngoài của Bọ
gạo (Notonecta sp, Hemiptera).
Trang 13Đẻ trứng và biến thái hoàn toàn.
Đây là nhóm sinh vật ăn tạp
Giống thường gặp là cà niểng (Cybister), Hydaticus.
e Bộ hai cánh (Diptera)
Có đôi cánh trước phát triển dạng cánh mỏng, cơ mang cánh này phát triển nên chúng bay nhanh và khỏe
Miệng phát triển thành vòi dài để chích
Âúu trùng sống dưới nước là dạng cung quăn, chúng biến thành nhộng rồi thành con trưởng thành
Trong ao nuôi cá thường thấy Chironomus.
Thức ăn của nhóm này là lá cây phân hủy, gổ, tảo
nhất là tảo khuê và cả rể cây Một vài loài là địch hại của côn
trùng thủy sinh, một số loài ăn lọc
Tài Liệu Tham Khảo
1 Phan Trọng Cung 1979 Động vật học (tập I), Động vật
không xương sống Nhà xuất bản Đại học và Trung học
Chuyên nghiệp
Hình 9.11: Hình dạng ngoài của cà
cuốn Lethoceros sp, Hemiptera.
Hình 9.12: Hình dạng ngoài của Chironomus, nhìn bên.
Hình 9.13: Các dạng của Chironomus, nhìn cạnh lưng.
Trang 142 Edmondson W.T 1959 Freshwater Biology (second edition) University of Washinton, Seattle
3 Joseph G Engemann and Robert W Hegner 1981 Invertebrate zoology Publishing and Distributing Corporation 94 Panay Avenue, Quezon City
4 Robert W Pennak 1978 Fresh-water invertebrates of the United states A wiley-interscience publication
5 Shirota A and T D An 1966 Plankton of south Vietnam Nhatrang Oceangraphy Institute
6 Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên 1980 Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội