Công nghệ nói chung và ngành truyền hình nói riêng là một trong những lĩnh vực mà quy luậtphát triển của nó biến động nhanh hơn bất kì một lĩnh vực nào.. Ngày 17.02.2009, các Đài truyề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP VĂN LANG
KHOA QUAN HỆ CÔNG CHÚNG VÀ TRUYỀN THÔNG
SVTH: NHÓM SEVEN UP
Trang 2ĐỀ TÀI:
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ TƯƠNG LAI NGÀNH TRUYỀN HÌNH
Quy luật phát triển của công nghệ gắn liền với quy luật đào thải - những cái gì lạc hậu, lỗi thời
sẽ bị vứt bỏ không thương tiếc, thay vào đó là những cái tiên tiến hơn, tốt hơn Cách đây chừngmươi năm, một chiếc ti vi analog “bự chảng” theo đúng nghĩa đen của nó là mơ ước của rấtnhiều người Tuy nhiên, một sản phẩm tương tự như thế hiện nay sẽ là gánh nặng cho nhiềungười Tất cả chúng ta đều muốn vứt bỏ chúng để tiến lên LCD, Plasma,…
Đã là quy luật thì khó có thể đi ngược lại
Công nghệ nói chung và ngành truyền hình nói riêng là một trong những lĩnh vực mà quy luậtphát triển của nó biến động nhanh hơn bất kì một lĩnh vực nào Từng phút, từng giây luôn cónhững thay đổi, những tiến bộ mới mà chúng ta khó lòng theo kịp và đồng bộ hóa chúng Vàcông nghệ sản xuất các sản phẩm điện tử luôn gắn liền với sự bùng nổ của truyền hình Từnhững chiếc ti vi trắng đen có khi nặng đến cả mấy chục kí đến những chiếc ti vi màu “siêumỏng” như bây giờ thì ngành truyền hình cũng theo đó mà phát triển hơn bao giờ hết Tất cảnhững thành tựu đó đều phục vụ cho một nhu cầu không bao giờ là đủ của con người
Bạn có bao giờ từ hỏi rằng ngành truyền hình Việt Nam sẽ phát triển ra sao không? Trongtương lai, chúng ta sẽ tồn tại như thế nào? Liệu có còn thứ gọi là “tivi” dùng để xem truyềnhình nữa không?
Để hiểu hơn về xu hướng phát triển và tương lai của ngành truyền hình, chúng ta sẽ tìm hiểuqua những nội dung sau:
1 Tổng quan truyền hình thế giới.
2 Tổng quan truyền hình Việt Nam.
3 Xu hướng phát triển của ngành truyền hình Việt Nam.
4 Tương lai ngành truyền hình Việt Nam.
BÀI GIỮA KÌ
GVHD:
Th.S NHÂM SĨ THÀNH
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
Trang 3II TỔNG QUAN TRUYỀN HÌNH THẾ GIỚI:
1 Lịch sử truyền hình thế giới:
Những thành tựu độc đáo của nhân loại đã làm thay đổi tư duy và nhận thức con người như điện tínnăm 1884, điện thoại: 1876, radio: 1895 Đặc biệt, vô tuyến truyền hình ra đời năm 1925 đã làmthay đổi cách giao tiếp trong quan hệ con người
Năm 1885: Một sinh viên người Đức Paul Gottlieb Nipkow đưa ra phát kiến hệ thống tivi cơ
điện tử đầu tiên
Năm 1907: Sự phát minh của công nghệ ống phóng đại
mới giúp các thiết kế thành hiện thực
Năm 1900: Perskyi đề xuất ra từ tivi trong một xuất
bản Các xuất bản của Perskyi tóm tắt lại công nghệ cơ
điện tử, đề cập đến thành quả của Nipkow và các đồng
sự
Năm 1911: Boris Rosing và học trò của ông Vladimir
Kosma Zworykin thành công trong việc tạo ra hệ thống
tivi sử dụng bộ phân hình gương để phát hình
Năm 1920: Hai nhà khoa học Mỹ Charles Francis
Jenkins và nhà khoa học Anh John Logie Baird đã tạo
ra vật mẫu thành công đầu tiên của chiếc TV
Ông Philo Taylor Farnsworth
Năm 1927: Philo Taylor Farnsworth đã phát triển
thành công phiên bản thương mại ống tia cực âm nhằm
phát tín hiệu truyền hình điện tử và đây là bước đột
phá trong nghệ truyền hình của nhân loại
Năm 1930: Một vài tiêu chuẩn của công nghệ TV
cùng xuất hiện và cạnh tranh để thống trị thị trường
non trẻ này Một trong những sản phẩm chiếm ưu thế
là chiếc EMI-Marconi
Trang 4 Ngày 2.11.1936: khi đài truyền hình BBC phát đi những tín hiệu đầu tiên từ cung điện
Alexandra ở Luân Đôn thì lúc đó khán giả Châu Âu công nhận sự ra đời của truyền hình
Đầu những năm 1950: Chiếc TV thương mại thành công đầu tiên bắt đầu xuất hiện tại các
showroom ở Mỹ
Năm 1954: Chiếc tivi màu đầu tiên được hãng RCA giới thiệu.
Năm 1972: Nhật Bản bắt đầu sản xuất và thử nghiệm chương trình HDTV.
Năm 1974 thì TV màu đã trở thành
biểu tượng cho các gia đình giàu có tại Mỹ
Năm 2000: Nhật Bản phát sóng các
chương trình HDTV đầu tiên
Ngày 17.02.2009, các Đài truyền hình
Mỹ phát sóng duy nhất chỉ những tín hiệu sốhoá, kết thúc các hoạt động của hệ thống truyềnhình được sử dụng tại Hoa Kỳ suốt 55 năm qua
Thiết bị dựng phim digital tại Đài TH NHK Nhật Bản
Ngày 12.6.2009: Mỹ phát sóng truyền hình Digital trên toàn quốc.
Tháng 6.2010 Anh quốc đã ngưng phát sóng analog.
Ngày 24.07.2011: Nhật Bản đã chấm dứt phát sóng analog trên toàn quốc.
Từ quá trình phát triển trên, phần nào chúng ta có thể dự đoán được xu hướng phát triển của truyềnhình thế giới trong thời gian sắp tới sẽ như thế nào
2 Xu hướng phát triển của công nghệ truyền hình thế giới:
Cố gắng cung cấp các chương trình hay với chất lượng hình ảnh và âm thanh vượt trội mà cáccông nghệ khác khó sánh bằng Cụ thể đó là truyền hình có độ phân giải cao (HDTV) và siêucao (Super HDTV), truyền hình nổi (3DTV); âm thanh đa kênh (5.1, 7.1)
Cung cấp nội dung truyền hình trên các thiết bị khác nhau (TV, màn hình máy tính, điện thoại
di động) Thực hiện truyền hình 3 màn nhằm đảm bảo cho người xem có thể “tiêu thụ” nộidung bằng bất cứ thiết bị nào, ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời điểm nào (anydevice, anwhere,anytime)
Ứng dụng công nghệ tương tác để làm sinh động nội dung nhằm hấp dẫn khán giả
Trang 5 Nghiên cứu và thực hiện công nghệ "Truyền hình thông minh" (SmartTV) nhằm đảm bảo chotivi giữ vai trò chủ đạo cho các thiết bị giải trí trong gia đình, là một thiết bị đa phương tiệnđáp ứng rất nhiều yêu cầu sử dụng của khách hàng.
1 Sơ lược lịch sử truyền hình Việt Nam:
Ngày 07.09.1970: VTV được thành lập từ một ban biên tập của Đài Tiếng nói Việt Nam.
Năm 1976: Tách khỏi Đài Tiếng nói Việt Nam và chuyển tới địa điểm mới.
Ngày 30.04.1987: Đài chính thức được đặt tên là Đài Truyền hình Việt Nam.
Ngày 01.01.1990: Bắt đầu phát sóng song song 2 kênh: VTV1 và VTV2.
Tháng 02.1991: Bắt đầu phát sóng vệ tinh kênh VTV1 để các đài địa phương thu và phát lại
nhằm phủ sóng toàn quốc
Tháng 03.1996: Bắt đầu phát chương trình VTV3, và chương trình này được tách thành 1
kênh riêng và được phát sóng vệ tinh vào tháng 03.1998
Ngày 27.04.2000: VTV4 được chính thức phát trên mạng toàn cầu qua 3 quả vệ tinh phủ
sóng toàn bộ châu Á, châu Âu, Bắc Phi, Bắc Mỹ và Tây Bắc Úc
Tháng 03.2001: Chuẩn DVB-T được chính thức chọn làm chuẩn phát sóng số mặt đất
của VTV
Ngày 10.02.2002: Bắt đầu phát VTV5 phục vụ đồng bào thiểu số bằng tiếng dân tộc.
Tháng 10.2004: Mạng DTH được chính thức khai trương song song với mạng truyền hình
cáp và MMDS
Tháng 12.2005: Dịch vụ Internet băng thông rộng được chính thức khai trương trên mạng
DTH và Truyền hình cáp
Trang 6 2006 – nay: VTV đã tăng thêm 2 kênh quảng bá VTV9 (phát sóng tại TPHCM và các tỉnh
miền Đông Nam Bộ, đồng thời trên hệ thống cáp VCTV) và VTV6-Kênh truyền hình dànhriêng cho giới trẻ, phủ sóng toàn quốc, hàng chục kênh trả tiền
2 Cơ sở nền tảng của ngành truyền hình Việt Nam:
- Trong hệ thống truyền hình VN ngoài đài truyền hình VN là đài quốc gia và là cơ quan quản
lý ngành còn có 3 đài khu vực ở Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ và 66 đài truyền hình ở các thànhphố, các tỉnh
- Với nhiều đài truyền hình như hiện nay người xem có thể thỏa thích lựa chọn những kênhphù hợp với thị hiếu và sơ thích với hơn 100 kênh truyền hình trong và ngoài nước
- Về công nghệ truyền hình, các nhà cung cấp dịch vụ còn phát triển và ứng dụng nhiều côngnghệ khác nhau để tạo nét đặc trưng và đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ của mình Ví
dụ VTC và AVG ứng dụng công nghệ truyền hình kĩ thuật số mặt đất và kĩ thuật số vệ tinh,K+ ứng dụng công nghệ truyền hình số vệ tinh, còn VNPT, Viettel và FPT thì ứng dụng côngnghệ truyền hình di động, truyền hình qua giao thức Internet (IPTV)
3 Thị trường ngành truyền hình Việt Nam:
- Việt Nam là một quốc gia có nền giáo dục đang phát triển, tốc độ đô thị hóa nhanh với lượngdân đông và trẻ
Việt Nam với dân số khoảng 88 triệu dân, tương đương 22 triệu hộ gia đình, có 92% hộ giađình ở Việt Nam hiện đều có ti vi
Tuổi trung bình dưới 25 chiếm 45% cơ cấu dân số
Dân số thành thị chiếm 30% dân số cả nước
Tỷ lệ biết chữ : 94%
Thu nhập bình quân đầu người đạt 1.300 USD/năm
- Theo số liệu của một công ty nghiên cứu thị trường tại Việt Nam thì trong số hơn 20 triệu hộgia đình xem truyền hình hiện chỉ có khoảng 16% số hộ gia đình sử dụng truyền hình trả tiền
- Trong tổng số các gia đình sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền, có khoảng 50% ở khu vựcthành thị thuê bao dịch vụ truyền hình cáp, khoảng 20% sử dụng truyền hình số vệ tinh.Người dân tại các thành phố lớn đang được xem truyền hình cáp với số kênh nội dung tươngđối phong phú Tuy nhiên, tại các thị trường nông thôn, những người có điều kiện kinh tế
Trang 7thường mua đầu kỹ thuật số chủ yếu là của VTC (xem được khoảng 20 kênh) và đầu thu củaTrung Quốc (chỉ xem được số kênh rất ít, khoảng 6 - 10 kênh quảng bá) Thế nhưng, nhữngđầu thu này lại không có kênh quảng bá trên địa bàn tỉnh và mỗi khi muốn xem kênh của đàitỉnh, họ phải chuyển sang anten dàn.
- Thị trường truyền hình trả tiền ở Việt Nam là một trong những thị trường lành mạnh nhất
trên thế giới, với số lượng tăng trưởng thuê bao ấn tượng, cơ hội lựa chọn phong phú cho ngườixem và sự đột phá trong doanh thu quảng cáo:
Thị trường truyền hình trả tiền non trẻ Việt Nam hiện đã vượt quá con số 4 triệu thuê bao vàđược dự báo sẽ tăng trưởng 17% mỗi năm đến 2015
Doanh thu hàng năm của ngành truyền hình trả tiền trong nước ước tính sẽ tăng trưởng 25%trong 2012 ( đạt 2.5 tỷ đô la Mỹ)
Số lượng các kênh truyền hình trả tiền của Việt Nam đang tăng trưởng ở mức hai con số
- Truyền hình cáp là truyền hình trả tiền chiếm ưu thế vượt trội đã phủ kín địa bàn các tỉnh,
thành lớn trên cả nước
Trang 8IV XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM:
1 Xu hướng xã hội hóa:
1.1 Xã hội hóa nguồn kinh phí.
Dù muốn hay không thì báo chí nói chung và truyền hình nói riêng có thể phát triển được vấn
đề đầu tiên cần được giải quyết đó là nguồn kinh phí Truyền hình là một loại truyền thông rấttốn kém nên vấn đề trên lại càng trở nên quan trọng Nhưng ai sẽ là người cung cấp tài chínhcho truyền hình? Phải tham gia vào tiến trình xã hội hóa, trước hết là xã hội hóa về nguồn kinhphí đầu tư cho sản xuất các chương trình, truyền hình mới có điều kiện phát triển
“Xã hội hoá truyền hình là đi liền với đồng tiền” Bởi chính đồng tiền chi phối tới quá trìnhnày Một tư nhân, hay đơn vị nào đó muốn đứng ra lập công ty phát triển về một khía cạnh nào
đó của truyền hình cần phải có tiền Và kể cả phía bên nhà Đài, muốn đặt hàng một chươngtrình nào đó cũng cần phải có tiền Tuy nhiên, “Bản chất của xã hội hoá không phải là vì tiền
mà là việc lôi kéo nhiều đơn vị, tổ chức tham gia vào quá trình sản xuất chương trình, nhằmgiảm tải cho nhà Đài cũng như tạo ra hiệu quả tốt nhất cho các chương trình truyền hình Và
nó sẽ thu hút đựơc sự quan tâm và ủng hộ của công chúng”
Xã hội hóa nguồn kinh phí là chấp nhận chia sẻ “chiếc bánh truyền
hình” cho các công ty, đơn vị tư nhân Hơn nữa, xã hội hoá sẽ xoá
bỏ sự độc quyền của các Đài truyền hình trong sự áp đặt về mức
khoán và các chi phí đầu tư Để có đủ điều kiện đầu tư cho phát
Trang 9triển, đa dạng hóa các nguồn thu, xã hội hóa về mặt kinh phí là một xu thế tất yếu đối vớitruyền hình trong những năm tới.
1.2 Xã hội hóa thông tin:
Chính là việc chúng ta tiếp nhận và phát sóng những thông tin hữu ích cho khán giả, xuất phát
từ nhiều nguồn khác nhau chứ không phải chỉ từ góc nhìn của nhà đài Thêm vào đó là quátrình xã hội hóa các chương trình truyền hình cũng tác động lớn tới quá trình xã hội hóa thôngtin Khi mà các chương trình truyền hình được các doanh nghiệp tài trợ hay sản xuất thì mỗicách làm, góc nhìn và mục đích của họ cũng khác nhau Từ đó mang lại nhiều lĩnh vực thôngtin mà khán giả có thể tự chọn lực chương trình và kênh phát sóng mình thích
Xã hội hóa thông tin sẽ giúp giảm áp lực về truyền tải thông tin cho nhà đài, đồng thời tạo cơhội chia sẻ thông tin cho khán giả, doanh nghiệp
1.3 Xã hội hóa hoạt động quản lí.
Xét trên cả hai phương diện quản lý nội dung và quản lý con người đều có thể thấy rõ được xuhướng này:
Về mặt quản lý nội dung: là một cơ quan thông tin đại chúng, đặt dưới sự lãnh đạo thống
nhất của Đảng, và hoạt động theo những quy định của pháp luật, tất cả các sản phẩm truyềnhình đều cần được quản lý thống nhất về mặt nội dung Tuy nhiên, quản lý nội dung khôngđồng nghĩa với việc phải quản lý tất cả các công đoạn làm ra sản phẩm truyền hình Và càngkhông có nghĩa hoạt động quản lý của truyền hình không thể tham gia vào tiến trình xã hộihóa
Gần đây, việc chỉ đạo các Trung tâm truyền hình Việt Nam sản xuất linh kiện cho phóng sựcủa các ban biên tập trong Đài, hay việc tích cực khai thác các tin bài có chất lượng của cácđài địa phương trong các bản tin thời sự ít nhiều cũng đã phản ánh khuynh hướng giao chocác đơn vị ngoài Đài tham gia vào sản xuất chương trình Phương án quản lý sản xuất theocách làm này, ít nhất cũng đã tiết kiệm được cho truyền hình một khoản kinh phí không nhỏnhờ cắt giảm các khoản đầu tư dành cho việc đi lại của phóng viên, vận chuyển máy mócthiết bị tới nơi sự kiện xảy ra Trước xu thế trên, việc có các công ty tư nhân tham gia thựchiện chương trình và bán cho đài truyền hình có thể là một xu hướng tất yếu.Vấn đề còn lạiđối với truyền hình là phải hướng dẫn, quản lý về nội dung và xây dựng cho được những
Trang 10quy chuẩn mang tính nghiệp vụ cao cho các loại hình sản phẩm của mình Chỉ có như vậyviệc trao đổi, mua bán và định giá sản phẩm mới trở nên dễ dàng.
Dưới góc độ quản lý con người: truyền hình cũng bướcvào giai đoạn xã hội hóa quyết liệt.
Như đã biết, xã hội càng phát triển, trí tuệ xã hội ngày càng được nâng lên, và trí tuệ ấyngày càng được quảng bá trên truyền hình nhiều hơn Nhưng ngược lại, chính truyền hìnhcũng đang tìm mọi cách để hấp thu trí tuệ xã hội để đầu tư cho sự phát triển Điều đó sẽcàng trở nên quan trọng khi phân công lao động và chuyên môn hóa các hoạt động sản xuấtchương trình truyền hình đạt đến trình độ cao Trong hoạt động quản lý ở truyền hình, xãhội hóa các nguồn lực lao động là một xu hướng tất nhiên không thể cưỡng lại được
Việc đầu tư và thường xuyên sử dụng các nhà khoa học,các nhà nghiên cứu chuyên sâu trêntất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội làm cố vấn cho các chương trìnhtruyền hình trong thời gian gần đây như một biểu hiện mang tính tất yếu của xu thế xã hộihóa nguồn lực cho truyền hình
Trang 11Trong lao động quản lý, nhất định truyền hình phải quan tâm tới điều này, từ đó có chínhsách thoả đáng để thu hút các nguồn chất xám trong xã hội phục vụ cho việc đổi mới nângcao chất lượng chương trình truyền hình Trong môi trường mới, từng cá nhân, từng tập thể
sẽ có trách nhiệm hơn về công việc khi sản xuất chương trình
Việc tham gia mạnh mẽ vào tiến trình xã hội hóa, tận dụng được mọi nguồn lực trong xã hội
để đầu tư cho phát triển sẽ là cơ sở để truyền hình tiếp tục củng cố chỗ đứng của mình
1.4 Xã hội hóa về sản xuất chương trình truyền hình (thực chất là tư nhân hóa):
Đó là trong các khâu sản xuất, hình thành tác phẩm của một chương trình truyền hình có sựtham của một hoặc nhiều đơn vị, cơ quan không liên quan đến nhà Đài Một số chương trìnhtruyền hình không phải ôm đồm toàn bộ các khâu sản
xuất mà đã có đơn đặt hàng một số các đơn vị tư nhân
chuyên làm về một lĩnh vực nào đó của truyền hình
Hiện nay các công ty truyền thông tổ chức sản xuất các
chương trình truyền hình ngày càng chuyên nghiệp
Những chương trình được khán giả yêu thích cũng đều
được sản xuất bởi các công ty tư nhân như: Viet Nam Idol - Công ty truyền thông Đông Tây,Sáng bừng sức sống -Công ty cổ phần phim Thiên Ngân và Early Risers Media Group,Vietnam’s Next Top Model -Công ty Cổ Phần Truyền Thông Đa Phương Tiện Multimedia
Trang 12(MultiMedia)….Mặc dù xã hội hóa trong bất cứ ngành nào đều có một số hạn chế nhưng đốivới truyền hình thì xã hội hóa đang mang lại một sức sống
mới, gương mặt mới cần được phát huy
1.5 Xã hội hóa kênh truyền hình:
Hiện nay các kênh truyền hình đang trong xu thế “nở nồi”
đã đặt ra nhiều vấn đề đáng quan tâm không chỉ của cơ
quan quản lý mà còn là của khán giả xem truyền hình
Điều bức xúc nhất vẫn là: kênh truyền hình thì nhiều, nhưng chất lượng chưa như mong đợi
Bán kênh truyền hình:
Bây giờ đầu tư kinh doanh sóng truyền hình được xem vừa thức thời, khuếch trươngthanh thế, vừa chứng tỏ “đẳng cấp” doanh nghiệp Trên thực tế, với danh nghĩa xã hội hóatruyền hình, đã có rất nhiều kênh truyền hình do các đơn vị tư nhân thực hiện toàn bộ nộidung
Ai trong nghề cũng biết: HTV1 là của Công ty Vân Thanh Long, HTV2 của ĐấtViệt, HTV3 của Trí Việt Media, YAN TV (SCTV) của Quỹ đầu tư IDG, của Công ty cổ phầnQuốc tế truyền thông IMC (với các cổ đông Habubank, Tân Hiệp Phát, bánh Kinh Đô…),…
Còn nhiều các công ty nhỏ hơn không đủ khả năng mua nguyên kênh thì muagiờ phát sóng
Vì vậy, một khi truyền hình vẫn còn chức năng truyền thông thì rõ ràng rằng việc xã hộihóa kênh truyền hình sẽ vẫn duy trì vì doanh nghiệp sẽ không ngại kiếm lời và “chứng tỏ”thanh thế của mình, và có thể đây sẽ trở thành một chiến lược truyền thông “thịnh hành”trong cuộc chiến thương hiệu ngày càng khốc liệt
Tốc độ mở kênh chưa dừng lại:
Hiện nay dù đã có nhiều đài truyền hình với rất nhiều kênh truyền hình, nhưng số lượng nàychưa ngừng lại Trong kế hoạch quy hoạch các kênh truyền hình, VTV, HTV, VTC tới đây sẽcòn ra thêm nhiều kênh mới Vấn đề kỹ thuật vẫn là phạm trù rối rắm với khán giả xem đài và
là “cuộc chiến” ngầm của các đài truyền hình