XÃ HỘI PHONG KIẾN TÂY ÂU 1/ Lãnh Địa Phong Kiến 2/ Nông Nô Hóa Giai Cấp Nông Dân 3/ Trang Viên Hóa Nền Kinh Tế 4/ Bộ Máy Nhà Nước III.. Vương quốc Xuyevơ Vương quốc Văngdan Vương quốc B
Trang 2I SỰ HÌNH THÀNH CÁC VƯƠNG QUỐC PHONG KIẾN TÂY ÂU
II XÃ HỘI PHONG KIẾN TÂY ÂU
1/ Lãnh Địa Phong Kiến
2/ Nông Nô Hóa Giai Cấp Nông Dân
3/ Trang Viên Hóa Nền Kinh Tế
4/ Bộ Máy Nhà Nước
III KẾT LUẬN
A PHẦN KHÁI QUÁT
B PHẦN CHI TiẾT
Trang 3I SỰ HÌNH THÀNH CÁC VƯƠNG QUỐC PHONG KIẾN TÂY ÂU
Thế kỷ thứ III, các bộ lạc Giécmanh đã liên kết thành nhiều liên minh bộ lạc như
Ốxtơrôgốt, Vidigốt, Văngdan, Frăng, Ănglô, Xắcxông, Alamăng, Lôngba, ….và thường tập kích vùng biên cương của đế quốc Rôma.
Không ngăn chặn nổi sự xâm nhập ấy, các hoàng đế Rôma buộc phải cho một số liên minh bộ lạc Giécmanh bắt đầu di cư ồ ạt vào phần lãnh thổ phía tây của đế quốc Rôma,
và từ đó thành lập nhiều vương quốc.
Trang 4BẢN ĐỒ SỰ XÂM NHẬP CỦA NGƯỜI GIÉC-MAN
Người Hung Nô
Ăng-glô Xắc-xông
Tây Gốt
Đông Gốt Phơ-răng
Chú thích Người Hung-Nô ở thảo nguyên châu Á
Sự di cư ồ ạt của người Giéc-man
Trang 5Trong đó tiêu biểu là:
Vương quốc Vidigốt
Vương quốc Xuyevơ
Vương quốc Văngdan
Vương quốc Buốcgôngđơ
Vương quốc Ănglôxắcxông
Vương quốc Ốxtơrôgốt
Vương quốc Lôngba
Vương quốc Frăng
Như vậy, trước và sau khi đế quốc Tây Rôma diệt vong, trên đất đai cũ của đế quốc đã thành lập nhiều vương quốc của người Giécmanh, nhưng phần lớn các quốc gia ấy chỉ tồn tại được một thời gian ngắn chỉ có vương quốc Frăng không những tồn tại lâu dài mà còn có vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ lịch sử Tây Âu thời kỳ trung đại
Trang 6II XÃ HỘI PHONG KIẾN TÂY ÂU
Trước khi chinh phục xứ Gôlơ, người Frăng đang ở trong giai đoạn công xã thị tộc, nhưng sau khi chinh phục vùng này, chế độ thị tộc không còn cơ sở để tồn tại nữa, nhà nước người Frăng ra đời Từ đó, người Frăng làm cho những tàn dư của chế độ chiếm hữu nô lệ ở xứ Gôlơ tiêu vong một cách nhanh chóng, đồng thời họ bắt đầu bước vào quá trình phong kiến hóa mà chủ yếu biểu hiện ở ba mặt sau:
Trang 7- Lãnh địa hóa toàn bộ ruộng đất trong xã hội
- Nông nô hóa giai cấp nông dân
- Trang viên hóa nền kinh tế
;
Lãnh Địa Phong Kiến
Là đơn vị chính trị và kinh tế cơ bản thời phong kiến phân quyền ở Châu Âu.
Là khu đất rộng lớn gồm đất của lãnh chúa và đất khẩu phần xung quanh Trong quá trình chinh phục xứ Gôlơ, người Frăng đã chiếm được rất nhiều ruộng đất.Trên cơ sở ấy, vua Frăng giao một phần đất đai cho các thành viên của công xã thị tộc cũ để lập thành những công xã nông thôn, một phần đem ban cấp cho các tướng lĩnh thân cận và biếu tặng các cơ sở của giáo hội Kitô giáo.
Trang 8- Lãnh địa hóa toàn bộ ruộng đất trong xã hội
- Nông nô hóa giai cấp nông dân
- Trang viên hóa nền kinh tế
;
Lãnh Địa Phong Kiến
Là đơn vị chính trị và kinh tế cơ bản thời phong kiến phân quyền ở Châu Âu.
Là khu đất rộng lớn gồm đất của lãnh chúa và đất khẩu phần xung quanh Trong quá trình chinh phục xứ Gôlơ, người Frăng đã chiếm được rất nhiều ruộng đất.Trên cơ sở ấy, vua Frăng giao một phần đất đai cho các thành viên của công xã thị tộc cũ để lập thành những công xã nông thôn, một phần đem ban cấp cho các tướng lĩnh thân cận và biếu tặng các cơ sở của giáo hội Kitô giáo.
Trang 9Việc ban cấp này không kèmtheo một điều kiện nào cả Bản thân nhà vua cũng giữ lại cho mình những lãnh địa rộng lớn Giáo hội còn dùng những lời dụ dỗ, đe dọa để buộc nông dân phải đóng góp, cống hiến tài sản và bỏ sức lao động cày cấy, khai hoang ruộng đất cho
giáo hội Mặt khác, giáo hội cũng tìm cách liên kết các tăng lữ và tín đồ ở các vương quốc thành một tổ chức thống nhất hùng mạnh và chi phối mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa- tư tưởng trong xã hội phong kiến Châu Âu.
Trang 11Tất cả những người đó gồm: quan lại, tướng lĩnh, quý tộc Rôma cũ, giáo chủ, lập thành giai cấp địa chủ mới Ngoài
ra, một số quý tộc cũ vẫn giữ lại lãnh địa cho mình.
Công xã nông thôn của người Frăng, Máccơ đã được thành lập nhưng tồn tại không được lâu dài Trong các công xã nông thôn ruộng đất tuy thuộc quyền sở hữu tập thể của toàn công xã nhưng ruộng đất cày cấy chỉ chia một lần,
nông dân có thể sử dụng phần đất của mình hết đời này
sang đời khác
Trang 12Đến cuối thế kỷ VI, công xã nông thôn dần tan rã, phần ruộng đất mà nông dân cày cấy đã trỡ thành ruộng đất thuộc quyền sở hữu của họ nghĩa là đất tự do Đến thế kỷ thứ VIII, trong chính sách ban cấp ruộng đất có một sự thay đổi quan trọng Sự thay đổi ấy gắn liền với việc tổ chức lại lực lượng quân đội.
Trang 13Trước đây, nguồn binh lính quan trọng nhất của vương quốc là nông dân tự do. Nhưng phần lớn nhân dân đều bị phá sản và biến thành nông dân lệ thuộc của giai cấp địa chủ, vì vậy nhà nước không thể bắt họ làm nghĩa vụ binh dịch được nữa.
Để bảo vệ quốc gia, thừa tướng của Frăng là sáclơ mácten đã tiến
hành cuộc cải cách quân sự, lấy kỵ binh là lực lượng nòng cốt của
quân đội Để khuyến khích và tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho các
kỵ sỹ nhà vua đã ban cấp ruộng đất cho họ.
Trang 15phêốp.
Trang 17Mỗi khu đất là lãnh địa riêng của từng lãnh chúa phong kiến Đó là những lãnh địa rộng lớn, trong đó có đất của lãnh chúa và đất khẩu phần Khu đất riêng của lãnh chúa có hệ thống nhà cửa, nhà thờ, dinh thự, kho tàng,Còn đất khẩu phần thì giao cho nông nô
canh các Mỗi lãnh địa là một quốc gia độc lập, có hệ thống chính trị riêng, có kinh tế độc lập
Về kinh tế:
Lãnh địa là một đơn vị kinh tế riêng biệt và khép kín Tấc cả mọi vật phẩm cần dùng cho lãnh chúa và nông nô đều được sản xuất trong lãnh địa Đó là nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, việc trao đổi buôn bán phát triển vì mỗi vương quốc có hệ thống thuế khóa và kinh tế độc lập
Trang 18Ngoài việc sản xuất nông nghiệp, lãnh địa còn sản xuất thủ công nghiệp như mộc, rèn, tiện, nguội,…., thợ thủ công được cấp ruộng để tự sản xuất lương thực. Chỉ có những vật phẩm lãnh địa không tự sản xuất dược như: vải, lụa, hương liệu, vũ khí,…,phải mua của lái buôn đem từ phương Đông đến.
Lãnh địa được ra đời dưới hình thức trang viên một cách phổ biến, là đơn
vị kinh tế độc lập, nền kinh tế hành hóa hầu như chưa có gì đáng kể cho đến khi thành thị ra đời.
Trang 20Mỗi lãnh địa phong kiến là một đơn vị hành chính độc lập. những người chủ lãnh địa được gọi chung là lãnh chúa, là quý tộc, trong đó lãnh chúa lớn được gọi là công tước, hầu tước (nghĩa là thủ lĩnh quân sự), bá tước ( là thân binh của nhà vua), rồi đến tử tước
và nam tước.
Lúc đầu, nhà vua cai trị toàn bộ vương quốc, nhưng dần dần các lãnh địa lớn mạnh nên nhà vua bị mất thực quyền, nhà vua chỉ là lãnh chúa lớn nhất Các lãnh chúa nắm quyền cai trị độc lập, với bộ máy hành chính, tài chính và quân
sự riêng Một số lãnh chúa còn được nhà vua ban cho quyền “Miễn trừ” thực chất là ban cho lãnh chúa quyền cai trị địa phương thay cho nhà vua.
Trang 21Như vậy, mỗi lãnh địa là một tiểu vương quốc có quân đội, tòa án, luật pháp, chế độ thuế khóa, tiền tệ, cân, đong, đo lường riêng. Mỗi lãnh địa là một pháo đài độc lập. điều này tạo ra tính chất tự cấp, tự túc, khép kín của các lãnh địa.
Quan hệ lãnh chúa là quan hệ phong quân-bồi thần Lãnh chúa nhỏ phục tùng lãnh chúa lớn nhưng phải là ngưới trực tiếp phong cấp ruộng đất cho mình chứ không tuân lệnh những người khác cho dù có chức hiệu cao hơn Dưới chế độ phong kiến phân quyền như vậy, quyền lực nhà vua rất yếu ớt.
Trang 22Tầng lớp thấp nhất nhưng đông đảo nhất trong giai cấp phong kiến là kỵ sỹ. Chính sách phân phong ruộng đất từ sáclơ mácten cho đến Sáclơ Manhơ đã dẩn đến sự hình thành giai cấp phong kiến đông đảo, là cơ sở của chính quyền nhà vua để bên trong thì đàn áp các thế lực chống đối, bên ngoài thì bành trướng gây chiến tranh. Do đó tình trạng chia cắt đất nước đã diển ra một cách phổ biến ở Tây Âu
và kéo dài trong nhiều thế kỷ.
Quá Trình Nông Nô Hóa Nông Dân.
Khi mới chinh phục xứ Gôlơ, tầng lớp cư dân đông đảo nhất là những người Frăng tự do
Trang 23từ đời này sang đời khác. Bên cạnh đất canh tác, nông dân còn có mảnh vườn xung
quanh nhà mà chỉ với mảnh đất này nông dân mới có quyền sở hữu.
Đến đầu thế kỷ VII công xã Máccơ tan rã,phần lớn thành viên công xã
biến thành những người nông dân tự do có mảnh ruộng riêng của
mình
Trang 24Bấy giờ còn có những người lao động nông nghiệp làm việc trong các trang viên của các địa chủ người Frăng cũng như các địa chủ Rôma củ, họ gồm :
Lệ nông ( chiếm đông đảo nhất )
Nông dân nữa tự do
Nô lệ : làm việc trong trang viên được chia làm hai loại:
Loại thứ nhất gồm : đầy tớ hầu hạ cho lãnh chúa và những người làm các nghề thủ công
như thợ làm bánh mì , thợ kim hoàn…
Loại thứ hai gồm : những nô lệ được cấp ruộng đất phải nộp địa tô cho địa chủ và không
được rời ruộng đất Tuy vậy sau khi nộp địa tô, sản phẩm còn lại thuộc quyền sử dụng của
họ, trên danh nghĩa họ là nô lệ nhưng thực chất họ đã biến thành nông nô.
Trang 25họ được giao cho một mảnh đất để canh tác và được truyền từ đời này sang đời khác. Với sự phát triển của phương thức bóc lột phong kiến. Sự khác biệt giữa 3 lược lượng lao động nông nghiệp ấy ngày càng ít. Họ dần biến thành 1 tầng lớp
Trang 26Những nông dân chưa mất ruộng đất vì sự hạch sách o ép của quan lai và lãnh chúa nên phải đem ruộng đất của mình hiến cho địa chủ thế tục và giáo hội để nhờ che chở rồi xin nhận lại mảnh ruộng ấy
Trang 27Trong thời kỳ hình thành chế độ phong kiến, hình thức địa tô phổ biến nhất là tô lao
dịch. Mỗi tuần lễ 1 hộ nông nô phải cử 1 người khỏe mạnh đem theo công cụ và súc vật
kéo đến làm việc trên ruộng đất của lãnh chúa 3- 4 ngày. Vào những dịp mùa màng bận rộn, mỗi gia đình nông nô, ngoài bà chủ và các cô gái đã đến tuổi lấy chồng ra, tất cả những người có thể lao động
được đều phải đến làm việc trên ruộng đất của chủ.
Từ thời kỳ giữa của chế độ phong kiến, lãnh chúa chuyển sang bóc lột
nông nô theo hình thức địa tô hiện vật.
Trang 28Ruộng đất được giao tất cả cho nông nô. Nông nô cày cấy và khi thu hoạch thì nộp một nữa sản phẩm cho lãnh chúa. Vào cuối chế độ phong kiến, khi kinh tế hàng hóa – tiền tệ phát
triển, lãnh chúa sử dụng hình thức địa tô tiền Nông nô, sau khi thu hoạch thì tự đem bán
sản phẩm và đem tiền nộp cho lãnh chúa
Ngoài việc nộp địa tô là hình thức bóc lột chính của lãnh chúa, nông nô còn phải làm các
việc khác cho lãnh chúa như vận chuyển, chữa nhà, chữa hàng rào, làm đường, bắc cầu… Bên cạnh những nghĩa vụ lao dịch đó, vào những ngày lễ tết, nông nô còn phải nộp cho chủ 1
số sản phẩm như gia cầm, trứng gà, rượu…Có khi còn phải nộp một ít tiền.