1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh tế học Vĩ mô - Bài 4 docx

32 315 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài 4: Tiền tệ và chính sách tiền tệ• Giúp học viên hiểu được bản chất của tiền tệ, các cách xác định cung tiền, cầu tiền • Giúp học viên hiểu được bản chất của chính sách tiền tệ và vai

Trang 1

Bài 4: Tiền tệ và chính sách tiền tệ

• Giúp học viên hiểu được bản chất của tiền tệ, các cách xác định cung tiền, cầu tiền

• Giúp học viên hiểu được bản chất của chính sách tiền tệ và vai trò của Ngân hàng Trung

ương trong việc thực thi chính sách tiền tệ

Thời lượng học

• Phân tích vai trò và chức năng của

tiền tệ

• Cách xác định cung tiền, cầu tiền, và

trạng thái cân bằng trên thị trường

Trang 2

Các kiến thức cần có

• Các kiến thức về đại số: Học viên phải biết cách giải các hệ phương trình bậc nhất cơ bản

• Kiến thức về hình học: Học viên có thể sử dụng đồ thị để phân tích các sự biến đổi của các biến số Kinh tế Vĩ mô

• Xã hội: Thường xuyên cập nhật các kiến thức kinh tế – xã hội trong và ngoài nước bằng các phương tiện thông tin đại chúng để vận dụng và phân tích các biến số, chính sách Kinh tế Vĩ mô được hiệu quả hơn và mang ý nghĩa thực tiễn hơn Học viên có thể đọc thêm các bài viết về lịch

sử hình thành tiền tệ để thấy được vai trò của việc phân tích chính sách tiền tệ

Hướng dẫn học

• Học viên nên đọc kỹ nguồn tài liệu tham khảo để chọn ra những tài liệu tham khảo hữu ích nhất

và cần xem các nguồn tài liệu và thứ tự tài liệu được cung cấp cho chương này để học tập tốt hơn

• Bài 4 là bài về chính sách tiền tệ được phân tích trong nền kinh tế đóng Học viên có thể thu thập được khá nhiều tài liệu liên quan trên thực tiễn về chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn

2007 – 2008 thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

Trang 3

Bài 4: Tiền tệ và chính sách tiền tệ

Sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất và trao đổi hàng hoá đã ra đời một loại hàng hoá đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá Người ta tin rằng đầu tiên hàng hóa và các dịch vụ được trao đổi trực tiếp với nhau Vì điều này không thực dụng nên hàng hóa và dịch vụ được trao đổi với các loại hàng hóa khác mà có thể được tiếp tục trao đổi một cách dễ dàng Loại hàng hóa là tiền này là những vật có giá trị đẹp hay hữu ích như bò, lạc đà, lông súc vật, dao, xẻng, vòng trang sức, đá quý, muối và nhiều loại khác Khi người ta khám phá ra rằng một

số vật không còn được sử dụng nữa mà chỉ được tiếp tục trao đổi thì các bản sao chép nhỏ hơn và ít có giá trị hơn của các vật này được sử dụng làm phương tiện thanh toán Đó là các hình thức thanh toán đầu tiên trước khi có tiền Bản thân chúng là một sự thay đổi to lớn trong quá trình phát triển sản xuất của xã hội loài người

Các đồng tiền kim loại đầu tiên được người Lydia ở phía Tây của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay đúc

từ vàng, trong thời gian giữa 640 và 600 TCN, có nhiều kích thước và giá trị khác nhau và được dùng như là một phương tiện thanh toán để đơn giản hóa việc trả lương cho những người lính đánh thuê Một lượng nhất định của các hạt bụi vàng được nấu chảy thành đồng tiền và sau đó hình của nhà vua được dập nổi lên trên Nhà vua người Lydia cuối cùng, Croesus, vì thế mà mang danh là giàu có vô hạn Các đồng tiền kim loại này đã làm cho việc thương mại dễ dàng đi rất nhiều vì chúng có ưu điểm là bao giờ cũng có kích thước, trọng lượng và hình dáng không thay đổi và thay vì là phải cân thì có thể đếm được

Mãi cho đến trong thế kỷ 18 giá trị của các loại tiền tệ của châu Âu được định nghĩa thông qua lượng kim loại quý Bên cạnh việc theo dõi sản xuất trong nước, các xưởng đúc tiền quốc gia còn theo dõi cả việc đúc tiền của nước ngoài Một tiền tệ được đánh giá quá cao hay quá thấp khi đồng tiền được tính trên hay dưới giá trị của kim loại trong lúc tính toán với các tiền tệ khác trên thế giới

Tiền giấy

Nhu cầu trao đổi đã phát triển đến mức cần có những loại tiền mới không chỉ là tiền giấy, séc mà còn là thẻ tín dụng, tiền điện tử, v.v… Nó được chuyển nhượng thông qua các máy tính, đường điện thoại và thậm chí có thể không tồn tại trên giấy tờ

Như vậy, ngày nay tiền được coi là mọi thứ được xã hội chấp nhận dùng làm phương tiện thanh toán và trao đổi Bản thân chúng có thể có hoặc không có giá trị riêng

4.1 Tiền tệ và các chức năng của tiền tệ

4.1.1 Khái niệm tiền tệ

Tiền là bất kỳ một phương tiện nào được coi như là vật ngang giá chung, được sử dụng để trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ Nó có thể là tiền mặt, vàng, ngoại tệ và các phương tiện thanh toán như tiền dưới dạng séc (check – tức là tài khoản ký quỹ không thời hạn ở ngân hàng) và có thể kể cả tiền để dành trong ngân hàng mà có thể rút ra bất cứ lúc nào

Trang 4

Tiền tệ

Tính chất tiền tệ

Tiền tệ khi chỉ xét tới chức năng là phương tiện

thanh toán, là đồng tiền được luật pháp quy định để

phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc

gia hay nền kinh tế Vì định nghĩa như vậy, tiền tệ

còn được gọi là "tiền lưu thông" Tiền tệ có thể

mang hình thức tiền giấy hoặc tiền kim loại (tiền

xu) do Nhà nước (Ngân hàng Trung Ương, Bộ Tài

chính, v.v ) phát hành

Khi phân biệt tiền tệ của quốc gia này với tiền tệ

của quốc gia khác, người ta dùng cụm từ "đơn vị

tiền tệ" Đơn vị tiền tệ của nhiều quốc gia có thể có

cùng một tên gọi (ví dụ: Dollar, franc ) và để phân

biệt các đơn vị tiền tệ đó người ta thường phải gọi kèm tên quốc gia sử dụng đồng tiền (ví dụ: Dollar Úc) Với sự hình thành của các khu vực tiền tệ thống nhất, ngày nay có nhiều quốc gia dùng chung một đơn vị tiền tệ như đồng EUR Đơn vị tiền tệ của Việt Nam được gọi là đồng, ký hiệu dùng trong nước là "đ", ký hiệu quốc tế là VND, đơn vị nhỏ hơn của đồng là hào (10 hào = 1 đồng) và xu (10 xu = 1 hào)

Tiền tệ là phương tiện thanh toán pháp quy, nghĩa là luật pháp quy định người ta bắt buộc phải chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ được xác lập bằng đơn vị tiền tệ ấy Một tờ séc có thể bị từ chối khi được dùng để thanh toán nợ nhưng tiền giấy và tiền kim loại thì không Tuy nhiên tiền kim loại có thể là phương tiện thanh toán pháp quy

bị luật pháp của một quốc gia giới hạn không vượt quá một số lượng đơn vị tiền tệ nào đó tuỳ theo mệnh giá của những đồng tiền kim loại ấy Theo luật pháp của Việt nam, tiền giấy

và tiền kim loại là phương tiện thanh toán pháp quy không giới hạn

Để có thể thực hiện được các chức năng của tiền, tiền tệ (hay tiền trong lưu thông) phải có các tính chất cơ bản sau đây:

• Tính được chấp nhận rộng rãi: Đây là tính chất quan trọng nhất của tiền tệ, người dân

phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ không được coi là tiền nữa Kể cả một tờ giấy bạc do Ngân hàng Trung Ương phát hành cũng sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trong thời kỳ siêu lạm phát, người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi

• Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết, người ta có thể

nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng Chính vì thế những tờ giấy bạc do Ngân hàng Trung Ương phát hành được in ấn trông không giống bất cứ một tờ giấy chất lượng cao nào khác

• Tính có thể chia nhỏ được: Tiền tệ phải có các

loại mệnh giá khác nhau sao cho người bán được

nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi

thanh toán bằng một loại tiền có mệnh giá lớn thì

phải được nhận tiền trả lại Tính chất này giúp cho

tiền tệ khắc phục được sự bất tiện của phương thức

hàng đổi hàng: Nếu một người mang một con bò

đi đổi gạo thì anh ta phải nhận về số gạo nhiều hơn

mức anh ta cần trong khi lại không có được những

thứ khác cũng cần thiết không kém

Trang 5

Bài 4: Tiền tệ và chính sách tiền tệ

Tiền là một phương tiện thanh toán

Tiền là phương tiện cất giữ giá trị

• Tính lâu bền: Tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ giá trị cũng

như mới có ích trong trao đổi Một vật mau hỏng không thể dùng để làm tiền, chính vì vậy những tờ giấy bạc được in trên chất liệu có chất lượng cao còn tiền xu thì được làm bằng kim loại bền chắc

• Tính dễ vận chuyển: Để thuận tiện cho con

người trong việc cất trữ, mang theo, tiền tệ phải

dễ vận chuyển Đó là lý do vì sao những tờ giấy

bạc và những đồng xu có kích thước, trọng lượng

rất vừa phải chứ tiền giấy không được in khổ

rộng ví dụ như khổ A4

• Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ

phải có tính chất khan hiếm vì nếu có thể kiếm

được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý

nghĩa trong việc cất trữ giá trị và không được

chấp nhận trong lưu thông nữa Vì thế trong lịch sử những kim loại hiếm như vàng, bạc được dùng làm tiền tệ và ngày nay Ngân hàng Trung Ương chỉ phát hành một lượng giới hạn tiền giấy và tiền xu

• Tính đồng nhất: Tiền tệ phải có giá trị như nhau nếu chúng giống hệt nhau không phân

biệt người ta tạo ra nó lúc nào, một đồng xu 5.000 VND được làm ra cách đây 2 năm cũng có giá trị như một đồng xu như thế vừa mới được đưa vào lưu thông Có như vậy tiền tệ mới thực hiện chức năng là đơn vị tính toán một cách dễ dàng và thuận tiện trong trao đổi

4.1.2 Các chức năng của tiền tệ

• Phương tiện thanh toán: Tiền được dùng trong giao dịch mua, bán hàng hoá, dịch vụ

Tiền cho phép trao đổi giá trị mà không cần trao

đổi hàng hoá trực tiếp Nó tạo thuận lợi đặc biệt

cho quá trình lưu thông hàng hoá, được coi là dầu

bôi trơn cho mọi hoạt động kinh tế, thúc đẩy phân

công lao động và mở rộng chuyên môn hoá sản

xuất Dòng lưu thông thị trường trở thành hệ thống

huyết mạch cho toàn bộ nền kinh tế thị trường

Trong một nền kinh tế không có một chuẩn mực

đo giá trị chung (thí dụ như là tiền) thì một giao

dịch thành công giữa hai vật trong kinh tế đòi hỏi

các nhu cầu trao đổi phải phù hợp với nhau

Ví dụ:

Một người nông dân muốn bán ngũ cốc và cần dụng cụ Một thợ thủ công muốn đổi dụng cụ để lấy thịt Giữa 2 người này sẽ không bao giờ có một cuộc mua bán trao đổi vì

ý định bán của người nông dân không phù hợp với ý định mua của người thợ thủ công

Cả hai người có thể phải tìm kiếm rất lâu cho đến khi gặp được một người có ý định giao dịch phù hợp Cùng với tiền quá trình này được đơn giản hóa đi rất nhiều: Người nông dân có thể bán ngũ cốc cho một người thứ ba và dùng tiền thu được để đổi lấy dụng cụ tại người thợ thủ công Người thợ thủ công có thể dùng tiền thu được mua thịt tại một người thứ tư

Trang 6

Tiền làm đơn vị hạch toán

• Dự trữ giá trị: Tiền hôm nay có thể được tiêu dùng giá trị của nó trong tương lai Vì thế

nó tạo khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng thêm thu nhập trong hiện tại, nhưng

có thể để dành một phần kết quả đạt được cho tiêu dùng ngày mai Như vậy, tiền là một loại tài sản tài chính mà nhờ nó đã mở ra hoạt động tín dụng, thúc đẩy quá trình tích tụ

để mở rộng sản xuất

Một phương tiện thanh toán phải giữ được giá trị của nó Vì thế mà hầu như chỉ là các loại hàng hóa không hư hỏng mới được thỏa thuận là "tiền" (thí dụ như là vàng hay kim cương) Nếu tiền không tồn tại thì một người nông dân chỉ có khả năng trao đổi ngũ cốc để lấy các hàng hóa khác cho đến khi ngũ cốc này bị hư hỏng Vì thế mà người nông dân tốt nhất là nên trao đổi ngũ cốc sớm để đổi lấy tiền "không bị hư hỏng" Điều này còn được gọi là chức năng bảo toàn giá trị hệ quả Chức năng bảo toàn giá trị tạo thành là chức năng tạo tài sản từ tiền bằng cách cất giữ, tức là giữ tiền duy nhất chỉ vì muốn bảo toàn giá trị

• Đơn vị hạch toán: Tiền cung cấp một đơn vị tiêu

chuẩn giá trị, được dùng để đo lường giá trị của các

hàng hoá khác nhau Đặc biệt nó cần thiết cho mọi nền

kinh tế, vì khả năng so sánh các chi phí và lợi ích của

các phương án kinh tế Nó còn là cơ sở để hạch toán

mọi hoạt động kinh tế từ sản xuất đến lưu thông và

tiêu dùng của mọi quốc gia

Khi tiền là một chuẩn mực chung để đo giá trị thì tất

cả các giá cả của một nền kinh tế có thể được thể hiện

bằng đơn vị tiền tệ Trong một nền kinh tế với 1 triệu

loại hàng hóa khác nhau khi so sánh giá trị trao đổi của mỗi hai loại hàng hóa một sẽ có vào khoảng 500 tỉ giá tương đối khác nhau (thí dụ: 1 giờ lao động = 5 bánh mì; 1 giờ lao động = 1 cái áo; 1 giờ lao động = 1kg thịt; 5 bánh mì = 1 cái áo; 1 cái áo = 1 kg thịt, ) Khi sử dụng tiền như là một chuẩn mực giá trị chung thì chỉ còn 1 triệu tỷ lệ trao đổi (5 đơn vị tiền = 1 giờ lao động = 10 kg gạo = 1 cái áo = 1 kg thịt lợn = ), vì thế mà khi so sánh giá cả không còn phải tốn nhiều công sức nữa

4.1.3 Phân loại tiền

Với chức năng là phương tiện thanh toán và dự trữ, giá trị tiền là một loại tài chính Trong thực tế, chúng được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như tiền giấy, tiền kim loại, tài khoản ngân hàng, sổ tiết kiệm, tín phiếu, v.v… Không phải mọi loại tiền trên đều có khả năng chuyển đổi dễ dàng Khả năng này được xác định bởi tính dễ dàng chuyển đổi từ một tài sản tài chính trở thành một phương tiện có khả năng sẵn sàng được sử dụng cho việc mua bán hàng hoá và dịch vụ

Ta có thể phân chia loại tiền theo tính chuyển đổi như sau:

• Tiền mặt lưu hành (M 0 ): Với sự đa dạng về lượng giá trị danh nghĩa, loại tiền này tuy

không sinh lợi, nhưng có khả năng sẵn sàng thanh toán cao nhất và được gọi là M0 (M0bao gồm tiền giấy và tiền kim loại lưu thông trên thị trường)

• Tiền gửi tài khoản ngân hàng không kỳ hạn có thế viết séc, v.v để thanh toán là một

loại tiền có khả năng thanh toán cao, tuy mức độ sẵn sàng cho thanh toán có kèm tiền mặt Vì vậy, tiền mặt và tiền gửi ngân hàng không thời hạn được nhiều nước coi là tiền giao dịch (M1) một trong những đại lượng đo lường cung tiền chủ yếu của một quốc gia

M1 = M0 + tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn (D)

Trang 7

Bài 4: Tiền tệ và chính sách tiền tệ

• Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (ngắn hạn) tuy tính chuyển đổi kém hơn so với tiền gửi

ngân hàng, nhưng vẫn có khả năng chuyển sang tiền mặt mà không gặp nhiều khó khăn, nên nó cũng được coi là có khả năng thanh toán

M1 cộng với tiền tiết kiệm có kỳ hạn (ngắn hạn) được gọi là M2 Vì khả năng thanh toán tương đối cao của các loại tiền này, nên nhiều nước xác định M1 hoặc M2 là đại lượng chủ yếu để đo cung tiền

Ngày nay, do sự phát triển và lớn mạnh của hệ thống tài chính đã cho ra đời nhiều loại tài sản tài chính khác ngày càng trở nên quan trọng như các chứng khoán cơ bản (tín phiếu kho bạc ngắn hạn, v.v…), các giấy xác nhận tài chính đối với tài sản hữu hình, các chấp nhận thanh toán của ngân hàng, v.v… Chúng cũng có khả năng nhất định nào đó trong thanh toán

và vì thế, tuỳ theo tính chất dễ chuyển đổi sang thanh toán mà được xếp vào các đại lượng cung tiền M3, M4, v.v…

Ở các nước đang phát triển bị ngoại tệ hoá, tiền ngoại tệ trong dân gian cũng phải tính nhưng thu thập thông tin rất khó khăn Nếu nước nào dùng vàng để thanh toán thì vàng cũng phải tính vào lượng tiền tệ Đây là trường hợp của Việt Nam với việc sử dụng rộng rãi ngoại

tệ và vàng làm phương tiện thanh toán Ở các nước phát triển, nhiều phương tiện thanh toán mới mẻ ra đời do đó hiện nay hệ thống tài khoản quốc gia của Liên Hợp Quốc và chuẩn của IMF, thay vì đưa ra một danh sách các phương tiện mà mọi nước phải theo như trước đây,

đã khuyến nghị rằng mỗi nước phải tự làm quyết định về những phương tiện nào nên đưa vào tiền tệ trên cơ sở đánh giá phương tiện nào có khả năng thanh toán như tiền mặt

Vậy, mức cung tiền là một khái niệm quan trọng được xác định bởi khối lượng M (có thể là

M1 hoặc M2,.v.v.) bao gồm các loại tiền có khả năng thanh toán cao nhất nhằm thoả mãn nhu cầu trao đổi, giao dịch thường xuyên của hoạt động kinh tế quốc dân

Trên góc độ Kinh tế Vĩ mô, người ta quan tâm nhiều hơn đến M1, M2; đồng thời cũng theo dõi chặt chẽ động thái của các thành phần tiền tệ khác Vì vậy, khối lượng tiền M tuỳ mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia có thể lựa chọn là M1, M2 dùng đại lượng chính đo mức cung tiền Nhiều nước đang phát triển thường lựa chọn đại lượng đó là M2 Tỷ lệ M2/GDP là một chỉ

số quan trọng phản ánh khái quát quy mô của nguồn vốn luân chuyển và mức độ tiền tệ hóa của một nền kinh tế

4.2 Cung tiền và quá trình tạo tiền của ngân hàng thương mại

4.2.1 Hệ thống ngân hàng thương mại

Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người

sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phải trả cho người cầm giữ hộ một khoản tiền công Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong

xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình trạng cùng một lúc tất cả chủ tiền gửi đến đòi nợ ngân hàng, đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng Căn cứ vào chức năng, ngân hàng được chia làm hai loại: Ngân hàng thương mại và ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, một tổ chức môi giới tài chính Hoạt động của nó cũng như của các tổ chức

Trang 8

Quá trình tạo tiền

Ngân hàng thương mại

môi giới tài chính khác như quỹ tín dụng, công ty bảo hiểm, là nhận tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức xã hội, Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi

khan thiếu Hoạt động của Ngân hàng

thương mại nhằm mục đích kinh doanh một

hàng hóa đặc biệt đó là "vốn – tiền", trả lãi

suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay

vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là

lợi nhuận của Ngân hàng thương mại Hoạt

động của Ngân hàng thương mại phục vụ

cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp

dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ

chức khác trong xã hội

Khác hẳn với Ngân hàng thương mại, Ngân

hàng Trung Ương (NHTƯ) không hoạt

động vì mục đích lợi nhuận và cũng không

kinh doanh tiền tệ Mỗi một quốc gia chỉ có

một ngân hàng Nhà nước duy nhất, có thể

gọi là ngân hàng mẹ có các chức năng như phát hành tiền, quản lý, thực thi và giám sát các chính sách tiền tệ; và có rất nhiều Ngân hàng thương mại, có thể coi là các ngân hàng con có chức năng thực hiện lưu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế Trong trường hợp Ngân hàng thương mại đứng trên bờ vực phá sản, NHTƯ sẽ là nguồn cấp vốn cuối cùng mà Ngân hàng thương mại tìm đến

Trong NHTM, tiền huy động được của người gửi gọi là tài sản "nợ", tiền cho công ty và các

cá nhân vay cũng như tiền gửi ở các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là tài sản "có" của ngân hàng Phần chênh lệch giữa số tiền huy động được và

số tiền đem cho vay, gửi ngân hàng và mua trái phiếu gọi là vốn tự có Phần tài sản có tính thanh khoản cao được giữ để đề phòng trường hợp tiền gửi vào ngân hàng bị rút đột ngột gọi là dự trữ của ngân hàng Toàn

bộ số vốn của ngân hàng được chia làm hai loại vốn cấp 1 và vốn cấp 2 Vốn cấp 1 còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận không chia và các quỹ dự trữ lập trên cơ sở trích từ lợi nhuận của tổ chức như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển Vốn cấp 2 bao gồm: Phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của

tổ chức, nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (như trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ khác)

Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, NHTM thực sự đóng một vai trò rất quan trọng,

vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu Năm

Trang 9

Bài 4: Tiền tệ và chính sách tiền tệ

2005 – 2006 Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại Nhà nước với mục đích quan trọng nhất là nâng cao năng lực tài chính của các tổ chức này Tính đến tháng 2–2007 đã có 34 NHTM hoàn tất việc cổ phần hóa với tổng số vốn điều

lệ trên 21.000 tỷ đồng, trong đó Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thường Tín có số vốn điều lệ cao nhất là trên 2.089 tỷ đồng

4.2.2 Quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại

Quá trình tạo ra tiền là sự mở rộng nhiều lần số tiền gửi và được thực hiện bởi hệ thống các Ngân hàng thương mại

Mỗi ngân hàng khi nhận được một khoản tiền gửi bắt buộc họ phải để lại dự trữ theo một tỷ

lệ nhất định do NHTƯ quy định Số tiền dự trữ này chủ yếu là để đảm bảo khả năng ổn định cho việc chi trả thường xuyên của NHTM và do yêu cầu quản lý tiền của NHTƯ Số tiền còn lại tiếp tục được cho vay, số tiền này lại được quay về hệ thống ngân hàng và cứ tiếp tục như vậy, quá trình này cứ diễn ra liên tục

Tiền mặt lưu hành

Dự trữ tiền mặt của các NH

Các khoản tiền gửi không kỳ hạn Mức cung tiền (MS) Tiền cơ sở (H)

Hình 4.1 Sơ đồ tạo tiền của ngân hàng thương mại

Kết quả là đã làm cho số lượng tiền có khả năng thanh toán gia tăng thêm một lượng là:

u∆D = ( 1/rb) ∆R

Và cuối cùng tổng số tiền có khả năng thanh toán trong hệ thống NHTM sẽ là:

D = (1/rb).R Trong đó: rb là tỷ lệ dự trữ bắt buộc

D là lượng tiền gửi

R là lượng tiền dự trữ

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc rb là mức tỷ lệ dự trữ tối thiểu hợp pháp do NHTƯ quy định đối với các NHTM

Tỷ lệ rb được tính như sau: rb = Rb/D

Trong đó Rb là mức tiền dự trữ bắt buộc

Tiền dự trữ bắt buộc trong NHTM để bảo đảm vai trò quản lý của NHTƯ đối với các NHTM và bảo đảm quá trình thanh toán được diễn ra một cách liên tục và thường xuyên Giả sử với lượng tiền gửi ban đầu là D khi đưa vào hoạt động trong hệ thống NHTM sẽ tạo thêm một khoản dự trự mới là ∆R và tạo ra một khoản tối đa cho vay mới là ∆D, khoản này lại tiếp tục được cho vay và kết quả là lượng tiền gửi được khuyếch đại lên nhiều lần và lượng tiền gửi đó đã tăng thêm một lượng là: ∆D = 1/rb ∆R

∑D = D + ∆D1 + ∆D2 + ∆D3 + + ∆Di

Trang 10

Ví dụ: Với một lượng tiền gửi ban đầu là 1000 USD, tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHTƯ quy

định đối với NHTM là 10%

Vậy tổng số lượng tiền gia tăng thêm có khả năng thanh toán do NHTM tạo ra và tổng số

lượng tiền có khả năng thanh toán trong hệ thống NHTM là bao nhiêu?

Ngân hàng thứ nhất Tài sản có Tài sản nợ

Dự trữ

$100 Cho vay

$900

Tiền gửi $1000

Tổng tài sản Tổng các khoản nợ

$1000 $1000

Hình 4.2 Quá trình tạo ra tiền của các ngân hàng thương mại

Chúng ta hãy xem xét quá trình tạo ra tiền của các ngân hàng thương mại sau đây:

Ngân hàng thứ hai nhận được một khoản tiền gửi là $900, để lại dự trữ theo tỷ lệ dự trữ bắt

buộc là 10%, tức là dự trữ $90, phần còn lại $810 tiếp tục cho vay

Ngân hàng thế hệ thứ nhất Ngân hàng thế hệthứ hai Tài sản có Tài sản nợ Tài sản có Tài sản nợ

Hình 4.3 Quá trình tạo ra tiền của các ngân hàng thương mại

Bảng 4.1 biểu thị quá trình tạo ra tiền của các ngân hàng thương mại và tổng lượng tiền

giao dịch được tạo trong hệ thống ngân hàng thương mại

Bảng 4.1: Quá trình tạo tiền của các ngân hàng thương mại

Sử dụng tiền vào Các thế hệ ngân hàng Tiền ngân hàng tăng thêm

Trang 11

Bài 4: Tiền tệ và chính sách tiền tệ

900 1000

Hình 4.4 Sơ đồ về quá trình tạo tiền của các ngân hàng thương mại

Gọi UD1 là toàn bộ lượng tiền ngân hàng tăng thêm, ta có:

Ở đây, 10 chính là số lần tăng thêm (hay là số vòng quay của tiền trong lưu thông)

1/rb được gọi là số nhân tiền đơn giản (thừa số tiền)

4.2.3 Cung tiền và các yếu tố tác động đến mức cung tiền

4.2.3.1 Khái niệm cung tiền

Cung tiền là toàn bộ khối lượng tiền được tạo ra trong nền kinh tế

Khối lượng tiền này bao gồm tiền mặt ngoài ngân hàng và tiền ngân hàng (tiền sử dụng séc),

và được xác định bởi khối lượng tiền M1 hoặc M2 tùy thuộc vào chính sách tiền tệ của một quốc gia, thường bao gồm các loại tiền có khả năng thanh toán chuyển đổi cao nhất nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch trong nền kinh tế quốc dân

Nó bao gồm tiền mặt đang lưu hành và các khoản tiền gửi tại các Ngân hàng thương mại

MS được xác định như sau: MS = U + D

Trong đó: MS là mức cung tiền thực tế

MMSP

=

M là mức cung tiền danh nghĩa

P là mức giá chung hay chỉ số giá

U là lượng tiền mặt đang lưu hành, D là lượng tiền gửi Như vậy, mức cung tiền lớn hơn nhiều so với lượng tiền cơ sở bởi hoạt động “tạo ra tiền” của các NHTM Mức cung tiền trước hết được quyết định bởi quy mô của lượng tiền cơ sở

và sau đó bởi khả năng tạo ra tiền của các NHTM nhờ số nhân tiền tệ

Trang 12

4.2.3.2 Sơ đồ về cung tiền

Theo sơ đồ, tiền cơ sở (cơ số tiền) H là tiền do Ngân hàng Trung Ương (cơ quan duy nhất được phép phát hành tiền mặt) phát hành biểu hiện dưới dạng tiền mặt lưu hành và tiền mặt

Khi các NHTM tham gia vào thị trường tiền tệ thì việc xác định tổng lượng tiền tệ trở nên phức tạp hơn bởi sự quay vòng bộ phận tiền cơ sở trong tay các ngân hàng Sự quay vòng đã làm tăng tổng mức cung tiền nên tiền cơ sở còn được gọi là tiền mạnh

4.2.3.3 Đồ thị đường cung tiền

Với giả định mức cung tiền thực tế MS là do ngân hàng trung ương quyết định, không phụ thuộc vào lãi suất Mức cung tiền sẽ không đổi khi lãi suất thay đổi, khi đó, đồ thị đường cung tiền sẽ là đường thẳng đứng, song song với trục tung

MS

Mức lãi suất

M 0

0 Lượng tiền

Hình 4 5 Đồ thị đường cung tiền

Đường cung tiền thực tế MS là đường thẳng đứng song song với trục tung

4.2.4 Số nhân tiền tệ và ý nghĩa của việc phân tích số nhân tiền

Khái niệm: Đứng trên góc độ tổng thể của nền kinh tế quốc dân thì số nhân tiền chính là một đại lượng được đo lường bằng tỷ số giữa mức cung tiền với lượng tiền cơ sở

U R

+

=+

Chia cả tử và mẫu số cho D ta được:

Trang 13

Bài 4: Tiền tệ và chính sách tiền tệ

Lượng tiền

• Nếu gọi s là tỷ lệ dự trữ tiền mặt của công

chúng (tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông so

với tiền gửi), thì: s = U/D

Tỷ lệ s phụ thuộc vào các yếu tố sau:

o Thói quen thanh toán hay còn gọi là

hành vi ưa tiền mặt của công chúng

Ví dụ: Có những nước người dân muốn giữ tiền mặt nhưng ở những nước có thị trường tiền tệ phát triển cao thì người dân thường thanh toán qua hệ thống ngân hàng và tỷ lệ s sẽ nhỏ

o Khả năng sẵn sàng đáp ứng tiền mặt và

khả năng thanh toán của các NHTM

o Tốc độ tăng tiêu dùng (dân giữ nhiều

tiền mặt hơn để thanh toán): Nếu dân chúng có xu hướng muốn dự trữ tiền mặt nhiều hơn thì tỷ lệ s sẽ tăng lên

• Nếu gọi ra là tỷ lệ dự trữ thực tế tại các NHTM thì:

o Sự thiệt hại do trả lãi suất nếu phải vay tiền khi thiếu hụt dự trữ

Số nhân tiền bây giờ sẽ là:

M a

1 sm

r s

+

=+ Lúc này mM được gọi là số nhân tiền đầy đủ hoặc số nhân tiền mở rộng

Tỷ lệ dự trữ thực tế ra càng nhỏ thì số nhân tiền sẽ càng lớn

Tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi (s) càng nhỏ, số nhân tiền sẽ càng lớn

Tỷ lệ này phụ thuộc vào thói quen thanh toán của xã hội, vào tốc độ tăng của tiêu dùng và còn phụ thuộc vào khả năng sẵn sàng đáp ứng tiền mặt của các NHTM Nếu giả thiết rằng không có sự rò rỉ tiền mặt trong lưu thông tức là tất cả quá trình thanh toán đều được diễn ra trong hệ thống NHTM, khi đó s = 0

Giả thiết các NHTM dự trữ đúng theo yêu cầu của NHTƯ thì ra = rb Lúc này số nhân tiền được viết dưới dạng mM = 1/rb, đây được gọi là số nhân tiền đơn giản Số nhân tiền đơn giản này chỉ rõ được vai trò của ngân hàng trung ương trong việc điều tiết mức cung tiền của nền kinh tế Mỗi một sự thay đổi nhỏ về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, sẽ làm thay đổi lớn về số nhân tiền và làm thay đổi mức cung tiền của nền kinh tế

Trang 14

Cầu tiền tệ

4.3 Cầu tiền tệ

4.3.1 Phân biệt các loại tài sản tài chính

Toàn bộ tài sản tài chính trong nền kinh tế được chia thành hai loại sau:

• Tài sản giao dịch (thanh khoản): Tài sản giao dịch tuy không tạo ra thu nhập nhưng

được dùng để thanh toán khi mua hàng hoá và dịch vụ, bao gồm các loại tiền mặt (tiền giấy) và tiền xu

• Các loại tài sản tài chính khác có tạo ra thu nhập (tín phiếu, cổ phiếu, sổ tiết kiệm, )

nhưng không thể dùng trực tiếp để mua hàng hoá

Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các hộ gia đình và doanh nghiệp giữ của cải của họ dưới dạng kết hợp cả hai loại tài sản này Để thuận lợi cho việc phân tích ta coi mọi tài sản giao dịch được gọi là tiền và mọi tài sản khác có thu nhập được gọi chung là trái phiếu Khi phân tích cung tiền và cầu tiền trong nền kinh tế, chúng ta thường phân tích tài sản giao dịch (thanh kho

ản) là chủ yếu

Giao dịch tài sản tài chính

4.3.2 Cầu tiền tệ và các yếu tố tác động đến cầu tiền tệ

4.3.2.1 Khái niệm

Cầu tiền là số lượng tiền cần để chi tiêu thường xuyên, đều đặn cho các nhu cầu tiêu dùng

cá nhân, sản xuất – kinh doanh và các nhu cầu khác

Khi phân tích cầu tiền, chúng ta thường phân tích dưới hai khía cạnh: Cầu tiền danh nghĩa

và cầu tiền thực tế

Nếu giá cả hàng hoá tăng, mức cầu tiền danh nghĩa cũng

tăng, nếu không sẽ không đủ tiền để mua đủ khối lượng hàng

hoá đã dự định Qua đó ta thấy thực chất của cầu tiền là cầu

về cán cân tiền tệ thực tế, đó là cầu tiền đã được loại trừ yếu

tố lạm phát

Cầu tiền thực tế = Cầu tiền danh nghĩa/Chỉ số giá cả (P)

Trang 15

Bài 4: Tiền tệ và chính sách tiền tệ

Lãi suất

4.3.2.2 Các yếu tố làm thay đổi mức cầu tiền

• Yếu tố lãi suất:

Chi phí giữ tài sản dưới dạng tiền là thu nhập từ lãi suất

mà các tài sản có thể tạo ra nếu như để chúng dưới dạng

trái phiếu Lãi suất chính là chi phí cơ hội của việc giữ

tiền Khi lãi suất thay đổi cầu tiền sẽ thay đổi

o Khi lãi suất tăng, lợi ích của việc gửi tiết kiệm đem lại

lớn hơn lợi ích của việc bỏ tiền ra để mua sắm do đó cầu tiền giảm Vì khi lãi suất tăng xu hướng tiết kiệm tăng, xu hướng tiêu dùng giảm, đồng thời đầu tư I giảm, xuất khẩu giảm, cầu tiền giảm

o Khi lãi suất giảm, dân cư muốn giữ nhiều tài sản dưới dạng tiền và ít tài sản dưới

dạng trái phiếu hơn, cầu tiền sẽ tăng lên

• Các yếu tố ngoài lãi suất:

o Thu nhập quốc dân: Thu nhập quốc dân tăng, tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ của hộ

gia đình tăng, đầu tư tăng kéo cầu tiền tăng và ngược lại Như vậy, khi các yếu tố làm thay đổi tổng cầu thì sẽ làm thay đổi sản lượng cân bằng của nền kinh tế và sẽ làm thay đổi cầu tiền

o Tính bất ổn định và mạo hiểm trong sản xuất – kinh doanh (ảnh hưởng đến khả

năng đầu tư)

o Nhu cầu về các tài sản khác (trái phiếu) → có thể làm cho nhu cầu về tiền thanh toán giao dịch giảm

4.3.2.3 Hàm số và đồ thị cầu tiền

Mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lãi suất và mức cầu về tiền được gọi là hàm cầu tiền (hàm ưa thích tiền thanh khoản)

Hàm cầu tiền có dạng sau: MD = k.Y – h.r

Trong đó: MD là mức cầu tiền thực tế

Trang 16

Khi các nhân tố ngoài lãi suất thay đổi: Giả sử thu nhập quốc dân tăng lên (hình 4.7), đường cầu tiền sẽ dịch chuyển sang phải từ MD0 đến MD1

Mức lãi suất

4.4.1 Trạng thái cân bằng của thị trường tiền tệ

Công cụ dùng để phân tích là đường cung và đường cầu về tiền Đường cung tiền là đường thẳng đứng (cung cố định) trên cơ sở cho rằng NHTƯ sử dụng các công cụ của nó đã cung ứng cho thị trường một mức cung tiền theo dự kiến Đó là khối lượng tiền xác định cho mọi mức lãi suất thực tế r Đường cầu về tiền là đường dốc xuống, biến thiên giảm theo lãi suất

MS

Mức lãi suất

Hình 4.8 Trạng thái cân bằng trên thị trường tiền tệ

Tác động qua lại giữa cung và cầu tiền xác định mức lãi suất cân bằng gọi là lãi suất thị trường Điểm E0 trên hình 4.8, chính là điểm cân bằng của thị trường tiền tệ

Tại mức lãi suất cân bằng r0, mức cầu tiền vừa đúng bằng mức cung tiền Ở mức lãi suất thấp hơn r0 là r1, sẽ có mức dư cầu (∆M = AB) đòi hỏi phải có mức dư cung trái phiếu

tương ứng làm cho giá trái phiếu giảm xuống, lợi tức trái phiếu tăng lên và đẩy thị trường lên tới mức lãi suất r0

Như vậy, trạng thái cân bằng trên thị trường tiền tệ xảy ra khi: MS = MD

Hay ta có phương trình cân bằng:

Mk.Y h.r

4.4.2 Sự thay đổi trạng thái cân bằng

Sự dịch chuyển đường cung hoặc đường cầu tiền sẽ làm thay đổi vị trí cân bằng của thị trường tiền tệ

• Khi NHTƯ tác động đến mức cung tiền, giả sử là bán trái phiếu hoặc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc dẫn đến lượng cung tiền giảm xuống, đường cung tiền sẽ dịch chuyển từ

Ngày đăng: 13/07/2014, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1.  Sơ đồ tạo tiền của ngân hàng thương mại - Kinh tế học Vĩ mô - Bài 4 docx
Hình 4.1. Sơ đồ tạo tiền của ngân hàng thương mại (Trang 9)
Hình 4.3.  Quá trình tạo ra tiền của các ngân hàng thương mại - Kinh tế học Vĩ mô - Bài 4 docx
Hình 4.3. Quá trình tạo ra tiền của các ngân hàng thương mại (Trang 10)
Bảng 4.1. biểu thị quá trình tạo ra tiền của các ngân hàng thương mại và tổng lượng tiền  giao dịch được tạo trong hệ thống ngân hàng thương mại - Kinh tế học Vĩ mô - Bài 4 docx
Bảng 4.1. biểu thị quá trình tạo ra tiền của các ngân hàng thương mại và tổng lượng tiền giao dịch được tạo trong hệ thống ngân hàng thương mại (Trang 10)
Bảng 4.1: Quá trình tạo tiền của các ngân hàng thương mại  Sử dụng tiền vào  Các thế hệ ngân hàng  Tiền ngân hàng tăng thêm - Kinh tế học Vĩ mô - Bài 4 docx
Bảng 4.1 Quá trình tạo tiền của các ngân hàng thương mại Sử dụng tiền vào Các thế hệ ngân hàng Tiền ngân hàng tăng thêm (Trang 10)
Hình 4.4.  Sơ đồ về quá trình tạo tiền của các ngân hàng thương mại - Kinh tế học Vĩ mô - Bài 4 docx
Hình 4.4. Sơ đồ về quá trình tạo tiền của các ngân hàng thương mại (Trang 11)
Hình 4. 5.  Đồ thị đường cung tiền - Kinh tế học Vĩ mô - Bài 4 docx
Hình 4. 5. Đồ thị đường cung tiền (Trang 12)
Đồ thị hàm cầu tiền: - Kinh tế học Vĩ mô - Bài 4 docx
th ị hàm cầu tiền: (Trang 15)
Hình 4.7.  Đường cầu tiền khi thu nhập quốc dân tăng  4.4.  Thị trường tiền tệ - Kinh tế học Vĩ mô - Bài 4 docx
Hình 4.7. Đường cầu tiền khi thu nhập quốc dân tăng 4.4. Thị trường tiền tệ (Trang 16)
Hình 4.9a.  Sự thay đổi trạng thái cân bằng trên thị trường tiền tệ - Kinh tế học Vĩ mô - Bài 4 docx
Hình 4.9a. Sự thay đổi trạng thái cân bằng trên thị trường tiền tệ (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w