Nội dung • Đo lường các chỉ tiêu sản lượng của quốc gia như: Tổng sản phẩm quốc dân GNP, Tổng sản phẩm quốc nội GDP • Chỉ ra cách xác định các chỉ số giá tiêu dùng CPI và chỉ số điều chỉ
Trang 1Nội dung
• Đo lường các chỉ tiêu sản lượng của quốc gia như: Tổng sản phẩm quốc dân (GNP), Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
• Chỉ ra cách xác định các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số điều chỉnh GDP và
tỷ lệ lạm phát
• Xây dựng các phương pháp xác định GDP
• Phân tích ý nghĩa của các chỉ tiêu GNP và GDP trong phân tích kinh tế vĩ mô
• Phân tích các đồng nhất thức kinh tế vĩ
mô cơ bản
• Giúp học viên hiểu và biết được các
phương pháp đo lường sản lượng quốc
gia, phương pháp tính lạm phát, thất
nghiệp, v.v
• Chỉ rõ cho học viên phương pháp tính
GDP và nêu được ý nghĩa, vai trò của các
bài này để học tập tốt hơn
• Trong bài này học viên cần phải học thuộc các công thức liên quan đến việc xác định sản lượng của nền kinh tế Học viên cũng cần có sự cố gắng thực hành các loại bài tập đã cung cấp, càng làm nhiều bài tập thì học viên càng nhớ lâu
và hiểu sâu các công thức cũng như các khái niệm xác định mức hạch toán thu nhập quốc dân
BÀI 2: HẠCH TOÁN THU NHẬP QUỐC DÂN
Trang 22.1 Các chỉ tiêu đo lường sản lượng quốc gia
2.1.1 Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product – GNP)
GNP là chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất trong một thời kỳ (thường lấy là một năm) bằng các yếu tố sản xuất của mình GNP đánh giá kết quả của hàng triệu giao dịch và hoạt động kinh tế do công dân
của một đất nước tiến hành trong một thời kỳ nhất định Đó chính là con số đạt được khi dùng thước đo tiền tệ để tính toán giá trị của các hàng hoá khác nhau mà các hộ gia đình, các hãng kinh doanh, Chính phủ mua sắm và tiêu dùng trong một thời gian đã cho Những hàng hoá và dịch vụ đó là các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng của các hộ gia đình; thiết bị nhà xưởng mua sắm và xây dựng lần đầu của các hãng kinh doanh; nhà mới xây dựng; hàng hoá và dịch vụ mà các cơ quan quản lý Nhà nước mua sắm và phần chênh lệch giữa hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu
Sản lượng ô tô
Dùng thước đo tiền tệ để đo lường giá trị sản phẩm là thuận lợi vì thông qua giá cả thị trường chúng ta có thể cộng giá trị của các loại hàng hoá có hình thức và nội dung vật chất khác nhau như lương thực, thực phẩm, xe ô tô, dịch vụ du lịch, y tế, giáo dục,v.v Nhờ vậy,
có thể đo lường kết quả sản xuất của toàn bộ nền kinh tế chỉ bằng một con số, một tổng lượng duy nhất Nhưng giá cả lại là một thước đo co dãn Lạm phát thường xuyên đưa mức giá chung lên cao Do vậy, GNP tính bằng tiền có thể tăng nhanh trong khi giá trị thực của tổng sản phẩm tính bằng hiện vật có thể không tăng hoặc tăng ít Để khắc phục được nhược điểm này, các nhà kinh tế thường sử dụng các khái niệm: GNP danh nghĩa và GNP thực tế GNP danh nghĩa (GNPn) đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời kỳ, theo giá cả hiện hành, tức là giá cả của cùng thời kỳ đó
Trang 3Như vậy, khi biết chỉ số điều chỉnh DGNP chúng ta có thể tính được GNPr từ GNPn và ngược lại, khi biết GNPr và chỉ số điều chỉnh DGNP chúng ta có thể tính được GNPn của cùng một thời kỳ
Chỉ tiêu GNP danh nghĩa và GNP thực tế thường được dùng cho các mục tiêu phân tích khác nhau Chẳng hạn, khi muốn nghiên cứu mối quan hệ tài chính, ngân hàng người ta thường dùng GNP danh nghĩa; khi cần phân tích tốc độ tăng trưởng kinh tế người ta thường dùng GNP thực tế
2.1.2 Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product – GDP)
GDP là chỉ tiêu đo lường tổng giá trị của các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất
ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
Chỉ tiêu GNP là kết quả của hàng triệu hoạt động kinh tế xảy ra bên trong lãnh thổ của một đất nước Những hoạt động này có thể là do công ty, doanh nghiệp của công dân nước ngoài sản xuất tại nước đó Nhưng GDP không bao gồm kết quả hoạt động của công dân nước sở tại tiến hành ở nước ngoài Đây là một dấu hiệu để phân biệt GDP và GNP
Trong thực tế, một hãng kinh doanh của nước ngoài sở hữu một nhà máy, dưới hình thức bỏ vốn đầu tư hay liên doanh với các công ty ở nước ta, thì một phần lợi nhuận của họ sẽ chuyển về nước họ để chi tiêu hay tích luỹ
Tổng sản phẩm quốc nội GDP
Ngược lại, công dân sinh sống và làm việc ở nước ngoài cũng gửi một phần thu nhập về trong nước Tuy vậy, hầu hết các khoản thu nhập chu chuyển giữa các nước không phải là thu nhập từ lao động mà là thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cổ phần, lợi nhuận, Khi hạch toán các tài khoản quốc dân, người ta thường dùng thuật ngữ “Thu nhập ròng từ tài sản nước ngoài” để chỉ phần chênh lệch giữa thu nhập của công dân nước ta ở nước ngoài và công dân nước ngoài ở nước ta Từ đó, ta có đẳng thức thể hiện mối quan hệ giữa GDP và GNP như sau:
GNP = GDP + Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài Hoặc GNP = GDP + Tổng thu về thu nhập nhân tố sản xuất từ nước ngoài – Tổng chi về thu nhập nhân tố sản xuất trả nước ngoài
2.1.3 Tổng sản phẩm quốc dân ròng (Net National Product – NNP)
Sản phẩm quốc dân ròng (NNP) là phần GNP còn lại sau khi trừ đi khấu hao Như đã biết
thì các tư liệu lao động bị hao mòn dần trong quá trình sản xuất Sau khi tiêu thụ sản phẩm các doanh nghiệp phải tiến hành bù đắp ngay phần hao mòn này Chúng không trở thành
Trang 4nguồn thu nhập của cá nhân và xã hội và không tham gia vào quá trình phân phối cho các thành viên trong xã hội
Như vậy, suy cho cùng, không phải tổng đầu tư mà đầu tư ròng cùng với các thành phần khác của GNP mới là những bộ phận quyết định tốc độ tăng trưởng, nâng cao mức sống của người dân Những bộ phận này tạo thành sản phẩm quốc dân ròng (NNP) Vậy ta có: NNP = GNP – khấu hao (TSCĐ)
Tuy nhiên, việc xác định tổng mức khấu hao trong nền kinh tế đòi hỏi nhiều thời gian và rất phức tạp Vì vậy, để đáp ứng kịp thời nhu cầu phân tích và tránh phiền phức do việc thu thập số liệu khác nhau, hay biến động về khấu hao, Nhà nước và các nhà kinh tế thường
sử dụng GNP
Bảng 2.1: Tổng thu nhập quốc dân theo giá thực tế từ 1990 - 2007
Chia ra Năm
Tổng thu nhập quốc gia (Tỷ đồng)
Tổng sản phẩm trong nước (Tỷ đồng)
Thu nhập thuần tuý từ nước ngoài (Tỷ đồng)
Tỷ lệ tổng thu nhập quốc gia so với tổng sản phẩm trong nước (%)
2.1.4 Thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân có thể sử dụng
Thu nhập quốc dân (Y hoặc NI): Là phần thu được khi lấy tổng sản phẩm quốc dân ròng (NNP) trừ đi phần thuế gián thu
Thu nhập quốc dân phản ánh tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất: Lao động, vốn, đất đai, tài nguyên, khả năng quản lý, của nền kinh tế hay đồng thời cũng là thu nhập của tất cả các hộ gia đình (các cá nhân) trong nền kinh tế Như vậy, khái niệm thu nhập quốc dân trùng hợp với khái niệm sản phẩm quốc dân ròng theo chi phí cho các yếu tố sản xuất, nó bao gồm tiền thuê lao động cộng với tiền thuê vốn cộng với tiền thuê bất động sản cộng lợi nhuận của doanh nghiệp
Trang 5Bảng 2.2: Một số chi tiêu chủ yếu về tài khoản quốc gia từ năm 2000 – 2007
hoá và dịch vụ 57.5 56.89 61.96 67.65 73.29 73.54 78.61 90.22 Tổng thu nhập
Trang 6• Thuế gián thu: Thông thường đây được coi là những loại thuế đánh vào sản xuất kinh
doanh hàng hoá và dịch vụ và do vậy, việc trả thuế chỉ là gián tiếp (người nộp thuế không
phải là người chịu thuế mà thực chất là người tiêu dùng phải gánh chịu) Thuế tiêu thụ
đặc biệt, thuế hải quan và thuế giá trị gia tăng là các ví dụ về thuế gián thu Sự phân biệt
giữa thuế trực thu và thuế gián thu là một sự phân biệt truyền thống trong tài chính công
cộng Tuy nhiên, sự phân biệt này không phải là một sự phân biệt hoàn toàn chặt chẽ,
đồng thời cũng không phải là đặc biệt bổ ích theo quan điểm phân tích Có một số ví dụ
về thuế mà sự phân loại là không dễ dàng và sự phân biệt giữa chúng không phải là rất có
ích theo quan điểm phân tích phạm vi ảnh hưởng
• Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi trừ
các chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Tuy thu nhập quốc dân là chỉ tiêu phản ánh thu nhập từ tất cả các yếu tố của nền kinh tế, do
vậy đã phản ánh mức sống của dân cư Nhưng để dự đoán khả năng tiêu và tích luỹ của dân
cư, Nhà nước phải dựa vào các chỉ tiêu trực tiếp hơn, tác động đến tiêu dùng và tích luỹ Đó
là thu nhập có thể sử dụng
Thu nhập có thể sử dụng là phần thu nhập quốc dân còn lại sau khi các hộ gia đình nộp lại
các loại thuế trực thu và nhận được các trợ cấp của Chính phủ hoặc doanh nghiệp
YD = Y – Td + TR
Thuế trực thu chủ yếu là các loại thuế đánh vào thu nhập do lao động; thu nhập do thừa kế
tài sản của cha ông để lại, các loại đóng góp của cá nhân như bảo hiểm xã hội, lệ phí giao
thông, Thu nhập của các hộ gia đình kinh doanh cá thể hay chung vốn cũng là một dạng
thuế trực thu và phải trừ ra từ thu nhập quốc dân Tương tự các loại thuế lợi tức đánh vào
các công ty cổ phần (công ty do nhiều người sở hữu) và phần lợi nhuận không chia của các
công ty để lại để tích luỹ tái sản xuất mở rộng, cũng không nằm trong thành phần của thu
nhập có thể sử dụng (YD)
Toàn bộ thu nhập có thể sử dụng (YD) chỉ bao gồm thu nhập mà các hộ gia đình có thể tiêu
dùng (C), và để dành hay tiết kiệm (S)
Ta có: YD = C + S
Bảng 2.3: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu xét dưới góc độ thuế
Thu nhập ròng tài sản
Thu nhập ròng tài sản
NX
G
Thu nhập từ các yếu tố đầu vào
Thu nhập từ tài sản nước ngoài ròng
Thu nhập từ tài sản nước ngoài ròng
NNP theo giá thị trường
Thu nhập quốc dân (Y) = NNP theo mức chi phí
Trang 72.1.5 Ý nghĩa của các chỉ tiêu GNP và GDP trong phân tích kinh tế vĩ mô Những hạn
chế của chỉ tiêu GNP và GDP
Một quốc gia hay một doanh nghiệp đều luôn tìm cách đo lường kết quả hoạt động của mình sau mỗi thời kỳ nhất định Tuy vậy, doanh nghiệp quan tâm nhiều đến lợi nhuận thu được Lợi nhuận là thước đo tốt nhất kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong khi đó, thành tựu kinh tế của một quốc gia phản ánh trong việc quốc gia đó sản xuất ra được bao nhiêu, nói cách khác, nó đã sử dụng những yếu tố sản xuất của mình đến mức độ nào, để tạo
ra sản phẩm phục vụ cho đời sống nhân dân của đất nước mình
Chỉ tiêu GNP hay GDP là những thước đo tốt về thành tựu kinh tế của một đất nước Ngân hàng thế giới (WB) hay quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng như các nhà kinh tế khác thường
sử dụng các chỉ tiêu này để so sánh quy mô sản xuất của các nước khác nhau trên thế giới GNP và GDP thường được sử dụng để phân tích những biến đổi về sản lượng của một đất nước trong thời gian khác nhau Trường hợp này, người ta thường tính tốc độ tăng trưởng của GNP hay GDP thực tế nhằm loại trừ sự biến động của giá cả
Các chỉ tiêu GNP hay GDP còn được sử dụng để phân tích sự thay đổi mức sống của dân
cư Lúc này người ta tính các chỉ tiêu GNP và GDP bình quân đầu người:
GNP bình quân đầu người = GNP/tổng dân số
GNP của Mỹ qua các năm (Tỷ USD)
Như vậy, mức sống của dân cư của một nước phụ thuộc vào số lượng hàng hoá và dịch vụ
mà họ sản xuất ra và quy mô dân số của nước đó Sự thay đổi về GNP hay GDP bình quân đầu người phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tăng dân số và năng suất lao động Nói cách khác, mức sống của dân cư của một nước phụ thuộc và đất nước đó giải quyết vấn đề dân số trong mối quan hệ với năng suất lao động như thế nào?
Thu nhập bình quân đầu người trên thế giới
Trang 8Có sự khác nhau giữa hai chỉ tiêu GNP bình quân đầu người và GDP bình quân đầu người GNP bao gồm GDP và phần chênh lệch về tài sản từ nước ngoài, nên GNP bình quân đầu người là một thước đo tốt hơn, xét theo khía cạnh số lượng hàng hoá và dịch vụ mà mỗi người dân một nước có thể mua được Còn GDP bình quân đầu người là thước đo tốt hơn về
số lượng hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra tính bình quân cho một người dân Điều này giải thích tại sao các thống kê của World Bank thường đưa ra các ước tính về GDP, trong khi các nước tính bình quân đầu người lại dùng GNP
Hiện nay, hầu hết các Chính phủ của các quốc gia trên thế giới đều phải dựa vào số liệu và các ước tính về GNP và GDP để lập các chiến lược phát triển kinh tế dài hạn và kế hoạch ngân sách, tiền tệ ngắn hạn Từ các chỉ tiêu GNP và GDP, các cơ quan hoạch định chính sách đưa ra các phân tích về tiêu dùng, đầu tư, ngân sách, lượng tiền, xuất nhập khẩu, giá cả,
tỷ giá hối đoái, Các phân tích này thường được tiến hành trên cơ sở các mô hình toán kinh
tế vĩ mô Thiếu các thống kê chính xác về GNP và GDP, Nhà nước thiếu một cơ sở tối thiểu cần thiết cho quá trình quản lý và điều tiết kinh tế Muốn có số liệu chính xác về GNP và GDP cần có phương pháp khoa học để tính toán GNP và GDP
Một câu hỏi đặt ra là: GNP có phải là thước đo hoàn hảo về thành tựu kinh tế cũng như phúc lợi kinh tế của một đất nước không? Câu trả lời là không
Qua trình bày ở trên, phương pháp tính GDP và do đó GNP đã bỏ sót nhiều sản phẩm và dịch vụ mà nhân dân làm hoặc giúp đỡ nhau làm, vì đơn giản là không đưa ra thị trường và không báo cáo Nhiều hoạt động kinh tế phi pháp hoặc hợp pháp nhưng không được báo cáo nhằm trốn thuế, cũng không tính được vào GNP Những thiệt hại về môi trường như ô nhiễm nước, không khí, tắc nghẽn giao thông, gây thiệt hại cho sức khoẻ và môi trường, cũng không được “điều chỉnh” khi tính GNP Sau cùng, GNP phản ánh những hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế Nhưng hàng hoá cao cấp nhất cho đời sống con người là thời gian nghỉ ngơi, để bổ khuyết cho sự thoải mái về tâm lý thì không thể nào ghi chép và phản ánh được vào GNP
Nhiều nhà kinh tế đã đề nghị sử dụng một khái niệm mới: Phúc lợi kinh tế ròng (NEW) để
đo lường phúc lợi thay cho GNP hoặc bổ sung cho nó Nhưng vì phương pháp tính NEW còn là mới mẻ, chưa theo dõi được, nên chúng ta tiếp tục sử dụng GNP làm thước đo thành tựu kinh tế của một đất nước
2.2 Chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số điều chỉnh GDP
2.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index – CPI)
Một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng tiếp theo là chỉ số giá tiêu dùng Giống như GDP, CPI cũng được coi là một hàn thử biểu của nền kinh tế do thay đổi trong CPI có tác động trực tiếp đến mức sống và phúc lợi kinh tế của mọi người dân trong xã hội Bởi vậy, CPI thu hút
sự quan tâm theo dõi của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, từ các nhà kinh tế đến những người dân thường Cơ quan chức năng của Chính phủ là Tổng cục Thống kê tiến hành xây dựng CPI như thế nào và đo lường tỷ lệ lạm phát ra sao và sử dụng chỉ số này như thế nào
để so sánh những con số tính bằng đơn vị đồng (tiền) ở những thời điểm khác nhau là những nội dung chủ yếu được đề cập trong phần này Tiếp đó là chỉ ra những sự khác biệt chủ yếu giữa hai chỉ số giá là chỉ số điều chỉnh GDP và CPI và những hạn chế của việc dùng những thay đổi trong CPI là các thước đo của lạm phát
Trang 92.2.1.1 Định nghĩa chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng đo lường mức giá trung
bình của giỏ hàng hóa và dịch vụ mà một
người tiêu dùng điển hình mua
Chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ tiêu tương đối
phản ánh xu thế và mức độ biến động của giá
bán lẻ hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ dùng
trong sinh hoạt của dân cư và các hộ gia đình
Bởi vậy, nó được dùng để theo dõi sự thay đổi
của chi phí sinh hoạt theo thời gian
Khi chỉ số giá tiêu dùng tăng, nghĩa là mức giá
trung bình tăng Kết quả là người tiêu dùng
phải chi nhiều tiền hơn để có thể mua được một lượng hàng hóa và dịch vụ như cũ nhằm duy trì mức sống trước đó của họ
Ở Việt Nam, hàng tháng Tổng cục thống kê tính toán và công bố những số liệu mới về CPI Trên cơ sở những con số thống kê này, các nhà phân tích nhanh chóng đưa ra các bình luận về nguyên nhân thay đổi giá cả và đồng thời dự báo triển vọng thay đổi giá cả trong tương lai trên các mặt báo hàng ngày hoặc đưa lên Tivi Chúng ta có thể đọc thấy những con số thống kê này trên các Niên giám Thống kê do Tổng cục thống kê phát hành hàng năm
2.2.1.2 Xây dựng chỉ số giá tiêu dùng
Bây giờ, chúng ta tìm hiểu xem các nhà thống kê kinh tế tính chỉ số CPI như thế nào? Trước hết để xây dựng chỉ số giá tiêu dùng, các nhà thống kê kinh tế chọn năm cơ sở/kỳ gốc Tiếp
đó, họ tiến hành các cuộc điều tra tiêu dùng trên khắp các vùng của đất nước để xác định
“giỏ” hàng hóa và dịch vụ điển hình mà dân cư mua trong năm cơ sở Hiện nay, giỏ hàng đặc trưng để tính CPI của Việt Nam được hình thành bởi 10 nhóm hàng cấp I; 34 nhóm hàng cấp II và 86 nhóm hàng cấp 3 CPI và xu thế biến động của mức giá hàng tiêu dùng được tính toán như thế nào? Để biết được một cách chính xác, chúng ta hãy xét 1 ví dụ đơn giản với các bước tiến hành cụ thể sau:
• Bước 1: Chọn năm cơ sở và xác định giỏ hàng cho năm cơ sở t
i
(q )với t biểu thị năm hay thời kỳ thứ t, với t = 0 ở năm cơ sở; và i là dạng viết gọn của mặt hàng tiêu dùng thứ i trong giỏ hàng cơ sở Giả sử năm cơ sở là năm 2002, trong ví dụ chúng ta thì:
q =qChúng ta giả định rằng ở năm cơ sở, giỏ hàng của người tiêu dùng điển hình chỉ bao gồm
có 2 mặt hàng là gạo và cá với lượng hàng mua tương ứng là 10 kg và 5 kg cá Chúng ta
cố định giỏ hàng này cho các năm tiếp theo, vì mục đích của chúng ta là xác định ảnh hưởng của những thay đổi giá đến chi phí giỏ hàng ở các năm khác nhau
• Bước 2: Xác định giá của từng mặt hàng trong giỏ hàng cố định cho các năm ( t
i
p ) với giá của mặt hàng gạo và giá cả như đã được ghi chép lại ở bảng 2.5
Bây giờ chúng ta tiến hành tính CPI cho từng năm và tỷ lệ lạm phát qua các năm
• Bước 3: Tính chi phí mua giỏ hàng cố định theo giá thay đổi theo các năm
Tiêu dùng
Trang 10Chi phí cho giỏ hàng của mỗi năm được tính bằng cách nhân giá của từng mặt hàng của
năm tương ứng với lượng cố định của các mặt hàng đó ở năm cơ sở và sau đó cộng các
giá trị tìm được với nhau Do chỉ có giá các mặt hàng thay đổi qua các năm nên chi phí
giỏ hàng ở năm t là ∑ p qt 0i i
• Bước 4: Tính chỉ số giá tiêu dùng cho các năm Sau khi có số liệu về chi phí cho giỏ
hàng cho từng năm, chúng ta có thể tính CPI, đó là một chỉ số Cũng giống như ở chỉ số
điều chỉnh GDP để tiện lợi, các nhà thống kê kinh tế thường thể hiện giá trị của chỉ số ở
năm cơ sở là 100 thay vì 1,0
CPI của một năm/thời kỳ nào đó chính là tỷ số giữa giá trị (chi phí) giỏ hàng của năm đó
và giá trị (chi phí) giỏ hàng của năm cơ sở nhân với 100 Đó là:
t 0
i i t
0 0
i i
p qCPI ( )
p q
= ∑
Bảng 2.5: Ví dụ về cách xác định chỉ số giá tiêu dùng CPI
Bảng 2.5 mô tả cách xác định chỉ số giá tiêu dùng CPI trong năm hiện hành và năm cơ sở
đối với 3 loại hàng hóa là lượng cam tiêu thụ, số đầu cắt tóc và số vé xe buýt đi trong 1 năm
Giá cả hiện tại của 3 loại hàng hóa đều tăng lên, nhưng chúng ta xét số lượng 3 loại hàng
hóa này không đổi ở thời điểm hiện tại và một thời điểm nào đó lấy làm gốc Khi đó, chỉ số
giá tiêu dùng tại năm cơ sở và thời điểm hiện tại là:
0
210CPI 100 100
210
= ⋅ = ;
1
231CPI 100 110
210
= ⋅ =
Bảng 2.6: Ví dụ về cách xác định giá trị các chỉ số CPI từ năm 2002 – 2004
(1000đ/kg)
Giá cá (1000đ/kg)
Trong ví dụ ở Bảng 2.6, CPI của năm 2003 là 119 Theo định nghĩa thì CPI với năm 2002 là
năm cơ sở là 100 CPI năm 2003 là 119 cho biết rằng mức giá của năm 2003 cao hơn mức
giá của năm cơ sở 2002 là 19% Tương tự, so với năm cơ sở 2002 thì mức giá của năm 2004
đã tăng lên là 52,4%
Trang 112.2.1.3 Tính toán chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hàng tháng nhân viên Tổng cục Thống kê cùng các Chi cục Thống kê tại các
tỉnh, thành trong cả nước tiến hành quan sát và ghi chép giá cả của các mặt hàng trong từng
nhóm hàng thuộc giỏ hàng đã cố định Khi đã có đầy đủ số liệu, họ tính CPI thông qua việc
tính chi cho giỏ hàng hóa và dịch vụ theo giá hiện hành của thời kỳ tính toán Giá trị tính
được này sau đó được đem so sánh với giá trị của giỏ hàng trong thời kỳ cơ sở
Hiện nay, Tổng cục Thống kê tính chỉ số giá tiêu dùng theo công thức Laspeyres, như sau:
i 0i 0i
CPI dCPI
d
= ∑
∑
Trong đó: CPIi là chỉ số giá cả tiêu dùng tính theo nhóm hàng tiêu dùng i
d0i là quyền số cố định của nhóm hàng i tính theo năm cơ sở/ kỳ gốc
Chỉ số giá tiêu dùng được tính chung cho tất cả các
nhóm hàng và tính riêng cho từng nhóm hàng Khi
tính toán chỉ số giá tiêu dùng Tổng cục thống kê cố
gắng tính tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ mà
người tiêu dùng điển hình mua Ngoài ra, họ còn tìm
cách gắn quyền số cho những hàng hóa và dịch vụ
này theo số lượng của mỗi loại hàng mà người tiêu
dùng mua Quyền số dùng trong tính toán chỉ số giá
tiêu dùng là tỷ trọng chi tiêu cho từng nhóm hàng so
với tổng chi tiêu trung bình của một người trong một
năm, tính bằng tỷ lệ phần trăm Quyền số được cố
định và sử dụng để tính chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam từ ngày 1/5/2006, được biểu thị ở
bảng 2.7
Bảng 2.7 dưới đây phân tích chi tiêu của người tiêu dùng theo các nhóm hàng hóa và dịch
vụ chủ yếu ở Việt Nam Nhóm hàng được tiêu dùng nhiều nhất là lương thực và thực phẩm,
chiếm tới 42,85% ngân sách của người tiêu dùng điển hình Nhóm này bao gồm chi tiêu về
lương thực chiếm 9,86% và chi tiêu về thực phẩm chiếm 25,2%
Bảng 2.7: Quyền số tính chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam
Trang 122.2.2 Chỉ số điều chỉnh GDP (GDP Deflator DGDP)
Chỉ số điều chỉnh GDP (DGDP) đo lường mức giá trung bình của tất cả mọi hàng hóa và dịch
vụ được tính vào GDP Chỉ số điều chỉnh GDP được tính bằng tỷ số giữa GDP danh nghĩa
và GDP thực tế Nó phản ánh mức giá hiện hành so với mức giá của năm cơ sở Chỉ số điều
chỉnh GDP ở những năm sau (thời kỳ sau) phản ánh sự gia tăng của GDP danh nghĩa so với
năm gốc, nó chỉ cho biết sự thay đổi sản lượng do giá thay đổi chứ không cho biết sự gia
tăng của GDP thực tế
Do GDP danh nghĩa phải bằng GDP thực tế ở năm cơ sở theo định nghĩa nên chỉ số điều
chỉnh GDP ở năm cơ sở luôn bằng 1 Tuy nhiên, để tiện lợi, các nhà thống kê kinh tế thường
thể hiện giá trị của chỉ số điều chỉnh GDP hay chỉ số giảm phát ở năm cơ sở là 100 thay vì
là 1 Rõ ràng là đọc chỉ số điều chỉnh GDP của năm 2004 là 196,9 dễ hơn là 1,969 (so với
Bảng 2.8 mô tả cách xác định chỉ số điều chỉnh GDP Chúng ta xác định giá trị GDP danh
nghĩa và GDP thực tế trước, sau đó tính được:
DGDP = (16012/15300) X 100 = 104,7 Chúng ta có thể minh họa những điều đã được đề cập trên bằng một ví dụ đơn giản, đó là
nghiên cứu một nền kinh tế tưởng tượng chỉ sản xuất hai hàng hóa cuối cùng là gạo, nước
mắm Đối với mặt hàng gạo, đơn vị đo lường về lượng được tính bằng kg và giá được tính
theo đơn vị nghìn đồng một kg Về mặt hàng nước mắm đơn vị đo lường về lượng được tính
bằng lít và giá được tính theo nghìn đồng một lít Chúng ta tìm hiểu xem các nhà thống kê
kinh tế tính toán các chỉ tiêu về GDP danh nghĩa (GDPn), GDP thực tế (GDPr) theo cách
tiếp cận chỉ tiêu, chỉ số điều chỉnh GDP (DGDP) và tỷ lệ tăng trưởng GDP hay tốc độ tăng
trưởng kinh tế hàng năm (g) như thế nào Dựa theo các công thức đã nêu và chọn năm 2002
là năm cơ sở chúng ta tính được các chỉ tiêu trên căn cứ vào số liệu ở bảng 2.9
Bảng 2.9: Xác định GDP danh nghĩa, GDP thực tế, và chỉ số điều chỉnh GDP
Trang 13Nhìn vào kết quả tính toán ở bảng 2.9, chúng ta thấy rằng GDP danh nghĩa và GDP thực tế bằng nhau và bằng 4260 trong năm cơ sở là năm 2002 Vì vậy, chỉ số điều chỉnh GDP bằng
100 Trong năm 2003, GDP danh nghĩa là 6225 trong khi GDP thực tế là 4930, chúng ta có chỉ số điều chỉnh GDP là 126,3 Điều này có nghĩa là mức giá chung của nền kinh tế trong năm 2003 đã tăng lên 26,3% so với năm 2002
2.2.3 Cách tính tỷ lệ lạm phát
Tính tỷ lệ lạm phát (π) là công việc cuối cùng, giúp
chúng ta hiểu được ứng dụng của CPI trong phân tích
kinh tế Cụ thể, chúng ta dùng CPI để tính tỷ lệ lạm phát
Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung theo
thời gian Do vậy, tỷ lệ lạm phát là phần trăm thay đổi
của mức giá chung so với thời kỳ trước đó Trong ví dụ
này, tỷ lệ lạm phát hay tốc độ tăng giá của giỏ hàng tiêu
dùng của năm sau so với năm trước được tính bằng công
Bảng 2.10: Xác định tỷ lệ lạm phát dựa vào chỉ số điều chỉnh GDP (theo bảng 2.9)
2.3 Các chỉ tiêu đo lường khác
2.3.1 Lãi suất và tỷ lệ lãi suất thực tế
Hiệu chỉnh các biến số kinh tế khỏi ảnh hưởng của lạm phát cũng diễn tra trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng, cụ thể đối với lãi suất tiền gửi và tiền vay Khi gửi tiền tiết kiệm vào tài khoản ở ngân hàng người ta nhận được một khoản tiền lãi từ khoản tiền vay Trái lại, khi vay tiền của ngân hàng để kinh doanh hoặc mua sắm hàng tiêu dùng người ta phải trả lãi cho khoản tiền vay đó Như vậy, lãi suất thể hiện một khoản thanh toán trong tương lai cho một sự chuyển giao tiền trong quá khứ Bởi vậy, lãi suất luôn liên quan đến việc so sánh các khoản tiền tại các thời điểm khác nhau
Tỷ lệ lạm phát
Trang 14Giao dịch tại Ngân hàng
Để dễ hiểu chúng ta xem xét một ví dụ Giả sử anh A gửi một khoản tiền là 10 triệu đồng vào ngân hàng Techcombank với lãi suất hàng năm là 10% Sau một năm, anh A nhận được
1 triệu tiền lãi hay số lượng đồng mà anh A có tăng lên 10% Rút toàn bộ số tiền cả gốc và lãi, anh A có 11 triệu đồng Có đúng anh A được lợi một số tiền là 1 triệu đồng so với số tiền 10 triệu mà anh A gửi vào một năm trước đây không? Đúng là số lượng tiền anh A nhận được này tăng lên 10% Tuy nhiên, giá hàng hóa trong năm đã tăng lên 9,5% nên mỗi đồng bây giờ mua được ít hàng hóa hơn trước hay sức mua của anh A không tăng lên 10% Thực
tế, lượng hàng hóa mà anh A mua được chỉ tăng thêm 0,5% Nếu lạm phát cao hơn 10%, giả
sử là 12%, thì sức mua thực tế của anh A đã giảm 2%
Lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền được gọi là lãi suất danh nghĩa (Nominal Interest Rate – ký hiệu là i) và lãi suất đã trừ tỷ lệ lạm phát gọi là lãi suất thực tế (Real Interest Rate – ký hiệu là r) Từ đó chúng ta có thể mô tả mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế dưới dạng công thức sau:
r = i – π Như vậy, lãi suất thực tế là khoản chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát Lãi suất danh nghĩa cho biết số đồng tiền tăng lên như thế nào qua thời gian trong khi lãi suất thực tế cho biết sức mua của tài khoản ngân hàng tăng lên như thế nào qua thời gian Trên thực tế, lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế không phải luôn biến đổi chiều theo thời gian Trong 2 năm 2004 và 2005, mặc dù lãi suất danh nghĩa cao và luôn được điều chỉnh cao hơn nhưng lãi suất thực tế lại rất thấp và thậm chí giảm xuống thành lãi suất âm Đó là tình huống lạm phát cao và lạm phát gia tăng đã giảm giá trị của khoản tiền tiết kiệm nhanh hơn lãi suất danh nghĩa tăng giá trị của khoản tiền này
2.3.2 Đo lường tỷ lệ thất nghiệp
Thống kê việc làm và thất nghiệp là một trong những số
liệu kinh tế được mọi người quan tâm nhất
Thứ nhất là một nền kinh tế vận hành tốt sẽ sử dụng hết
các nguồn lực hiện có Thất nghiệp có thể là tín hiệu cho
biết các nguồn lực dư thừa, do đó chỉ ra nền kinh tế có thể
có những vấn đề trong việc vận hành Thứ hai là thất
nghiệp được mọi người đặc biệt quan tâm bởi vì đó là vấn
đề Kinh tế Vĩ mô ảnh hưởng đến con người trực tiếp nhất
Trang 15Thước đo thất nghiệp dựa trên cơ sở phân loại dân số hoạt động kinh tế (tính từ đủ 15 tuổi trở lên):
POP = E + U + NL Trong đó, POP là dân số hoạt động kinh tế, E là số người có việc, U là số người thất nghiệp,
và NL là những người không nằm trong lực lượng lao động Do đó, chúng ta có:
L = U + E Trong đó: L là lực lượng lao động
L/POP là tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (là phần trăm của dân số hoạt động kinh tế nằm trong lực lượng lao động)
Tỷ lệ có việc (em) và tỷ lệ thất nghiệp (u) được xác định như sau:
m
EeL
2.3.3 Tiết kiệm tư nhân và tiết kiệm Chính phủ
Tiết kiệm tư nhân là phần còn lại của thu nhập sau khi đã tiêu dùng Tiết kiệm của Chính phủ chính là cán cân ngân sách của Chính phủ; nó là phần còn lại của nguồn thu ngân sách sau khi Chính phủ đã chi tiêu trong năm tài khóa
Trong nền kinh tế giản đơn, nền kinh tế chỉ có hai tác nhân kinh tế là hộ gia đình và hãng kinh doanh thì tiết kiệm Chính phủ không tồn tại, chỉ có tiết kiệm tư nhân Khi đó, giả sử gọi SP là tiết kiệm của các hộ gia đình thì SP chính bằng đầu tư tư nhân (I) và cũng đúng bằng tiết kiệm quốc dân
Trong nền kinh tế có yếu tố Chính phủ (nền kinh tế đóng), nếu gọi tiết kiệm của Chính phủ
là SG thì tiết kiệm quốc dân là SN = SG + SP; trong đó, tiết kiệm khu vực tư nhân (SP) = thu nhập có thể sử dụng (YD) – chi tiêu hàng hóa và dịch vụ của các hộ gia đình (C); tiết kiệm của Chính phủ cũng chính là cán cân ngân sách Chính phủ (B = T – G)
2.4 Các phương pháp xác định GDP
2.4.1 Sơ đồ dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô
Trong nền kinh tế, các tác nhân đã tạo nên mối quan hệ chằng chịt trong việc tạo ra các hàng hoá và dịch vụ Để đơn giản cho việc tính toán, người ta chỉ xem xét mô hình kinh tế giản đơn có hai tác nhân tham gia là hộ gia đình và hãng kinh doanh Mô hình đó chính là sơ đồ luân chuyển Kinh tế Vĩ mô:
Khu vực
hộ gia đình
Khu vực Doanh nghiệp
Hàng hóa dịch vụ Chỉ tiêu của hộ gia đình
Yếu tố đầu vào Thu nhập của hộ gia đình
Hình 2.1 Sơ đồ dòng luân chuyển Kinh tế Vĩ mô