- Nếu sự khử rung điện electrical cardioversion được sử dụng để chuyển biến các loạn nhịp nhanh nhĩ hay thất, sốc điện phải được đồng bộ hóa để xảy ra với sóng R của điện tâm đồ hơn là v
Trang 1LOẠN NHỊP TIM (CARDIAC ARRHYTHMIAS)
Trang 2(tachyarrhythmia) với một tần số dưới 150 đập/phút có thể là nguyên nhân nguyên phát của sự bất ổn huyết động Một tần số dưới 150 đập/phút, đòi hỏi phải khử rung điện (electrical conversion), là điều không thường xảy ra
3/ SỰ KHỬ RUNG ĐỒNG BỘ (SYNCHRONIZED CARDIOVERSION) LÀ GÌ ?
- Đó là sự đồng bộ hóa (synchronization) của năng lượng được phát ra
để phù hợp với phức hợp QRS Điều này làm giảm nguy cơ một sốc điện gây nên rung thất (ventricular fibrillation), có thể xảy ra khi năng lượng điện tác động vào phần trơ (refractory portion) của hoạt động điện tim (đường xuống của sóng T)
- Nếu sự khử rung điện (electrical cardioversion) được sử dụng để chuyển biến các loạn nhịp nhanh nhĩ hay thất, sốc điện phải được đồng bộ hóa để xảy ra với sóng R của điện tâm đồ hơn là với sóng T Bằng cách tránh thời kỳ trơ với phương cách này, nguy cơ bị rung thất được giảm thiểu Hầu hết các máy khử rung dùng bằng tay (manual defibrillator) đều có gắn một cái ngắt điện khiến sốc điện có thể được khởi động bởi sóng R trên điện tâm đồ
4/ LÀM SAO THỰC HIỆN MỘT SỰ KHỬ RUNG ĐỒNG BỘ ?
Trang 3- Hãy chọn trên monitor một chuyển đạo cho thấy rõ ràng một sóng R
có biên độ lớn hơn sóng T
- Mở máy khử rung (defibrillator)
- Dùng synchronization mode bằng cách ấn vào nút kiểm soát đồng bộ (sync control button), và tìm kiếm những chỉ dấu trên sóng R chỉ cho thấy sync mode đang hoạt động và bắt phức hợp QRS chứ không phải sóng T
- Anh có thể cần điều chỉnh sóng R cho đến khi các chỉ dấu đồng bộ xảy ra với mỗi phức hợp QRS
- Sau đó chọn mức năng lượng thích hợp, đặt các palettes vào vị trí một cách thích đáng, thực hiện một sức đè 25 lb lên cả hai palettes, và đồng thời ấn vào nút phóng điện (discharge button)
- Luôn luôn nhớ an thần một cách thích đáng nơi tất cả các bệnh nhân thức tỉnh Thuốc an thần gồm có diazepam, midazolam, barbiturates, và ketamine, có hay không có những thuốc giảm đau kèm theo như fentanyl, morphine, hay meperidine
5/ TIM NHỊP CHẬM (BRADYCARDIA) LÀ GÌ ?
Trang 4Tim nhịp chậm (bradycardia) được định nghĩa như là tần số tim 60 đập/phút Tim nhịp chậm thường do tim nhịp chậm xoang (sinus bradycardia), gây nên bởi hệ phó giao cảm Những nguyên nhân bệnh lý hơn của tim nhịp chậm gồm có ngừng xoang (sinus arrest), loạn năng nút xoang (sinus node dysfunction), và bloc nút nhĩ thất (AV nodal block)
6/ LOẠN NHỊP CHẬM NÀO CÓ NGUỒN GỐC TRONG NÚT XOANG (SINUS NODE) ?
Tim nhịp chậm xoang (sinus bradycardia) xảy ra khi tính tự động của nút xoang (sinus node) ở tâm nhĩ bị giảm Nghỉ xoang (sinus pause) và ngừng xoang (sinus arrest) xảy ra khi một xung động xoang (sinus impulse) không được dẫn truyền ra khỏi nút xoang vào tâm nhĩ
7/ TIM NHỊP CHẬM XOANG (SINUS BRADYCARDIA) LÀ GÌ
?
Là một nhịp xoang (sinus rhythm) với một tần số dưới 60 đập/phút
8/ 6 NGUYÊN NHÂN CỦA TIM NHỊP CHẬM XOANG ?
1 Thuốc : bêta-blockers ; calcium channel blockers ; digoxin ; các thuốc chống loạn nhịp class Ia, Ic, và III ; lithium
Trang 52 Giảm năng tuyến giáp (hypothyroidism)
3 Giảm oxy mô nặng (profound hypoxia)
4 Hạ thân nhiệt trung bình (moderate hypothermia)
5 Hội chứng nút xoang bệnh (sick sinus syndrome)
6 Các lực sĩ : tim nhịp chậm xoang là bình thường nơi những vận động viên thể thao
9/ THIẾU MÁU CỤC BỘ CƠ TIM CÓ THỂ GÂY NÊN TIM NHỊP CHẬM XOANG HAY KHÔNG ?
- Có Thiếu máu cục bộ (ischemia) của tâm thất phải thường liên hệ động mạch vành phải Động mạch này cung cung cấp máu cho nút nhĩ thất Mất lưu lượng máu đến nút nhĩ thất có thể đưa đến bloc nhĩ thất độ ba
10/ ĐIỀU TRỊ TIM NHỊP CHẬM XOANG (SINUS BRADYCARDIA) NHƯ THẾ NÀO ?
1 Chỉ điều trị khi có triệu chứng
2 Điều trị nguyên nhân gây tim nhịp chậm
Trang 63 Atropine, Theophylline, hay pacing xuyên tĩnh mạch tạm thời (temporary transvenous pacing) nếu cần thiết
11/ LOẠN NĂNG NÚT XOANG LÀ GÌ ?
Loạn năng nút xoang (sinus node dysfunction), còn được gọi là hội chứng nút xoang bệnh (sick sinus syndrome), có thể được biểu hiện bởi tim nhịp chậm (bradycardia), tim nhịp nhanh (tachycardia), hay tim nhịp nhanh
và tim nhịp chậm (tachy-brady syndrome : hội chứng tim nhịp nhanh-chậm) Hội chứng tim nhịp nhanh-chậm được thể hiện bởi những đợt tim nhịp nhanh (thường nhất là tim nhịp nhanh xoang hay rung nhĩ), tiếp theo sau bởi những thời kỳ tần số tim chậm lại một cách không thích đáng (tim nhịp chậm xoang) Loạn năng nút xoang có thể là do những nguyên nhân nội tại (liên quan đến chính bản thân nút xoang) hay những nguyên nhân ngoại tại
12/ KỂ CÁC LOẠI BLOC NÚT NHĨ THẤT (AV NODAL HEART BLOCK) ?
Các loại bloc nút nhĩ thất được chia thành các mức độ khác nhau tùy theo nơi xảy ra bloc
Nói chung, bloc nhĩ thất độ một và bloc nhĩ thất độ hai loại I là không
có triệu chứng và không cần phải điều trị Một bloc nhĩ thất độ hai loại II có
Trang 7thể mất bù thành bloc nhĩ thất độ ba, có thể đưa đến tim nhịp chậm không ổn định và đòi hỏi thiết đặt một pacemaker tim
13/ BLOC NHĨ THẤT ĐỘ MỘT ĐƯỢC NHẬN BIẾT NHƯ THẾ NÀO ?
Khoảng PR dài một cách bất thường (> 0,20 giây), nhưng tất cả các sóng P đều kèm theo phức hợp QRS
14/ MÔ TẢ CÁC LOẠI BLOC NHĨ THẤT ĐỘ HAI
- Mobitz loại I (Wenckebach) : khoảng PR dài ra dần dần, tiếp theo bởi một sóng P không được dẫn (non conducted P wave), tiếp theo bởi một sóng P được dẫn (conducted P wave) với khoảng PR ngắn hơn Khi khó nhận diện sự dài ra của PR, hãy so sánh khoảng PR trước và sau sóng P bị phong bế (blocked P) có thể xác nhận Wenckebach
- Mobitz loại II : ít xảy ra hơn nhiều so với Wenckebach.Với bloc Mobitz II, không có sự dài dần ra của khoảng PR Sóng P bị bloc một cách đoạn hồi QRS rộng Trong Mobitz II, mức bloc nhĩ thất thường nằm dưới nút nhĩ thất Pacing thường trực thường được chỉ định nơi bệnh nhân Mobitz
II
Trang 815/ BLOC NHĨ THẤT ĐỘ BA LÀ GÌ ?
Cũng được gọi là bloc nhĩ thất hoàn toàn (complete AV block), sóng
P không được dẫn vào tâm thất Khoảng PR đều, trừ phi có những phức hợp ngoại tâm thu thất Mức của bloc nằm ở hoặc nút nhĩ thất (thường với QRS hẹp) hay dưới nút (với QRS rộng và một tần số tim rất chậm) Bloc nhĩ thất hoàn toàn là một dạng, nhưng không phải là dạng duy nhất của phân ly nhĩ thất (AV dissociation) Những nguyền nhân khác của phân ly nhĩ thất là nhịp nối gấp (accelerated junctional rhythm) và tim nhịp nhanh thất
16/ NHỮNG CÂU HỎI CHỦ YỂU ĐỂ HỎI KHI ĐÁNH GIÁ LOẠN NHỊP CHẬM (BRADYARRHYTHMIAS) ?
Các câu hỏi nên nhằm vào những triệu chứng như ngất xỉu (syncope), chóng mặt (dizziness), mệt, yếu người, đau ngực, và suy tim Những câu hỏi
về những yếu tố thúc đẩy làm gia tăng kích thích phế vị như mửa, Valsalva,
ho, tiểu tiện, cạo mặt, đau ngực, sốt, và nhiễm trùng là quan trọng Một bệnh
sử dùng thuốc có thể gây tim nhịp chậm (ví dụ bêta-blockers, calcium channel blockers, digoxin) cũng nên được ghi nhận
17/ LÀM SAO ĐIỀU TRỊ MỘT LOẠN NHỊP CHẬM (BRADYARRHYTHMIAS) ?
Trang 9- Đừng điều trị một tim nhịp chậm (bradycardia) nếu bệnh nhân ổn định về huyết động và không có triệu chứng Luôn luôn điều trị bệnh nhân, chứ không phải là điều trị con số
- Nếu bệnh nhân có nhịp tim dưới 60 đập/phút và không ổn định về huyết động :
1 Cho atropine 0,5 mg (0,01 mg/kg nơi một trẻ em) bằng đường tĩnh mạch (có thể lập lại nếu cần)
2 Bắt đầu pacemaker (đừng quên external pacemaker) Pacemaker bằng đường tĩnh mạch (transvenous pacemaker) cần nhiều thời gian hơn
18/ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN TIM NHỊP CHẬM TRIỆU CHỨNG (SYMPTOMATIC BRADYCARDIA) NHƯ THỂ NÀO ?
Nếu bệnh nhân có những triệu chứng và dấu chứng nghiêm trọng (ví
dụ hạ huyết áp, mất tri giác), bước đầu tiên là cho bệnh nhân atropine 0,5-1
mg bằng đường tĩnh mạch Sau đó có thể cho dopamine, epinephrine, hay isoproterenol nếu cần thiết Tạo nhịp qua da (transcutaneous pacing) có thể tạm thời ổn định tình trạng bệnh nhân trong khi chờ đợi thiết đặt một cách thường trực hơn máy tạo nhịp qua đường tĩnh mạch (transvenous pacemaker)
Trang 1019/ CÁC CHỈ ĐỊNH THIẾT ĐẶT PACEMAKER THƯỜNG TRỰC NƠI NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI LOẠN NHỊP CHẬM TRIỆU CHỨNG ?
Xử trí tim nhịp chậm triệu chứng (symptomatic bradycardia) được xác định bởi độ nghiêm trọng của các triệu chứng, sự quan hệ giữa các triệu chứng và tim nhịp chậm, và sự hiện diện của những nguyên nhân có thể đảo ngược Những triệu chứng đúng là có liên quan với tim nhịp chậm, gây nên bởi loạn năng nút xoang nội tại (intrinsic sinus dysfunction) hay bloc nhĩ thất, nên được điều trị bằng pacing thường trực
Những hướng dẫn của American College of Cardiology and American Heart Association về việc thiết đặt pacemaker, liệt kê sau đây những chỉ định được nhất trí chấp nhận (class I) nơi những bệnh nhân không có triệu chứng :
- Bloc nhĩ thất độ ba với vô tâm thu (asystole) kéo dài trên 3 giây hoặc hơn (trong nhịp xoang) hay nhịp thoát (escape rate) < 40 đập/phút nơi những bệnh nhân trong lúc thức tỉnh
Trang 11- Bloc nhĩ thất độ ba hay bloc nhĩ thất độ hai Mobitz loại II nơi những bệnh nhân với bloc hai nhánh (bifascicular) hay ba nhánh (trifascicular) mãn tính
- Bloc nhĩ thất độ ba bẩm sinh với nhịp thoát QRS rộng, loạn năng thất, hay tim nhịp chậm một cách không thích đáng với tuổi
Những chỉ định tiềm tàng (class II) của pacing nơi những bệnh nhân không triệu chứng gồm có :
- Bloc nhĩ thất độ ba với nhịp thoát nhanh hơn, nơi những bệnh nhân thức tỉnh
- Bloc nhĩ thất độ hai Mobitz II, nơi những bệnh nhân không có bloc
hai nhánh hay ba nhánh 20/ CÓ MỘT GIỚI HẠN TRÊN ĐÓ TIM NHỊP
NHANH KHÔNG CÒN LÀM GIA TĂNG LƯU LƯỢNG TIM ĐƯỢC NỮA ?
Một quy tắc là anh có thể gia tăng lưu lượng tim bằng cách gia tăng tần số tim lên đến 200 đập/phút trừ với tuổi bệnh nhân
21/ NHỊP XOANG (SINUS BEAT) LÀ GÌ ?
Trang 12- Cuối mỗi lần tim đập, tất cả các tế bào cơ tim bị khử cực và chịu một thời kỳ trơ (refractory period) Vào lúc đó, vài tế bào tim (các nút xoang-nhĩ
và nhĩ thất và vài tế bào tâm thất) bắt đầu đi trở ngược lại, qua khử cực giai đoạn IV, hướng về điện thế ngưỡng (threshold potential) Điều này giống như một cuộc chạy đua, và trong trường hợp điển hình, các tế bào nút xoang-nhĩ (sinoatrial node) thắng cuộc chạy đua này, đạt đến ngưỡng (threshold), phát sinh điện và đảm nhiệm chức năng nhịp xoang dẫn nhịp (pacemaker sinus beat function) của tim
- Tim gồm 3 loại tế bào được biệt hóa : (a) những tế bào của nút dẫn nhịp (pacemaker celles) khử cực một cách ngẫu nhiên và có thể phát khởi các xung động điện ; (b) các tế bào dẫn truyền (conductive cells), truyền các xung động điện nhanh chóng hơn những tế bào khác của tim, gây nên sự lan truyền nhanh chóng của xung động khắp tim; và (c) các tế bào cơ tim (myocardial cells), co bóp khi được khử cực điện
- Nút xoang hay xoang-nhĩ (sinoatrial sinus) là nút tạo nhịp nổi trội Nút này được cung cấp máu từ động mạch vành phải nơi 55% các cá nhân ,
và từ left circumflex artery nơi 45% còn lại Nhịp bình thường đối với nút xoang nhĩ là 60 đến 100 đập mỗi phút
22/ ĐỊNH NGHĨA NGOẠI TÂM THU THẤT ?
Trang 13- Ngoại tâm thu thất là do các xung động điện xuất phát từ một vùng đơn độc hay từ nhiều vùng trong tâm thất
- Một ngoại tâm thu thất (PVC : premature ventricular contraction) xảy ra khi một địa điểm của tâm thất thắng cuộc chạy đua trong số các tế bào
cơ tim và sự khử cực tâm thất phát xuất từ địa điểm lạc chỗ trong tâm thất
- Ngoại tâm thu thất được đặc trưng bởi các phức hợp QRS rộng, khác nhau về hình thái với các nhịp xoang Các phức hợp QRS > 120 msec và không được đi trước bởi sóng P Các ngoại tâm thu thất được thấy nơi những bệnh nhân có hay không có bệnh tim và thường đáng quan tâm hơn nơi những bệnh nhân có bệnh tim Những nguyên nhân khác của ngoại tâm thu thất là các rối loạn điện giải, như giảm kali-huyết, giảm magnesium-huyết,
và sử dụng thuốc (ví dụ digoxin, các thuốc chống trầm cảm ba vòng) Nơi những người trưởng thành trẻ, khỏe mạnh không có bệnh tim, không cần phải xét nghiệm thăm dò
- Những đặc trưng điện tâm đồ của ngoại tâm thu thất là :
(1) một phức hợp QRS xảy ra sớm và rộng
(2) không có sóng P đi trước
Trang 14(3) đoạn ST và sóng T của ngoại tâm thu được hướng đối nghịch với hướng của phức hợp QRS đi trước
(4) hầu hết các ngoại tâm thu không ảnh hưởng lên nút xoang, vì vậy thường có một thời gian nghỉ bù sau lỗi nhịp (compensatory postectopic pause), hay ngoại tâm thu thất có thể chèn (interpolated PVC) giữa hai nhịp xoang
(5) nhiều ngoại tâm thu thất có một khoảng thời gian cặp cố định (fixed coupling interval) (trong vòng 0,04 giây) với nhịp xoang đi trước
(6) nhiều ngoại tâm thu thất được dẫn truyền vào tâm nhĩ, sinh ra một sóng P retrograde
- Ngoại tâm thu thất rất thông thường, xảy ra nơi hầu hết các bệnh nhân với bệnh tim thiếu máu cục bộ (ischemic heart disease) và nhồi máu cơ tim cấp tính Những nguyên nhân thông thường khác của ngoại tâm thu thất gồm có ngộ độc digoxin, suy tim sung huyết, giảm kali-huyết, nhiễm kiềm (alkalosis), giảm oxy mô (hypoxia), và các thuốc sympathomimetic
23/ ĐỊNH NGHĨA TIM NHỊP NHANH (TACHYCARDIA) ?
Trang 15Tim nhịp nhanh (tachycardia) được định nghĩa như là một gia tăng sinh lý bệnh đối với một nhịp tâm thất > 100 đập mỗi phút
LOẠN NHỊP NHANH VÀ NHỊP THÔNG THƯỜNG
Tim nhịp nhanh xoang (sinus tachycardia) > 100 đập/phút
Rung nhĩ (atrial fibrillation) 80-220 đập /phút
Futter nhĩ (atrial flutter) 100, 150, 300 đập/phút
Tim nhịp nhanh trên thất 100-120 đập/phút
Tim nhịp nhanh thất 100-160 đập/phút
24/ TẦN SỐ CỦA TIM NHỊP NHANH XOANG ?
Giới hạn dưới thường là 100 đập/phút ; giới hạn trên là 220 trừ tuổi (tính bằng năm)
25/ KỂ 7 NGUYÊN NHÂN CỦA TIM NHỊP NHANH XOANG ?
1 Sốt
2 Đau đớn
3 Nhiễm trùng
Trang 164 Thiếu hụt thể tích (volume depletion)
5 Suy tim
6 Nhiễm độc tuyến giáp (thyrotoxicosis)
7 Thuốc
26/ ĐIỀU TRỊ TIM NHỊP NHANH XOANG NHƯ THẾ NÀO ?
Điều trị nguyên nhân Nếu nghi ngờ chẩn đoán, cho adenosine và thao tác phế vị (vagal maneuvers) có thể giúp phân biệt nhịp
27/ ĐIỀU TRỊ TIM NHỊP NHANH XOANG VỚI BLOCKERS CÓ LUÔN LUÔN THÍCH HỢP KHÔNG ?
BÊTA-Không phải luôn luôn Tim nhịp nhanh xoang có thể là một phản ứng với nhiều tác nhân, và phương pháp tốt nhất là nhận diện tại sao bệnh nhân
có tim nhịp nhanh và điều trị nguyên nhân của nó Trong vài trường hợp, như thiếu máu cục bộ cơ tim (myocardial ischemia) do cao huyết áp, bêta-blockers có thể là một thuốc hỗ trợ hữu ích Trong những trường hợp khác (ví dụ : co thắt phế quản cấp tính, phù phổi, chèn ép tim (tamponade), và giảm lượng máu (hypovolemia), bêta-blockers có thể có hại Đau đớn, sốt,