TRUYỆN KỂ Bên cạnh những truyện kể rất phổ biến với mọi người Việt Nam ở khắp ñất nước, như Thánh Gióng, Mỵ Châu - Trọng Thủy, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Chử ðồng Tử - Tiên Dung, Thạch Sanh,
Trang 1VĂN HỌC
I VĂN HỌC DÂN GIAN
Căn cứ vào thực tế văn học dân gian ở Quảng Ngãi, mục này của sách xin tách văn học dân gian của từng dân tộc sinh sống trên ñịa bàn ñể khảo xét riêng Trong mỗi dân tộc sẽ ñược phân ra hai phần chính: phần giới thiệu về truyện kể dân gian
và phần giới thiệu về các loại hình văn vần Ở ñây, những người biên soạn có chú trọng ñến tên gọi vốn có, sát với thể loại, mà không áp ñặt những tên gọi khác Xin lưu ý thêm rằng ngay cả các tên gọi thể loại này phần nào cũng do các nhà nghiên cứu ñặt và trở nên quen thuộc
1 VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT
1.1 TRUYỆN KỂ
Bên cạnh những truyện kể rất phổ biến với mọi người Việt Nam ở khắp ñất nước, như Thánh Gióng, Mỵ Châu - Trọng Thủy, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Chử ðồng Tử - Tiên Dung, Thạch Sanh, Tấm Cám , người Việt ở Quảng Ngãi cũng có những sáng tác dân gian, gắn liền với vùng ñất mà họ ñã từng gắn bó trong suốt nhiều thế kỷ
Nhìn dưới góc ñộ ñề tài, truyện kể dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau: về các hiện tượng tự nhiên, về lịch sử vùng ñất, về những di tích - thắng cảnh, về các nhân vật lịch sử và cả về những con người bình dị trên quê hương núi Ấn - sông Trà
Về cách giải thích hiện tượng tự nhiên, người Việt ở Quảng Ngãi lưu truyền nhiều truyện kể dân gian liên quan ñến nhiều ngọn núi, nhiều con sông, như chuyện ông Khổng Lồ gánh ñất lấp biển làm ñổ hai ñầu ñất, một ñầu thành núi Ấn, một ñầu thành núi Bút; chuyện về những dấu chân khổng lồ ở Sa Kỳ, ở Gò Yàng, chuyện về các dấu chân thiêng của Cao Biền, chuyện về Hòn Son, Hòn Chữ ở Sa Huỳnh
Gắn liền với các di tích văn hóa - lịch sử, danh lam thắng cảnh có các chuyện về Cao Biền yểm núi Long ðầu và sự tích vua Nam Chiếu bên bờ sông Trà, chuyện
về chuông Thần, giếng Phật trên chùa Thiên Ấn, chuyện về giếng Vua ở làng Thanh Thủy (Bình Sơn), chuyện về giếng Ông Miềng ở ñảo Lý Sơn; chuyện về Ông Rau ở núi Long Phụng, chuyện về 4 ông tu tiên ở chùa Hang Lý Sơn, chuyện
về hòn Ông, hòn Bà ở vùng cửa biển Sa Cần, chuyện về Kha Hổ mà nay còn miếu thờ Thần Hổ ở Trà Bồng
CHƯƠNG
XXVI
Trang 2Gắn liền với các nhân vật lịch sử, những tấm gương tiết liệt, những nhân cách cao ựẹp của kẻ sĩ, anh hùng, có các chuyện, như chuyện về Bùi Tá Hán hiển Thánh
mà nay vẫn còn truyền tụng hai câu thơ "Nhân mã bất tri hà xứ khứ/ Huyết y
trường dữ thử bi lưu", chuyện về Nguyễn Tấn tiếp các già làng người dân tộc ở đá
Vách, chuyện về ựánh giặc Tàu Ô của ông Nguyễn Văn Tuất, chuyện về Bà Roi tuẫn tiết (Lý Sơn) và nhiều giai thoại về các chắ sĩ yêu nước Lê Trung đình, Lê đình Cẩn, Nguyễn Thụy, Nguyễn Bá Loan, về ông Giải nguyên Thuận Phước, về Cử nhân Phạm Hoành, về chàng nho sĩ họ Phạm ở làng Chánh Lộ
Gắn liền với hình ảnh người bình dân, có rất nhiều chuyện kể khác nhau, thường
là những truyện cười, những giai thoại có chủ ựề chắnh là phê phán các thói hư tật xấu, ca ngợi người tài trắ, ựức ựộ, dũng cảm, như: chuyện thằng Bòi ựi thi, chuyện
hò hay lấy ựược vợ, chuyện mặt rỗ ựối giỏi cũng ựược vào cung, chuyện chàng hợm bị một vố ựauẦ(1)
Nội dung chắnh của kho tàng truyện kể người Việt ở Quảng Ngãi thường thể hiện cái nhìn suy nguyên về các sự vật, hiện tượng, thể hiện niềm tự hào ựối với quê hương xứ sở qua việc thiêng hóa vùng ựất, thiêng hóa con người, qua ựó cũng bộc lộ tâm hồn và tắnh nết con người Quảng Ngãi trong việc ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong các truyện kể nêu trên có một số câu chuyện mang môtắp quen thuộc trong truyện kể dân gian của nhiều vùng trong nước Tuy nhiên, những câu chuyện có môtắp phổ biến ấy cũng ựã có nhiều ựổi khác, ựã có những sắc thái riêng của vùng ựất và con người Quảng Ngãi đó là một
sự tái tạo theo nhãn quan riêng của người dân ở vùng ựất này trong quá trình sinh sống ở một môi trường mới, mà ở ựó ựiều kiện tự nhiên, ựiều kiện lịch sử - xã hội
ựã có ắt nhiều khác biệt so với vùng quê gốc, có sự giao lưu với Văn hóa Chămpa
cổ, với văn hóa của người Hoa và với văn hóa của các dân tộc thiểu số miền núi
1.2 VĂN VẦN DÂN GIAN
Cùng với truyện kể dân gian, trong cộng ựồng cư dân Việt ở Quảng Ngãi còn có một khối lượng lớn ca dao, hát hò, hát hố, tục ngữ, vè, câu ựố thể hiện dưới hình thức văn vần Ngoài những câu, những bài mang tắnh phổ thông của toàn quốc, của vùng, miền, người Việt ở Quảng Ngãi còn có những câu, những bài mang nét riêng của vùng ựất Có thể tạm chia văn vần dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi làm hai mảng ựề tài chắnh: mảng ựề tài phản ánh ứng xử với môi trường tự nhiên và mảng ựề tài phản ánh ứng xử với môi trường xã hội
Trong quan hệ ứng xử ựối với môi trường tự nhiên, người Việt ở Quảng Ngãi có những kinh nghiệm ựược truyền từ ựời này sang ựời khác bằng những câu ca, những câu nói có vần (trong ựó chủ yếu là tục ngữ, vè), mà trong ựó chứa ựựng những kinh nghiệm về lịch thời tiết, lịch con nước, lịch ựánh bắt cá, cách chế biến thức ăn từ ruộng ựồng, sông biển, ao hồ; về nhật trình ựi biển, lịch làm ruộng; những cảm quan về ựất ựai sông núi miền ựất Ấn - Trà Vắ dụ như, khi nói về lịch
thời tiết, văn vần dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi có những câu như: đời
Trang 3phủ Sơn Trà/ Sóng xô cửa đại trời ựà chuyển mưa; hay Mống ựông vồng tây, chẳng mưa dây cũng gió giật ; khi nói về kinh nghiệm ựi biển có những câu, như: Tháng Giêng ựộng dài, tháng Hai ựộng tố/ Tháng Ba nồm rộ, tháng Bốn nam non/ Trông lên tới ựỉnh Hòn Son/ Son còn ựỏ rực anh còn ra khơi, hay: Thuyền ngược
ta khấn gió nồm/ Thuyền xuôi ta khấn mưa nguồn gió may ; khi ựể nhớ về các loài
chim, người Việt ở Quảng Ngãi có bài vè về chim; khi ựể nhớ tên các loại cá, người ta có bài vè về cá; khi ựể nhớ ựặc ựiểm của mỗi chặng ựường quanh ven
biển từ Bắc vào Nam, ngư dân ven biển ở mảnh ựất này phải thuộc lòng bài vè Các
lái, bài đi vô lẫn bài đi ra, vv.; nói về những loại ựặc sản, thổ sản có những câu
như: Chim mắa Xuân Phổ/Cá bống sông Trà/ Kẹo gương Thu Xà/ Mạch nha Mộ đức, hay: Con gái còn son không bằng tô don Vạn Tượng, vv Những câu văn vần
về ựề tài này hết sức phong phú, ựa dạng, về nhiều khắa cạnh khác nhau trong quá trình người Việt ứng xử với môi trường tự nhiên ở vùng ựất Quảng Ngãi
Nếu như tục ngữ, vè ựược dùng như một thế mạnh ựể phản ánh quan hệ của con người với môi trường tự nhiên thì ca dao là một thế mạnh ựược con người dùng ựể phản ánh quan hệ ứng xử của con người với môi trường xã hội Ca dao thường phản ánh những vấn ựề về tình yêu, hôn nhân, quan hệ gia ựình, làng xóm, quan hệ
với lịch sử - xã hội Chẳng hạn nói về tình yêu: Trách người phơi lúa giống thưa/
Chèo thuyền trong lộng khéo lừa duyên em, hoặc: Trời mưa lâu cho ựá nọ mọc rêu/ đứa nào ở bạc con dế kêu thấu trời; hay: Bao giờ núi Hó hết tranh/ Sông Trà hết nước thời mình mới xa đó là tình yêu, còn về quan hệ gia ựình, cũng không
hiếm những câu như: Mẹ ơi ựừng ựánh con ựau/ để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ/ Mẹ
ơi ựứng ựánh con khờ/ để con thả lờ bắt cá mẹ ăn, hoặc: Nước mắm ngon thượng
thủ/ Dằm ựu ựủ lờ ựờ/ Em than bổn phận em khờ/ Làm dâu nhà mẹ cũng nhờ tiếng anh Phản ánh công cuộc chống thực dân, ựế quốc, người Việt ở mảnh ựất này ựã
sáng tác nên những câu ca như: Bình đông có tiếng ựánh Tây/ Có gan ựánh Mỹ
phá vây mấy lần, hay: Sông Trà Khúc ai mà tát cạn?/ Rừng Trà Bồng ai ựẵn hết cây?/ Anh mà ựi lắnh với thằng Tây/ Em ựành phải dứt cái dây nghĩa tình, vv
Cùng với các truyện kể dân gian, những câu, những bài văn vần dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi có những sắc thái riêng, mang dấu ấn của vùng ựất, của con người sống trên vùng ựất này Sự tái tạo và sáng tạo theo nhãn quan riêng ựã làm cho ca dao của người Việt ở Quảng Ngãi rất phong phú, ựa dạng, trong nội dung, trong hình thức biểu ựạt - một sự biểu ựạt chân chất, hồn nhiên, thẳng thắn, hơi cục mịch mà thật sâu nặng tình cảm như chắnh con người Quảng Ngãi, vắ dụ
như: Có thương thì thương cho chắc, cho chặt, cho bn/ đừng thương lỡ dở bắt ựền
uổng công, hoặc: Thuốc ngon chợ Huyện/ Giấy quyến Sa Huỳnh/ Nẩu xa thì mược (mặc) nẩu/ (Chứ) hai ựứa mình ựửng (ựừng) xa ; và dù có cục mịch, thô tháp thì
cũng thật ý tứ, kắn ựáo: Anh thương em, ựừng cho ai biết, ựừng cho ai hay, ựừng
cho ai biểu, ai bày/ Thâm thâm dìu dịu mỗi ngày mỗi thương/ Nước mắa trong cũng thắng thành ựường/ Anh thương em thì anh biết chứ thói thường biết ựâu!
2 VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA NGƯỜI HRÊ
Trang 42.1 TRUYỆN KỂ
Trong sinh hoạt các làng Hrê khá phổ biến loại hình truyện kể Truyện kể dân gian của người Hrê ở Quảng Ngãi có nhiều thể loại: cổ tắch, thần thoại, truyền thuyết, sử thi, ngụ ngôn , phản ánh các ựề tài: về các hiện tượng tự nhiên, như các ngọn núi, con sông, con suối, các hòn ựá, cây cỏ, thiên tai ; về các nhân vật anh hùng huyền thoại của bộ lạc, của plây, của tộc người, hoặc của một vùng; về sự hình thành cộng ựồng cư dân và quan hệ gia ựình, làng xóm; về nghề nghiệp, như trồng lúa, dưa ; về các phong tục, tập quán, tắn ngưỡng (3)
Về các hiện tượng tự nhiên, có các truyện như truyện giải thắch về xuất xứ núi Cao Muôn, về sông Liêng, sông Tô, sông Rvá, về hang Dơi, về chàng A Lênh và
con gái nhà Trời Về sự hình thành cộng ựồng cư dân, có các truyện như sự tắch
nguồn sông Rhe - nơi khởi nguồn của người Hrê, sự tắch sông Rvá - nơi khởi khuồn của nhóm Hrê bên sông Rvá, về thanh gươm Tà Nọ Về nghề trồng lúa, có
các truyện kể như truyện về Vu giơ ra mà trong ựó có hình tượng người con gái Y
Dật tìm ra hạt lúa, truyện đăm Vầu với việc tìm ra quả dưa gang Về các loài vật,
có rất nhiều truyện kể ựề cập ựến ựề tài này, dưới dạng ngụ ngôn, như các truyện
về cọp, về con dúi, con trút, con rùa Và ựặc biệt là truyện kể về các anh hùng
huyền thoại, là các ựăm - chàng trai thông minh, khỏe mạnh, dũng cảm và cô con
gái thứ Mười (nàng Y Dật) Trong các loại truyện kể này, thường là có phối hợp giữa hát và kể, có câu dài câu ngắn, có khi một truyện kể ựược kể trong khoảng 1 giờ, cũng có truyện kể dài ựến 3 - 4 ựêm Vì thế có thể xem những truyện kể loại này ắt nhiều mang tắnh sử thi, hoặc vốn là sử thi mà nay chỉ tìm thấy những mảnh
vỡ, hay chỉ còn có cốt truyện là chắnh Tiêu biểu có các truyện kể về chàng Y Dật,
Vu Chư, đăm Ta Yoong, Kơ Vông, Gơ Lóc
2.2 NHỮNG LỜI HÁT
Trong sinh hoạt cá nhân cũng như cộng ựồng, người Hrê thường dùng nhiều
ựiệu hát, nếu sắp xếp theo chu kỳ vòng ựời người, thì có: hát ru (vadhô con), ựồng dao (ka ếch), hát giao duyên (ta/ca lêu), tự tình (ca choi/chơi), hát cúng (ta jeo), hát khóc (ta ôi) (4) đó là cách phân loại theo chức năng, mà trong ựó, xét về nội dung và ựề tài phản ánh, chúng ựã hàm chứa những thế ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và xã hội Nếu chỉ tách phần lời ựể xem xét, chúng là những tác phẩm văn học ựắch thực, bởi trong ựó chứa ựựng những giá trị nhân văn, ựạo ựức, giáo dục, thẩm mỹ; ngôn từ trong sáng, tinh tế, giàu hình ảnh Dưới ựây là
trắch ựoạn một bài ca choi nói về nỗi khổ của một người Hrê:
Tôi leo lên ựỉnh ựồi ựeo gùi rách quai Tôi vào rừng sâu mang lưỡi rựa không cán Tôi ựeo con bên hông không có ai nhìn
Trang 5Ôi, tới gò kia tôi ñứng khóc Tới núi kia tôi ngồi buồn
Nga Ri Vê dịch
Ở một bài ca choi khác, một người con gái thở than:
ðời em sinh ra như cây mọc bên ñường
Như lá khô trên rừng trôi xuống sông
Nói về cô gái ñẹp, người Hrê bày tỏ bằng lời qua ñiệu ta lêu:
Em ñẹp bằng nào
ðẹp như gầu ha tu
Như tua hoa ñu ñủ Như trái chai chín ñỏ Trái gang non xanh
ðẹp như hoa ka rê
Như trăng non mới mọc Như cây mía tím ñỏ mọng
Trong cộng ñồng người Cor còn lưu giữ nhiều truyện kể gắn liền với những giải thích về các ngọn núi, con sông trên ñịa bàn cư trú của mình, như sự tích núi Răng
Trang 6Cưa, sự tích Eo Chim, sự tích Hòn Vua Truyện kể về những con người côi cút, nghèo khổ nhưng biết chiến thắng số phận và trở thành những con người ñược cộng
ñồng tôn vinh, như các truyện kể về chàng câu cá (Ta poóc), chàng Khô Nội, hai anh
em mồ côi, chàng Rít, chuyện giết con quỷ 7 miệng Về sự hình thành cộng ñồng
cư dân và những mối quan hệ láng giềng, có các truyện kể về người ñàn bà và con chó, truyền thuyết về ñảo Lý Sơn, sự tích người Cor và người Kinh, chuyện về ñiện Trường Bà Truyện kể dân gian Cor còn có khá nhiều những câu chuyện về loài vật mà trong ñó hàm chứa những chủ ñề khác nhau: có chuyện giải thích nguồn gốc xuất hiện của các loài vật, như các chuyện giải thích vì sao mắt lươn thì híp và mắt cá gáy thì ñỏ, sự tích chim chèo bẻo; có chuyện mượn loài vật ñể nói những quan hệ nhiều chiều trong ñời sống xã hội, như các chuyện kể về ốc và cọp, cối và cọp, chuyện kể về diều hâu, chim chích, con thỏ, con rùa ðể giải thích các phong tục tập quán, các loại hình văn hóa tín ngưỡng có các truyện kể, như sự tích
ăn trâu, sự tích cây nêu, sự tích nhà sàn, truyện kể về thần Lúa, truyện kể về hai vị thần Oplik và Oplok dạy cho con người biết ca hát Cũng như người Hrê, trong truyện kể dân gian của người Cor, hình ảnh người anh hùng của bộ lạc, của làng, của vùng, của cả tộc người hiện rõ trong nhiều câu truyện, như các truyện kể về Eo Chim, về Taman Xơri, về Hòn Vua, về nàng Y Dật (6)
3.2 NHỮNG LỜI HÁT
Người Cor ở Quảng Ngãi hiện vẫn sử dụng các làn ñiệu dân ca truyền thống của
họ, ñó là các ñiệu xà ru - xà lía (tự sự, ứng khẩu), a giới (ñối ñáp), a lat (hát mừng), ca lu, ca rua (hát cúng) Xét dưới góc ñộ diễn xướng dân gian thì ñó là
những làn ñiệu có giá trị về nghệ thuật âm nhạc Mặt khác, cũng như các làn ñiệu dân ca của người Hrê, người Ca Dong, xét dưới góc ñộ phần lời của bài hát thì ñó
là những tác phẩm văn học có giá trị Nội dung chính của các làn ñiệu dân ca Cor chủ yếu cũng ñể phô diễn tâm tình, trước thiên nhiên, thần linh, con người và những lĩnh vực khác nhau của ñời sống xã hội Tùy theo mỗi thể loại mà nội dung các bài dân ca khác nhau
Dưới ñây là vài ñoạn trích phần lời một vài bài xà ru:
Anh từ ñâu ra?
Tôi từ buồng cau ra
Em từ ñâu ra?
Em từ cây chuối non, từ hoa huệ
Em như bông hoa rừng
Anh như là cây lau
Trang 7Ta lấy nhau ñẹp ñôi vợ chồng (7)
4 VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA NGƯỜI CA DONG
4.1 TRUYỆN KỂ
Trong truyện kể dân gian phổ biến ở các làng người Ca Dong có nhiều thể loại
cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn hướng về các ñề tài: giải thích các sự vật hiện tượng có trong tự nhiên, trong ñời sống xã hội, về các nhân vật anh hùng huyền thoại, về phong tục tập quán, tín ngưỡng, những người nghèo khổ, bất hạnh, sự hình thành cộng ñồng cư dân tương tự như truyện kể của người Hrê và truyện kể của người Cor ñã giới thiệu sơ lược ở trước
ðể giải thích các hiện tượng tự nhiên, người Ca Dong có các câu chuyện về người Khổng Lồ, về cây thần Brin, về Oong Grăng Téc Pia, hay sự tích cây cau, cây ñùng ñình và dòng sông Rinh ðể giải thích nguyên nhân vì sao con người lại trồng ñược lúa có câu chuyện về sự tích cây lúa và dây bầu, nàng Y Dật và hạt lúa ðể nói về sự hình thành cộng ñồng cư dân, về mối quan hệ giữa các nhóm tộc người có các câu chuyện về sự tích vùng Huy Măng, sự tích người Ca Dong với tục cúng con trút, Kon Tung Về ñời sống lứa ñôi và những khát vọng vươn tới cái ñẹp có các chuyện kể về chuyện tình nàng Y Dật, về chàng Grăng Hoa, chàng Yang Ing ðể giải thích các loại hình các phong tục tập quán, tín ngưỡng còn ñang tồn tại trong cộng ñồng Ca Dong có các chuyện kể về chim hang, về con trút,
và rải rác trong nhiều câu chuyện khác, như chuyện Yang Ing, Kiếc Roi Năm, Oong Grăng Téc Pia Về tình cảm anh em, nghĩa vợ chồng, tình cha mẹ có các câu chuyện về hai anh em Mua và Gao, về chàng Sóc, về chàng Grăng ñi tìm người ñẹp, sự tích con ve sầu Và nổi lên trong các truyện kể này, là hình ảnh các
chàng Grăng tài ba, các ñăm thông minh, mưu trí, dũng cảm, và nàng Y Dật xinh
ñẹp, dịu dàng, chăm chỉ Tiêu biểu cho loại truyện có ñề tài này là các truyện kể về chàng Grăng ñi tìm người ñẹp, Oong Grăng Hoa, chuyện tình Y Dật, Kiếc Roi Năm Ngoài ra, cũng như truyện kể dân gian của người Hrê, người Cor, trong kho tàng truyện kể dân gian của người Ca Dong ở Quảng Ngãi còn rất nhiều câu chuyện liên quan ñến loài vật, dưới hình thức là truyện ngụ ngôn, như chuyện ốc
và cọp, chuyện rùa và cọp, chuyện chó và mang, cọp, cheo và nai (8)
4.2 NHỮNG LỜI HÁT
Cũng như các dân tộc khác, trong sinh hoạt ñời sống, người Ca Dong thường sử dụng các làn ñiệu dân ca ñể bày tỏ tình cảm của mình trước thiên nhiên, trước các ñấng thần linh mà họ ngưỡng vọng, trước sự ñổi thay của quê hương, ñất nước, làng xóm, trước những biến ñộng của lịch sử, hoặc ñể ñể tỏ tình, ñể ru con ngủ Người Ca Dong có các làn ñiệu dân ca: Ta lêu (giao duyên), ra nghế (ñối ñáp), a hội (tự tình), plét (tùy hứng)
Dưới ñây xin trích một vài lời hát của các làn ñiệu dân ca này:
Trang 8Thương nhau ñi năm cái rẫy cũng gần
Không thương nhau thì nhà trên nhà dưới cũng xa
(Ta lêu)
Anh em ơi ta cùng nhau ñi bắt cá
Mắt ta tinh tường mũi lao ta phóng xuống nước
Cá gáy trốn ñâu thoát, cá niêng chạy ñường nào
Mũi lao ta có mắt, cánh tay ta rắn chắc…
có nhiều ñiểm tương ñồng với nhau lại vừa có những ñiểm tương ñồng với văn học dân gian của các cư dân vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, ñặc biệt là các truyện kể dân gian (như môtíp người con gái thứ Mười là nàng Y Dật, về các ñăm, các grăng ) Những tương ñồng ấy có căn nguyên từ ñặc ñiểm về nguồn gốc cư dân,
về lịch sử xã hội, về môi trường tự nhiên, hệ sinh thái Sự khác nhau trong các truyện kể, trong những bài ca dao, dân ca, chủ yếu là ở những chi tiết, cách diễn giải, những yếu tố vùng, miền
II VĂN HỌC THÀNH VĂN
Văn học thành văn hay văn học viết là một khái niệm ñể chỉ các hiện tượng văn học khác với văn học dân gian Nếu văn học dân gian là văn học truyền miệng thì văn học thành văn lưu truyền bằng chữ viết Nếu tác giả của văn học dân gian là quần chúng, thì tác giả của văn học thành văn là một cá nhân xác thực, cụ thể Còn rất nhiều ñiểm khác nữa ñể khu biệt văn học thành văn với văn học dân gian
Văn học thành văn ở Quảng Ngãi chắc chắn xuất hiện muộn hơn nhiều không chỉ so với văn học dân gian, mà còn so với lịch sử khai phá vùng ñất Mãi ñến giữa thế kỷ XVIII, tức gần 280 năm sau khi thừa tuyên Quảng Nam ñược thành lập, người ta mới thấy ở Quảng Ngãi xuất hiện những bài thơ ñầu tiên của Nguyễn Cư
Trang 9Trinh vịnh mười cảnh ựẹp ở Quảng Ngãi Nhưng Nguyễn Cư Trinh không phải là người Quảng Ngãi Năm mươi năm sau, vào những năm cuối thế kỷ XVIII ựầu thế
kỷ XIX, mới thấy các bài thơ của một tác giả người Quảng Ngãi là Nguyễn Hữu Thể (thân phụ Phó bảng Nguyễn Bá Nghi), người làng Lạc Phố, huyện Mộ đức, với một số sáng tác
Sự xuất hiện muộn của văn học thành văn có thể do cư dân Quảng Ngãi phải tập trung khai phá, lập làng trong ựiều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và do hoàn cảnh lịch sử có nhiều cuộc chiến tranh liên miên (giữa Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn, Nguyễn - Tây Sơn, Tây Sơn - Nguyễn), do việc phát triển giáo dục còn nhiều hạn chếẦ Cũng có thể có những tác giả, tác phẩm nào ựó chưa ựược phát hiện ra Từ thế kỷ XIX, tức từ ựầu thời kỳ nhà Nguyễn trở về sau, văn học thành văn ở Quảng Ngãi có bước phát triển ựều ựặn với nhiều tác phẩm của các tác giả Quảng Ngãi đây là những ựóng góp ựáng ghi nhận vào văn học sử Việt Nam
Sau ựây là khảo lược văn học thành văn ở Quảng Ngãi theo tiến trình lịch sử qua các thời kỳ
1 VĂN HỌC TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ TRƯỚC
Như trên ựã nói, văn học thành văn ở Quảng Ngãi chỉ chắnh thức xuất hiện từ ựầu thế kỷ XIX trở về sau, tuy nhiên cũng cần biết sơ qua về các sáng tác trước ựó, qua tác phẩm của Nguyễn Cư Trinh và Nguyễn Hữu Thể
Nguyễn Cư Trinh (1716 - 1767), hiệu đạm Am, người huyện Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên, ựỗ Hương tiến, làm quan dưới thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc
Khoát Năm 1750, ông làm Tuần vũ Quảng Ngãi Về tác phẩm, ông ựể lại: đạm
Am thi tập, 10 bài thơ họa Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tắch Trong Phủ biên tạp lục, ông còn có bài Tiểu dẫn thơ gửi ựáp Mạc Thiên Tắch Thời gian làm quan
ở Quảng Ngãi, tương truyền ông có 10 bài thơ vịnh cảnh ựẹp xứ này (Cẩm Thành
thập cảnh), nhưng 10 bài ấy có thật của Nguyễn Cư Trinh hay của người ựời sau
thì còn phải tìm hiểu thêm Cũng thời gian làm quan ở Quảng Ngãi, ông có viết bài
Sãi vãi bằng quốc âm, dài 680 câu Nội dung chủ yếu của Sãi vãi là ựề cao ựạo
Nho và ựả kắch các khuynh hướng mê tắn, không lành mạnh Trong bài văn biền ngẫu này, khi nói ựến tộc người "đá Vách" ở miền Tây tỉnh Quảng Ngãi nổi lên ựấu tranh ựòi quyền sống, ông ựứng về phắa triều ựình ựể ựánh giá họ Tuy nhiên, Nguyễn Cư Trinh cũng bộc bạch lòng thương cảm của mình ựối với ựời sống khó
khăn của họ do thiên tai và quan lại ựịa phương gây nên đọc bài "Long Hồ ựại
phong kỷ hoài", thấy ông "đau lòng cho hàng nghìn ngôi nhà ở Châu định Viễn"
của nhân dân bị gió to cuốn trôi Ông cũng chia sẻ với tình cảnh làm ruộng của nông dân không ựủ trưng thu cho quan lại thời bấy giờ Nguyễn Cư Trinh là ông quan trung quân, nhưng biết thương dân ở nơi mình cai quản
Nguyễn Cư Trinh ựược coi là người có những sáng tác văn học ựầu tiên về Quảng Ngãi
Trang 10Nguyễn Hữu Thể (1771 - 1841), người làng Lạc Phố, sống, hoạt ựộng và sáng
tác trong thời Tây Sơn và ựầu thời nhà Nguyễn Theo ghi chép của Nguyễn Bá Nghi mà dòng họ còn lưu giữ ựược, người ta biết Nguyễn Hữu Thể ựược thân phụ
là ông Nguyễn Hữu đức tiến nạp cho vua Thái đức Nguyễn Nhạc từ năm 15, 16 tuổi Sau ựó, Nguyễn Hữu Thể làm bộ tướng của Trần Quang Diệu hãm thành Quy Nhơn (1800), theo Trần Quang Diệu ựi ựường thượng ựạo ra tới Quỳ Hợp (Nghệ An) thì bị quân Nguyễn bắt ựược, may nhờ các vết thương tấy máu mà sống sót trở
về quê làm Tri thủ (Lý trưởng) làng Lạc Phố Nguyễn Hữu Thể rất say sưa sáng tác văn học, viết về nhiều nỗi nhọc nhằn của người dân quê Niềm ựam mê văn học ấy
ở ông ựược truyền cho con là Nguyễn Bá Nghi Qua ghi chép của Nguyễn Bá Nghi, thơ Nguyễn Hữu Thể "sành về mặt thơ Nôm" Chẳng hạn ông viết một bài thơ Nôm kể ựến nỗi khổ của những chức vụ cấp thấp ở tổng, xã như sau:
Sai, tô, gỗ, lắnh, ựá, ựường, cầu
Việc nọ chưa rồi, việc khác câu
Dãi nắng vàng hoe ựầu bản phủ
đánh ựòn ựen kịt ựắt tri châu (10)
Hoặc khi người thợ guồng xe nước ở Long Phụng mất, theo ý nguyện của gia ựình, Nguyễn Hữu Thể ựã làm bài văn tế có ựoạn như sau:
Nhớ linh xưa: vai vác bồ cào, tay cầm ựòn xóc
Nhằm năm nhằm bảy, lên rừng già ựốn lạt bắt dây
Tháng Giêng tháng Hai xuống ựồng nội chẻ tre buộc ựốc
Gốc lên ngọn xuống, ựóng một hàng ngay tựa chỉ giăng
Lá héo chạc khô, gánh hai bó lần bằng bồ cốc
Ngôn ngữ, ý tứ như trên khá ựiêu luyện, thâm sâu, khiến người ta có thể nghĩ rằng văn học thành văn ở Quảng Ngãi có thể ựã xuất hiện khá nhiều ựương thời hoặc trước ựó, nhưng do thời gian, loạn lạc, chiến tranh, lại không ựược in ấn nên
bị thất tán, mai một Nhưng ngoại trừ những sáng tác như trên, người ta vẫn chưa thấy sáng tác văn học nào ựáng kể, như văn học thành văn thế kỷ XIX sẽ khảo lược dưới ựây
1.1 VĂN HỌC THÀNH VĂN THỜI NHÀ NGUYỄN (1802 - 1884)
Sau khi ựánh bại nhà Tây Sơn, từ ựầu thế kỷ XIX ựến hơn nửa thế kỷ, nhà Nguyễn cai trị nước ta mà không có nạn ngoại xâm Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam bắt ựầu từ năm 1858, 1859 (khi tấn công đà Nẵng, Gia định) nhưng chỉ thực
Trang 111884 trở về ñầu thế kỷ XIX có thể coi là dưới thời nhà Nguyễn tự chủ Tiếp theo các thời ñại trước, văn tự dùng trong hành chính nhà nước cũng như trong sáng tác
là chữ Hán, trong sáng tác có thể dùng chữ Nôm ðời sống người dân Quảng Ngãi vẫn có nhiều khó khăn, ñói kém, nhưng việc học hành thi cử ñã ñược triều ñình phong kiến nhà Nguyễn tổ chức bài bản, quy củ hơn trước và ñây cũng chính là thời kỳ mà giáo dục Nho học ở Quảng Ngãi phát triển nở rộ nhất Từ cái nền học vấn ấy, văn học thành văn ở Quảng Ngãi cũng phát triển với nhiều thành tựu ñáng ghi nhận ðương nhiên, các tác giả hầu hết là những trí thức Nho học, hoặc ñỗ ñạt hoặc không, hoặc làm quan, hoặc ở ẩn, nhưng ñều là những người có tri thức tương ñối khá ðề tài hướng tới của văn học thành văn thời kỳ này khá ña diện, có thể là loại thơ ứng ñối - thù tạc, xướng họa, có thể là thơ vịnh cảnh, thơ vịnh sử, có thể là thơ bày tỏ nỗi niềm u uẩn về tình thế ñất nước, niềm thương cảm với sự khổ cực của nhân dân, có thể là áng văn ca ngợi những phẩm cách cao ñẹp, anh hùng, có thể là thơ thể hiện cái tôi của kẻ sĩ… Các tác giả dùng nhiều thể loại văn thơ có trong văn học cổ ñiển Việt Nam
Sau ñây là các tác giả và tác phẩm tiêu biểu
Trương ðăng Quế (1793 - 1865), một trong những tác giả tiêu biểu của văn
học Quảng Ngãi Trương ðăng Quế (11) ñỗ Hương tiến năm Kỷ Mão niên hiệu Gia
Long (1819) Tác phẩm của ông có: Quảng Khê văn tập; Trương Quảng Khê tiên
sinh thi tập; Sứ trình vạn lý tập; Duyệt Giáp Thìn khoa ñiện thí văn; Nhật Bản kiến văn tiểu lục; phê bình cuốn Diệu Liên thi tập Ông còn tham gia chủ trì hoặc biên
tập các sách ðại Nam liệt truyện tiền biên; ðại Nam thực lục tiền biên; ðại Nam
thực lục chính biên; Hoàng Nguyễn thực lục tiền biên; Hoàng Nguyễn lục hậu chính biên (12) Trong hoạt ñộng văn học, Trương ðăng Quế có công lớn ñối với
nền khoa học lịch sử nước nhà, khi làm Tổng tài Quốc Sử quán triều Nguyễn Học
văn dư tập cho thấy Trương ðăng Quế không chỉ là nhà chính trị, quân sự, kinh tế,
mà ông còn là một người có tâm hồn thơ mẫn cảm Tập thơ thể hiện rõ tình quê hương, sự hiếu thảo, tình huynh ñệ, nghĩa bạn bè ñến niềm trung quân, công tâm, yêu dân, trọng hiền tài Thơ ông thường xuất hiện vào dịp ông thư thả, rỗi rãi Ông quan niệm: "Dẹp hết các lời sáo hủ, chẳng dựa bên cửa sổ người khác, ý ñến thì thuận bút mà ghi ngay" Ông nói "ghi ngay" là ghi cái chất chứa trong lòng Có
lẽ vì vậy mà số phận, cảnh ñời của những người con gái, phụ nữ trở nên cảm ñộng
trong thơ ông (Khí phụ từ, Thanh lâu oán, Xuân giang khúc) Những cảnh tượng của quê hương, ñất nước cũng bước vào thơ ông với tính tả thực mặn mà (ðăng
dục Thúy Sơn, Hà Tiên, Thuyền quá Quảng Ngãi cố hương)
Nguyễn Bá Nghi (1807 - 1870), người làng Thời Phố (sau ñổi là Lạc Phố), nay
thuộc xã ðức Nhuận, huyện Mộ ðức Là con trai Nguyễn Hữu Thể (giới thiệu ở trước), ñỗ Phó bảng khoa Nhâm Thìn 1832, từng làm quan ở nhiều tỉnh Nam Kỳ
và Bắc Kỳ, làm quan ñến chức Tham tri, Tổng ñốc, trải qua ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự ðức, làm chủ khảo 2 khoa thi Hương tại Gia ðịnh và Hà Nội, giám khảo 2 khoa thi Hội ở kinh ñô Huế Nguyễn Bá Nghi có nhiều sáng tác thơ
văn bằng cả chữ Hán và chữ Nôm Lịch sử văn học Việt Nam ghi nhận ông có Sư
Trang 12Phần thi văn tập (Sư Phần là tên tự của ông) Nguyễn Bá Nghi nổi tiếng là con
người tiết tháo, có chủ kiến, giàu óc thực tiễn Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng sau này viết về ông: "Nguyễn Bá Nghi chuyên việc học thực dụng, thường bác Tống Nho,
có làm sách và xin sửa ñổi phép học (…) ông này học thức nhiều ñiều ñáng phục" Tính cách ấy cũng biểu hiện khá rõ trong thơ Nguyễn Bá Nghi, như trong bài ca trù
Bài ca sinh nhật tuổi 60 mở ñầu với lời tự bạch của một cá nhân kẻ sĩ:
Sư Phần tử sa chân trên ñất núi
Trước và sau thui thủi quá mười năm
Chữ kinh luân có sót, có lầm
Nghề văn võ cũng hay, cũng dở
ðỗ ðăng ðệ (1814 - 1888), hiệu là Tùng ðường, người làng Châu Sa, nay thuộc
xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh ðỗ Phó bảng khoa Nhâm Dần 1842, làm quan dưới các triều Thiệu Trị, Tự ðức, ñến chức quyền Thượng thư (1876) Thời Pháp xâm lược Nam Kỳ, ông và Nguyễn Bá Nghi ñều bị cách chức do không ngăn ñược giặc Pháp Thời làm Tiễu phủ sứ Sơn phòng Quảng Ngãi (1871), ở quê ông thường giao du với danh sĩ Nam Kỳ là Nguyễn Thông, lúc này giữ chức Bố chánh Quảng
Nghĩa và xướng họa thơ với nhau Ông ñể lại tập Tùng ðường di thảo
ðinh Duy Tự (1807 - 1888), hiệu là Kim Sơn, người ñời thường gọi là Nghè
Kim, quê làng Trà Bình Trại, nay thuộc xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh Ông thi ñỗ
Tú tài, ra làm một chức quan ở Kinh dưới thời vua Thiệu Trị, dạy con cháu hoàng tộc, thảo văn tế, giấy tờ, chép tuồng góp vui trong cung ñình, ñược vua Tự ðức phong tước Nghè (nên gọi là Nghè Kim) Năm 1856, cáo quan về quê, dạy học, làm thầy thuốc Với sự ñộng viên của Bố chánh Nguyễn Thông, ông ñứng ra tổ chức dân làng ñắp lại ñược ñập Ông Cá năm 1872 Khánh thành ñập với niềm vui khôn tả, Nguyễn Thông viết bài văn ca ngợi công lao của ông và ñặt tên là ñập
ðinh Gia qua bài ðinh Gia yển ký (ký về con ñập nhà họ ðinh); còn ðinh Duy Tự
thì vẫn gọi là ñập Ông Cá và viết một bài phú về ñập, thể hiện niềm vui của ông và dân làng, mô tả sinh ñộng về sự hình thành, quá trình hư hại và ñắp lại ñập Bên
cạnh bài phú ðập Ông Cá, Nghè Kim ðinh Duy Tự còn sáng tác rất nhiều thơ Nôm, ñáng chú ý như các bài Lụt Bất quá (1878), Chợ Thạch An, ñều thể hiện
những cảm xúc ñằm thắm, niềm thương cảm của ông ñối với ñời sống của dân Khác với thơ văn các tác giả kể trên, văn thơ ðinh Duy Tự ngồn ngộn chất hiện thực, hiện thực ñời sống và hiện thực tình cảm của tác giả Thơ văn ông cũng ñậm chất dân gian ở nét trữ tình hài hước Phần lớn các sáng tác của ông viết không lưu, chỉ qua trí nhớ lời truyền của bà con và dân làng, nên cũng có nhiều dị bản và thật khó xác ñịnh chính xác nguyên tác
Phan Thanh (1836 - 1914), sau ñổi là Phan Thúc Nghiễm, người làng An Nhơn,
nay thuộc xã Tịnh An, huyện Sơn Tịnh ðỗ Tú tài khoa Tân Dậu 1861, bị mù ở nhà
Trang 13Quảng Ngãi như Lê Trung đình, Tạ Tương, Trương Quang đảnẦ Về văn học, Phan Thanh cũng có nhiều sáng tác thơ Nôm nhưng bị thất truyền, trong số các
sáng tác chỉ có bài vè dài mang tên Lụt Bất quá, mô tả rất sinh ựộng tác hại của
cơn lũ lịch sử năm Mậu Dần 1878, vẫn còn ựược lưu truyền
Bên cạnh các tác giả trên, còn có thể kể sáng tác thơ ựầy tình cảm lãng mạn, thiên về cá nhân của anh em Cử nhân Phạm Viết Duy - Tú tài Phạm Viết Cang ở
Chánh Lộ (nay thuộc thành phố Quảng Ngãi) qua các bài Ký tình nhân thi, Văn tế
bà Sáu Kẽm; sáng tác thơ của Học Soạn ở Phú Nhiêu (nay thuộc xã Nghĩa Trung,
huyện Tư Nghĩa) với bài Tiều phu thán thể hiện tâm tưởng lánh xa chốn danh lợi
hồng trầnẦ
Ngoài các tác giả người Quảng Ngãi kể trên, có hai nhà thơ nổi tiếng Việt Nam
có nhiều nợ duyên với ựất và người Quảng Ngãi và ựể lại dấu ấn sâu ựậm trong văn chương là Cao Bá Quát và Nguyễn Thông
Cao Bá Quát (1808 - 1855), hiệu Chu Thần, người Bắc Ninh, ựỗ Cử nhân, làm
quan nhỏ ở Bộ Lễ Ông là một trắ thức lỗi lạc, có khắ phách hào hùng, tư tưởng ngang tàng, bất khuất, có tình thương dân, nỗi lo ựời, nhưng luôn bị vùi dập Về tác
phẩm, ông ựể lại một số ca trù, thơ, phú, câu ựối chữ Nôm và các tập thơ: Chu Thần
thi tập, Cúc đường thi loại, Mẫn Hiên thi tập, Mẫn Hiên thi loại Ông có bài thơ
nôm nổi tiếng: Tài tử ựa cùng phú Ông còn là người có tuyên ngôn về thơ, có tài bình văn Với Quảng Ngãi, ông có hai bài thơ nổi tiếng về sông Trà: Trà giang dạ
bạc và Trà giang thu nguyệt ca Trong thời gian ở Hàn lâm viện, ông thường ựi công
cán miền Trung Nhân bạn ông là Bảo Xuyên ựi quân thứ An Giang, lúc ghé qua
Quảng Ngãi, dừng chân bên mạn thuyền sông Trà Khúc, ông viết bài Trà giang thu
nguyệt ca Tiễn bạn mà vịnh trăng, nên tình quyến luyến, giàu tiết ựiệu lòng người:
Trăng như người, trăng "như kắnh", người "tung hoành", trăng "luyến luyến bất nhẫn tử", người "cùng ựồ" Nhưng rực rỡ hơn cả là "bóng người dọc ngang", "chống
gươm ựi thì ựi thẳng" Tầm ựịch khái hiện lên trong hình tượng thơ Trà giang thu
nguyệt ca là một trong những bài thơ hay nhất trong sự nghiệp sáng tác, với ựầy
nét bi tráng, rộng mở trong hồn thơ Cao Bá Quát
Nguyễn Thông (1827 - 1884), tên chữ Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu độn
Am Ông người Vàm Cỏ, Long An, ựỗ Cử nhân năm 23 tuổi, làm quan từ năm
1855 Năm 1869, ông làm Bố chánh tỉnh Quảng Ngãi Hiểu ựược nỗi khó khăn của người dân ựịa phương trong sản xuất nông nghiệp, nên trong những năm 1869 -
1872, Nguyễn Thông chú trọng ựến việc thủy lợi và trồng cây ở Quảng Ngãi, và qua ựó ông có làm một số bài thơ khuyên người dân cần chú trọng công tác thủy
lợi, trồng trọt Các bài thơ của ông như: Khuyến cần nông, Khuyến hưng cừ,
Khuyến tài thực nói rõ ựiều này Ở Quảng Ngãi, Nguyễn Thông có giao du với
Tùng đường đỗ đăng đệ, nhưng ông lại rất giống Nguyễn Bá Nghi ở óc thực tiễn Nguyễn Thông lưu nhiệm ở Quảng Ngãi chỉ khoảng 3 năm, nhưng chắnh ở Quảng Ngãi ông gặp những thử thách khắc nghiệt, có dịp bộc lộ phẩm cách, tài năng, tâm hồn của mình và ựể lại nhiều trước tác quan trọng Ông thể hiện óc thực tiễn, tài tổ
Trang 14chức rất giỏi của mình qua việc tổ chức thủy lợi, viết bài Nghĩa Châu thủy lợi tiểu
sách tự (bài tựa cho cuốn sách nhỏ về thủy lợi ở Quảng Ngãi), Trần thủy lợi tài thụ nghi sớ (Sớ trình bày việc thủy lợi và trồng cây) Vì sơ suất trong xử án, Nguyễn
Thông bị cách chức, nhưng những nhân sĩ và người dân Quảng Ngãi ựã kêu oan
cho ông Ông rất xúc ựộng trước nghĩa cử cao ựẹp ựó mà viết Tứ nhân truyện
(chuyện bốn người) Ở Quảng Ngãi, ông cảm khái về một thủ lĩnh nghĩa quân người Quảng Ngãi ựã chiến ựấu và hi sinh ở Nam Bộ quê ông khi rơi vào tay giặc
Pháp mà viết Lãnh binh Trương định truyện (chuyện về Lãnh binh Trương định)
Ông khảo sát vùng bán sơn ựịa Trà Bình Trại, ựộng viên cụ Tú tài đinh Duy Tự
ựứng ra tổ chức dân làng ựắp li ựập Ông Cá, rồi cảm xúc viết bài đinh Gia yển ký
thật xúc ựộng Ông nói với đinh Duy Tự: "Kẻ sĩ dù ở nhà hay ra làm quan, cốt nhất là giúp ắch cho ựời" Các bài viết của Nguyễn Thông về thủy lợi không ựơn thuần là kỹ thuật, nó bộc lộ tâm tư, tình cảm, tài năng và nhân cách kẻ sĩ cao ựẹp, chứa chan nhân tình, với bút pháp sắc sảo, ựiêu luyện, tóm lại là những tác phẩm văn học xuất sắc, ựắch thực
1.2 VĂN HỌC THỜI KỲ CẦN VƯƠNG (TỪ NĂM 1885 đẾN CUỐI THẾ
KỶ XIX)
Sự biến kinh ựô tháng 7.1885 như một sự vùng vẫy trong tuyệt vọng của triều Nguyễn trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp Kinh ựô Huế thất thủ, vua Hàm Nghi phải xuất bôn và hạ chiếu Cần vương Pháp chiếm trọn quyền ở Việt Nam, áp ựặt nền ựô hộ trên toàn cõi nước ta, dựng vua đồng Khánh lên ngôi làm bù nhìn hòng dùng bộ máy cai trị sẵn có và hòng chiêu dụ sĩ phu, làm mất tác dụng của ngọn cờ Cần vương chống Pháp
Từ ựây, vấn ựề lịch sử ựặt ra cho sĩ phu và nhân dân là phải tập trung sức cho công cuộc chống Pháp, cứu nước, trong ựó có việc nhận thức rõ về âm mưu thâm ựộc của thực dân và phải hành ựộng, phải sẵn sàng xả thân vì nước Trong hoàn cảnh lịch sử ựó, văn học cũng phải dốc sức vào nhiệm vụ cứu nước Thời kỳ Cần vương chống Pháp, ở Quảng Ngãi nổi lên các chắ sĩ nổi bật trong cả nước như những tấm gương tiết liệt trong hành ựộng thực tiễn, thể hiện rõ trong những áng văn chương ựược viết bằng máu, mà ựiển hình nhất là Lê Trung đình và Nguyễn Duy Cung
Lê Trung đình (1857 - 1885), người làng Phú Nhơn (nay là thị trấn huyện lỵ
Sơn Tịnh), ựỗ Cử nhân khoa Giáp Thân 1884, là thủ lĩnh của Hương binh huyện Bình Sơn Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Lê Trung đình dẫn Hương binh về ựánh chiếm tỉnh thành Quảng Ngãi từ tay bọn quan lại cơ hội nằm chờ Nguyễn Thân phản bội, chiếm lại thành, bắt Lê Trung đình tống ngục, sau khi không dụ ựược bèn ựưa ông ra pháp trường Trên ựường ra pháp trường, Lê Trung
đình ứng khẩu ựọc bài thơ tuyệt mệnh, về sau người ựời gọi ựó là bài "Lâm hình
thời tác" (Cảm tác lúc bị hành hình) như sau:
Kim nhật lung trung ựiểu
Trang 15Minh triều trở thượng ngư
Thân này tiếc gì ựâu
Gian nan tình ựất nước!)
Bài thơ tổng cộng chỉ có 4 câu, 20 chữ, mà như ựúc nén cả một ý chắ xả thân cứng như thép, một tấm lòng cao vời vì ựất nước đúng với các giai thoại về Lê Trung đình và với các áng văn thơ mà ông từng bày tỏ trước kia:
Rồi ựây không Võ thì đình
Sẽ trải mật giữa non sông, nòi giống!
Ngoài Lâm hình thời tác là một áng thơ bất hủ, Lê Trung đình còn ựể lại nhiều
bài thơ khác thể hiện tâm chắ, khắ phách của ông và người ựời cũng còn lưu truyền nhiều giai thoại rất hay về ông
Nguyễn Duy Cung (1839 - 1885), quê làng Vạn Tượng (nay thuộc xã Nghĩa
Dũng, thành phố Quảng Ngãi), là thầy học của Lê Trung đình, ựỗ Cử nhân khoa Mậu Thìn 1868 Năm 1885, khi có chiếu Cần vương, Nguyễn Duy Cung ựang làm
Án sát Bình định, ông cùng các sĩ phu tỉnh này dốc tâm chống Pháp, cứu nước Nhưng cũng như người học trò Lê Trung đình ở Quảng Ngãi, ông cũng bị bọn phản bội bắt giam Trước lúc hi sinh, trong ngục ông cắt ngón tay lấy máu viết lên tấm áo dài trắng một bài văn dài tựa ựề "Bình thành cáo thị", người ựời thường gọi
là Huyết lệ tâm thư (bức thư lòng viết bằng máu lệ), ném ra ngoài thành kêu gọi sĩ
phu và nhân dân tiếp tục chống Pháp Bức chúc thư của Nguyễn Duy Cung cũng như thơ tuyệt mệnh của Lê Trung đình không chút vương vấn gì ựến cái chết của bản thân, mà chỉ một lòng lo cho ựất nước với một tấm lòng nhiệt huyết hừng hực
Thà làm ma có hồn trung, vắa nghĩa
Không làm người ựeo mặt ngựa ựầu trâu
Xin trong tay sắp sẵn qua mâu, lòng ựịch khái còn hăng chưa nhụt
Xin cùng nhau gọn gàng giáp trụ, chắ Cần vương càng mạnh không quên
Trang 16đương thời, bài văn gây xúc ựộng sâu sắc trong nhân dân và sĩ phu hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình định và có tác dụng cổ vũ lớn lao mọi người ựứng lên xả thân
vì nước, cho nên người ta còn gọi ựó là hịch kêu gọi chống Pháp Sau này, Giáo sư Trần Văn Giàu nhận xét: "bài Hịch của cụ Nguyễn Duy Cung là một trận ựánh, một trận ựánh với tinh thần quyết tử"
Cuộc ựời, hành trạng và thơ văn của Lê Trung đình, Nguyễn Duy Cung là những ựiểm sáng trong lịch sử và trong văn học Việt Nam, ựược các nhà nghiên
cứu ựánh giá rất cao, như Phó Giáo sư Nguyễn Lộc trong giáo trình Văn học Việt
Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX), Giáo sư Phan Ngọc trong công
trình Bản sắc văn hóa Việt NamẦ
Văn học thời Cần vương chống Pháp ở Quảng Ngãi còn phải kể các gương mặt nổi bật sau ựây:
Nguyễn Tự Tân (1848 - 1885), quê làng Trung Sơn (nay thuộc xã Bình Phước,
huyện Bình Sơn), ựỗ Tú tài năm Mậu Thìn 1868, là Phó quản Hương binh Bình Sơn, phó tướng của Lê Trung đình, hi sinh khi thành Quảng Ngãi lọt vào tay Việt gian Nguyễn Thân Ông có ựể lại một số bài thơ chữ Hán thể hiện tình yêu ựất
nước cũng như chắ khắ của kẻ sĩ, như các bài Trung Sơn, Tuyền Tung, Tình ựất
nướcẦ
Nguyễn Bá Loan (1857 - 1908), người làng Lạc Phố (nay thuộc xã đức Nhuận,
huyện Mộ đức), con trai Phó bảng Nguyễn Bá Nghi, là thủ lĩnh của phong trào Cần vương Quảng Ngãi sau khi Lê Trung đình, Nguyễn Tự Tân hi sinh Ông lãnh ựạo phong trào Cần vương, ựánh nhau với Việt gian Nguyễn Thân nhiều trận cho ựến năm 1888 thì lánh vào Nam Kỳ suốt hai mươi năm, sau quay về Quảng Ngãi tham gia lãnh ựạo Duy tân Hội và hi sinh trong vụ cự sưu, khất thuế 1908 Trong thời gian là thủ lĩnh Cần vương, giữa ông và Trịnh Tuyết Anh có mối tình ựẹp như thơ ựầy tình yêu thương và chắ khắ
Trịnh Thị Tuyết Anh (1870 - 1887?), là con một nhà quan ở làng Quýt Lâm
(nay thuộc xã đức Phong, huyện Mộ đức), vốn là người yêu của Nguyễn Bá Loan, nhưng số phận ựưa ựẩy làm hôn thê của Việt gian Nguyễn Thân Khi thấy rõ bộ mặt gian ác của Nguyễn Thân, Trịnh Thị Tuyết Anh ựã cải trang nam nhi trốn theo quân Cần vương dưới sự lãnh ựạo của Nguyễn Bá Loan, cầm "Thanh gươm tuyết hận" ựể trả tình riêng, ựền nợ nước Tương truyền bà cũng có một số bài thơ thể
hiện tình cảnh, tâm chắ của mình, như bài đẹp má ựào dưới ựây:
Khoác áo nam nhi, vượt sóng trào
Hồn ôm ựất nước rực trời sao!
Tuốt gươm trừ tiệt phường bạo tặc
Trang 17Dưới ựây là một ựoạn trong bài thơ Nỗi ngậm ngùi của Nguyễn Bá Loan khi ông
ngắm nhìn "thanh gươm tuyết hận" do Trịnh Thị Tuyết Anh gửi lại trước lúc nàng
hi sinh và cảnh quê hương trước khi ông lánh vào Nam Kỳ:
Ngóng về ựồng nội mây che khuất
Nghe tiếng quân reo dậy cõi bồ
Thanh gươm tuyết hận rơi ựầu giặc
Bóng nàng lồng lộng giữa trời mơ (13) .
Nhìn chung, văn học Quảng Ngãi thời kỳ Cần vương có nhiều ựiểm nổi bật và những tác phẩm rất có giá trị Các tác phẩm văn học Cần vương chống Pháp thường do chắnh các chắ sĩ Cần vương sáng tác, ở ựó văn chương hòa nhập với hành ựộng cứu nước, với ý chắ của bản thân người sáng tác, tắnh chân thực trong cảm xúc rất cao
Tuy nhiên, không phải tất cả các Nho sĩ ựều ựi theo Cần vương, vì lẽ này hay lẽ khác Trong số những người không tham gia Cần vương có Trương Quang đản là người có nhiều trước tác mà xét về mặt lịch sử văn học, không thể bỏ qua
Trương Quang đản (1833 - 1915), hiệu Cúc Khê, quê làng Mỹ Khê Tây (nay
thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh), con thứ của Trương đăng Quế Ông ựỗ Tú tài khoa Ất Mão 1855, sau ra làm quan một thời gian dài ở các tỉnh Bắc và Trung
Kỳ, thời đồng Khánh ựược Pháp ựưa lên làm vua, ông giữ một chức quan trong triều đến khi Thành Thái lên ngôi, Trương Quang đản giữ chức Phụ chắnh đại thần Năm 1900 (Thành Thái năm thứ 12), ông về hưu và mất ở quê năm 1915 Trong thời gian ở triều ựình Huế, ông từng làm Tổng tài Quốc Sử quán, chủ biên
các bộ sách lớn như đại Nam liệt truyện, đại Nam thực lục chắnh biên (ựệ tứ, ựệ ngũ kỷ) mà ựến nay vẫn còn giá trị sử liệu Về trước tác, ông có tập Cúc Khê thi
tập Các bộ sách do ông chủ biên kể trên có ý nghĩa như là sự tiếp tục công việc
của thời kỳ trước còn dở dang
2 VĂN HỌC TỪ đẦU THẾ KỶ XX đẾN TRƯỚC NĂM 1930
Năm 1888, ba năm sau khi hạ chiếu Cần vương, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt và ựày ựi Angiêri Song với tâm thức dân tộc, các sĩ phu và nhân dân Quảng Ngãi vẫn tiếp tục công cuộc Cần vương chống Pháp cho ựến những năm cuối thế kỷ XIX Sau thất bại của Lê Trung đình, Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Bá Loan, Thái Thú, Trần
Du, phong trào Cần vương ở Quảng Ngãi chỉ còn lại những hào quang của một thời đầu thế kỷ XX, các chắ sĩ Quảng Ngãi cùng các nhà yêu nước trong nước tìm kiếm phương hướng cứu nước mới theo ý thức hệ dân chủ tư sản Mục ựắch cuối cùng vẫn là khôi phục ựộc lập dân tộc, nhưng phương lược có khác Phắa thực dân Pháp thì củng cố bộ máy cai trị và tăng cường bóc lột, Âu hóa Chế ựộ khoa cử Nho học và việc học chữ Hán vẫn duy trì, nhưng ựã dần phai nhạt, tiếng Pháp và
Trang 18chữ Quốc ngữ dần dần thay thế Các nhà nho tham gia học tiếng Pháp, học Quốc ngữ Khoảng năm 1906, Duy tân Hội hình thành ở Quảng Ngãi Năm 1908, diễn ra cuộc cự sưu, khất thuế do Hội lãnh ựạo làm rung ựộng cả Trung Kỳ nhưng hàng loạt chiến sĩ bị tàn sát, bị tù ựày Năm 1914, Việt Nam Quang phục Hội hình thành
và năm 1916 tổ chức cuộc khởi nghĩa bất thành, lại thêm nhiều người bị tàn sát, tù ựày Phong trào yêu nước lại lâm vào bế tắc Cho ựến ựầu thập niên 20 thế kỷ XX, lại có những nỗ lực mới nhằm cải thiện dân sinh do các nhà chắ sĩ tổ chức khi chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin Trong khoảng 30 năm, nhiệm vụ cứu nước ựược ựặt lên hàng ựầu nhưng những phương lược cứu nước mới ựược tìm tòi, truyền
bá vẫn chưa khai thông ựược bế tắc Trên cái nền chắnh trị - xã hội ựó, văn học Quảng Ngãi cũng có những bước chuyển và những thành tựu rất ựáng ghi nhận
Chủ ựề chắnh của văn học thời kỳ này vẫn là chống Pháp, cứu nước, tuy nhiên
do yêu cầu truyền bá tư tưởng mới, nên nhiều tác phẩm văn học thiên về tuyên truyền, truyền bá, vận ựộng, thức tỉnh quần chúng, như thức tỉnh về thân phận nô
lệ, về việc cải biến hủ tục, vận ựộng mọi người giữ chắ khắ và ựứng lên cứu nướcẦ Tác giả văn học thời kỳ này cũng là các nho sĩ, trắ thức yêu nước, thủ lĩnh các phong trào chống Pháp, như các Cử nhân Lê đình Cẩn, Nguyễn Thụy, Nguyễn đình Quản, Tú tài Phạm Cao Chẩm, Tú tài Trần Kỳ Phong, Trương Quang CậnẦ Văn học thời kỳ này vẫn dùng chữ Hán, song chữ Quốc ngữ ựã bắt ựầu chiếm lĩnh các thể loại văn học, chủ yếu là các thể thơ truyền thống theo thể ựường luật, lục bát, song thất lục bátẦ với các tác giả và tác phẩm sẽ ựược trình bày dưới ựây:
Lê đình Cẩn (1870 - 1914), quê làng Hòa Vinh (nay là xã Hành Phước, huyện
Nghĩa Hành), ựỗ Cử nhân khoa Quý Mão 1903, là Hội chủ của phong trào Duy tân Quảng Ngãi, nhiều lần xô xát với Công sứ Pháp đôựê (Daudet) (14) Lê đình Cẩn
có bài thơ song thất lục bát dài: Xin ựúc một chữ ựồng kêu gọi ựồng bào xóa bỏ hủ
tục, ựồng tâm ựứng lên cứu nước, phần cuối bài thơ có ựoạn:
đường vinh nhục ta này phải sáng
Chắ tự cường cậy hẳn nhân dân
Mong sao trên dưới một lòng
Cùng nhau lấp hố bất bình từ ựây!
Nguyễn đình Quản (1878 - 1910), quê làng Phong Niên (nay thuộc xã Tịnh
Phong, huyện Sơn Tịnh), ựỗ Cử nhân khoa đinh Dậu 1897, tham gia phong trào Duy tân, bị ựày ựi Côn đảo và chết ở ựó, ựược Chắ sĩ Huỳnh Thúc Kháng rất mến phục Nguyễn đình Quản sáng tác nhiều thơ, trong ựó có các bài ựáng chú ý như
Dặn dạ, Tâm sựẦ
Trang 19Nguyễn Thụy (1864 - 1916), người làng Hồ Tiếu (nay thuộc xã Nghĩa Hà,
huyện Tư Nghĩa), ựỗ Cử nhân khoa Quý Mão 1903, tham gia Duy tân Hội, bị ựày
ựi Côn đảo, trở về tham gia Việt Nam Quang phục Hội và là yếu nhân trong cuộc
khởi nghĩa 1916 ở Trung Kỳ, bị Pháp xử trảm Ông có bài thơ để rồi xem nói về
chắ làm trai trong thời nô lệ
Bên cạnh các tác giả trên còn có Tú tài Phạm Cao Chẩm, Nhà giáo Phạm Cao đàm quê làng Xuân Phổ (nay thuộc xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa), Tú tài Trần
Kỳ Phong người Châu Me (nay thuộc xã Bình Châu, huyện Bình Sơn), các Chắ sĩ Trương Quang Cận ở Trà Bình Trại (xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh), Nguyễn Công Phương làng Hòa Vinh (xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành)Ầ Họ ựều có những sáng tác thơ ựể thể hiện tâm chắ mình, ựộng viên ựồng chắ, ựồng bào nuôi chắ cứu nước
Khi tư tưởng cộng sản ựược truyền bá ựến Quảng Ngãi trong những năm cuối thập kỷ 20 thế kỷ XX, các chắ sĩ viết thơ vận ựộng cho tư tưởng cách mạng vô sản, thức tỉnh nhân dân về dân tộc và giai cấp, trong ựó tiêu biểu nhất là các sáng tác
thơ của Tú tài Trần Kỳ Phong với các bài thơ Xoay trời lại, Chuyện ngược ựờiẦ
3 VĂN HỌC TỪ NĂM 1930 đẾN NĂM 1954
dụng tốt thi pháp thơ mới
Cơ sở lịch sử của thơ văn thời kỳ này là thực tế xã hội sôi ựộng của phong trào hoạt ựộng cách mạng Ở ựâu có phong trào cách mạng thì ở ựó có văn học cách mạng điều này ựúng với Xô viết Nghệ - Tĩnh và cũng ựúng ựối với Quảng Ngãi
Do vậy, xét về nội dung, tắnh chất và tầm vóc thì thơ văn Quảng Ngãi ựủ chiều kắch ựứng bên cạnh các vùng văn học cách mạng khác
Nội dung bao trùm trong thơ văn là tuyên truyền, vận ựộng cách mạng theo lý tưởng yêu nước thương nòi, kêu gọi sự ựồng tâm chống thực dân, phong kiến ựể giải phóng dân tộc, giành ựộc lập, tự do Do yêu cầu trọng tâm này, nên thơ văn cách mạng Quảng Ngãi mang ựậm tắnh chắnh trị Tuy mức ựộ khác nhau, nhưng các nội dung chủ yếu trên ựây ựều có thể tìm thấy trong sáng tác của nhiều chiến sĩ cộng sản như: Trương Quang Trọng, Phan Thái Ất, Nguyễn Chánh, Tôn Diêm, Nguyễn Thị Du, Trương đình đẩu, Mai Thị Én, Võ Xuân Hào, Trần Thị Hiệp, Phạm Xuân Hòa, Nguyễn Huỳnh, Lê Trọng Kha, Vi Kiện, Phạm Kiệt, Trần Thị
Trang 20Lan, Trần Kinh Luân, Nguyễn Quang Mao, Nguyễn Nghiêm, Nguyễn Thị Nhạn, Nguyễn Công Phương, Nguyễn Hồng Sinh, Huỳnh Tấu, Huỳnh Thanh, Bùi Phụ Thiệu, Nguyễn Thiệu, Hồ Thiết, Trần Toại, Võ Tùng, Phạm Ngọc Trân, Phạm Thị Trinh, Huỳnh Thị Tuyết Sau ñây là một số khuôn mặt và các tác phẩm tiêu biểu:
Trương Quang Trọng (1906 - 1931), quê ở Sơn Tịnh, tham gia thành lập tổ
chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Ngãi, hy sinh ở ngục Kon
Tum Trương Quang Trọng ñã viết nhiều câu thơ song thất lục bát hào sảng, kêu gọi mọi người ñứng dậy theo gương nước Nga Xô
ðồng tâm, ñồng chí, ñồng bào
ðập ñổ ñế quốc lật nhào vua quan
Thực dân phong kiến tiêu tan
Xích xiềng bẻ gãy, lầm than xóa mờ
Chung tay xây dựng cơ ñồ
Việt Nam ñộc lập, tự do ñời ñời
Nguyễn Nghiêm (1904 - 1931), người con của huyện ðức Phổ, có công ñầu
trong việc thành lập ðảng bộ tỉnh Quảng Ngãi và là Bí thư Tỉnh ủy ñầu tiên Ông làm thơ với mục ñích góp phần hiệu triệu quần chúng nhân dân ñi theo cách mạng Ông viết từ trước khi ðảng bộ tỉnh Quảng Ngãi ra ñời: "Ai ơi có ðảng ra cầm
lái/Tất cả vùng lên rửa tủi hờn" Trong bài Hãy xốc tới, ông xác ñịnh: "Hễ còn áp
bức ta còn ñấu tranh" Tất cả ñều thống nhất trong một lời kêu gọi ñấu tranh cho sự nghiệp cách mạng
Nguyễn Chánh (1914 - 1957), người huyện Sơn Tịnh, Bí thư Tỉnh ủy Quảng
Ngãi năm 1939, một trong những người lãnh ñạo cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ tháng 3.1945, cũng viết nhiều vần thơ cổ ñộng cách mạng, kêu gọi ñồng ñội, người thân
cần vững bền trong ý chí ñấu tranh Các bài thơ như: May thay, Sức vẫy vùng, Tin
ở ngày mai cho thấy ñiều ñó Ngay khi bị giam hãm trong tù, sự khao khát ñấu
tranh và niềm tin thắng lợi vẫn luôn luôn ñầy ắp trong cảm quan lịch sử của ông:
Trên ñường gió bụi chông gai
ðạp bằng ta sẽ ngày mai ñi về
Tình nhà nợ nước ñôi bề vẹn hai
Em ơi! Tin tưởng ngày mai
Trang 21Thơ văn của các chiến sĩ cộng sản mang sắc thái dân gian và ñã có hơi hướng hiện ñại Có người còn dùng thi pháp thơ trung ñại, có người ñã tiếp nhận, sáng tác theo thi pháp thơ mới ñương thời Có một vài hình ảnh ước lệ, một số cách diễn ñạt
cũ, ñôi thể thơ truyền thống, nhưng ñặt những bài thơ giàu ý nghĩa về lẽ sống này trong bối cảnh cách mạng ñang sôi sục hoặc các tác giả ñang bị tù ñày ở nhiều nhà ngục thì những hạn chế về nghệ thuật là ñiều ñương nhiên
ðiều cốt lõi là thơ ca cách mạng ñã ñược truyền bá một cách rộng rãi, lôi cuốn thêm những chiến sĩ cách mạng mới, ñẩy mạnh thêm phong trào, làm cho sự nghiệp cách mạng vô sản ngày càng lớn mạnh Cái ưu trội của thơ văn thời kỳ này
là có lý tưởng rõ ràng ñể hướng ñến, có quan ñiểm giai cấp hẳn hoi, không có những nghịch lý phải chọn lựa khốc liệt như giữa việc theo vua hay ñứng về phía nhân dân như ở thời cận ñại có người gặp phải Tất cả họ, dù ñang ñược tự do hoạt ñộng hoặc ñang bị tù ñày, ñều có sự thống nhất cao giữa con người, xã hội và nội dung thơ văn Sự thống nhất cao ấy khiến thơ văn họ là tấm gương soi trung thực
về chính cuộc ñời hoạt ñộng cách mạng của họ Thơ văn của họ, vì vậy, ñã góp vào văn học cách mạng vô sản Việt Nam những viên gạch thuở ban ñầu
3.2 NHỮNG TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM THUỘC PHONG TRÀO THƠ MỚI
Trong phong trào Thơ mới Việt Nam (1932 - 1942), Quảng Ngãi góp vào thi ñàn
ba khuôn mặt thơ, thông qua sự chọn lựa của Hoài Thanh - Hoài Chân, nhưng số lượng tác gia viết theo thi pháp thơ mới có nhiều hơn
Nguyễn Vỹ (1910 - 1971), sinh ở Tân Phong, huyện ðức Phổ, sống ở Hà Nội,
Sài Gòn, làm ñủ nghề, nhiều thăng trầm Nguyễn Vỹ viết văn, làm thơ, in bài trên
Văn học tạp chí, Hà Nội báo, Phụ nữ từ năm 1927 Ông còn làm chủ nhiệm, chủ
bút một số tuần báo từ năm 1949 ñến 1971 như: Dân ta, Tạp chí Phổ thông, Thằng
Bờm Nguyễn Vỹ xuất hiện trong phong trào Thơ mới với trường thơ Bạch Nga
Ông có ý thức kiếm tìm trong thi pháp thể hiện Tác phẩm ñã xuất bản: Tập thơ ñầu (1934), Hoang vu (1962); tiểu thuyết có ðứa con hoang (1936), Chiếc áo cưới
màu hồng (1957), Dây bí rợ (1957), Mồ hôi nước mắt (1963) ðối với tình yêu xứ
sở, Nguyễn Vỹ có một bài thơ nhiều người biết ñó là bài Quảng Ngãi quê hương
tôi Hai bài thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Vỹ, ñược Hoài Thanh, Hoài Chân ñánh
giá cao, là bài Sương rơi và bài Gửi Trương Tửu
Tế Hanh (sinh năm 1921), quê Bình Dương, huyện Bình Sơn, nổi tiếng trong
phong trào Thơ mới từ năm 1938 và ñược Hoài Thanh, Nhất Linh ñánh giá cao Giải thưởng Tự Lực Văn ðoàn năm 1938 cho tập thơ Nghẹn ngào ñã ñưa Tế Hanh
sớm ñịnh vị trên thi ñàn Việt Nam Tế Hanh làm thơ, dịch thơ, viết tiểu luận, nhưng ông thực sự là một nhà thơ ðề tài trong thơ ông là những cảnh tượng bình
dị, gần gũi, thân thương, ñặc biệt là sinh hoạt miền sông - biển làng quê Bình Dương (Bình Sơn) quê hương tác giả Thơ Tế Hanh có hình ảnh trong sáng, ý thơ chân, ít triết lý, cú pháp thơ thuận, nhịp ñiệu thơ khoan, gần với thơ truyền thống,
giọng ñiệu tâm tình, giãi bày, cảm hứng nhất quán một cõi riêng, như ông nói: Tâm
Trang 22thức một ựời với cái ựẹp sông - biển và tình người quê hương Sau 1945, hồn thơ
ông ựược mở rộng thêm, ựạt nhiều thành tựu mới Trước sau, ông có 20 tập thơ với rất nhiều bài thơ hay Tế Hanh có một số bài thơ ựược chọn vào chương trình
giảng dạy văn trong nhà trường như: Quê hương, Nhớ con sông quê hương, Vườn
xưa, ựều là những bài thơ ựậm ựà tình quê hương với nỗi lòng hết mực thiết tha, và
ý thơ, tứ thơ trong sáng, ngôn từ bình dị, nhưng sâu lắng Ông ựược nhận Giải
thưởng Hồ Chắ Minh về Văn học nghệ thuật ựợt I (1996)
Bắch Khê (1916 - 1946), tên thật là Lê Quang Lương, sinh ở quê ngoại huyện
Sơn Tịnh, sau về sống ở Thu Xà, huyện Tư Nghĩa Tác phẩm của Bắch Khê có tự
truyện và một vài thi phẩm Năm 1939, tập thơ Tinh huyết của Bắch Khê ra ựời
đương thời, Hàn Mặc Tử có những lời bình xứng ựáng với giá trị ựặc sắc của thơ ông Còn Hoài Thanh xem những câu: "Ô! Hay buồn vương cây ngô ựồng/Vàng
rơi, vàng rơi, thu mênh mông" (Tỳ bà) thuộc hạng những câu thơ hay vào bậc nhất
trong thơ Việt Nam Do hình tượng ựộc ựáo và thi pháp tân kỳ, nên những bài thơ
như Duy tân, Xuân tượng trưng, Tranh lõa thể, Tỳ bà ựến nay vẫn còn sức hấp dẫn riêng Bắch Khê ựược xem là nhà thơ tượng trưng ựiển hình nhất trong các nhà
thơ Việt Nam đối với quê hương, Bắch Khê cũng có những bài thơ hay nổi tiếng
như Làng em, Trên núi Ấn nhìn sông Trà, Về Thu Xà cảm tác
Nguyến Viết Lãm (sinh năm 1919), quê phường Nghĩa Lộ, thành phố Quảng
Ngãi Ông học Trường Quốc học Quy Nhơn, tham gia nhóm thơ Quy Nhơn với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan trong những năm 1936 - 1939 với bút danh Nguyễn Hạnh đàn, nhưng thời ấy chưa ựược Hoài Thanh chú ý Trước 1945, ông
in thơ, truyện, khảo cứu trên một số tờ báo và công việc này vẫn ựược tiếp tục về sau Ông ựi theo Cách mạng tháng Tám và sáng tác ựều cho ựến sau 1975 Ông về làm Thư ký Hội Văn nghệ Hải Phòng từ 1962 và sinh sống luôn ở ựất Cảng Nguyễn Viết Lãm in trên 10 truyện ngắn, bút ký, dịch thuật một số thơ Pháp sang Việt ngữ, nhưng trước sau ông vẫn là nhà thơ với 5 tập thơ ựược nhiều bạn ựọc
biết Tuyển tập thơ Nguyễn Viết Lãm do Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Ngãi in
năm 1992 cho thấy thơ ông luôn thể hiện tình cảm chân thành trước những ựiều lớn lao của nhân dân, quê hương qua hai cuộc kháng chiến Xa quê nhà, nhưng ông vẫn dành tình cảm sâu sắc cho quê hương Quảng Ngãi Thơ Nguyễn Viết Lãm thể hiện một tâm hồn ựôn hậu, sâu lắng và luôn thủy chung với những ựiều từng tâm niệm, khát khao
4 GIAI đOẠN TỪ NĂM 1954 đẾN NĂM 1975
4.1 VĂN HỌC CÁCH MẠNG Ở VÙNG GIẢI PHÓNG
Thơ văn cách mạng ở vùng giải phóng Quảng Ngãi những năm chống Mỹ, cứu nước ựạt ựược một số thành tựu nhất ựịnh, góp phần tắch cực vào cuộc chiến ựấu chung
Trang 23Xét về ựề tài, thơ văn thời kỳ này tập trung thể hiện những vấn ựề lớn lao từ cuộc sống xây dựng và chiến ựấu của quân dân ta trên khắp các ựịa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Về nội dung, hầu hết các tác phẩm ựều ngợi ca những tư tưởng, tình cảm cao ựẹp của các tầng lớp người tham gia chiến ựấu đó là những suy cảm về những người dân kiên cường góp sức người, sức của và cả máu xương cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đó là sự khẳng ựịnh nhiều phẩm chất rất ựáng tự hào của những người lắnh cầm súng chiến ựấu cho quê hương, quyết tâm ựánh giặc cứu nước
Về mặt thể loại, văn học thời kỳ này khá phong phú, nhưng số lượng cũng như
sự thành công thì thể truyện - ký và thơ ca chiếm ưu thế
Về ựội ngũ sáng tác, trong thời kỳ này có hai bộ phận cầm bút cùng viết về cuộc chiến ựấu của nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân Quảng Ngãi nói riêng Thứ nhất, các cây bút người Quảng Ngãi như: Nguyễn Viết Lãm, Tế Hanh, Phú Sơn, Thanh Thảo, đinh Xăng Hiền, Vũ Hải đoàn, Nguyễn Trung Hiếu, Hoài Hà Thứ hai, các nhà thơ, nhà văn ở khắp mọi miền ựất nước ựến công tác, chiến ựấu ở Quảng Ngãi, như Thu Bồn, Nguyễn Chắ Trung, Bùi Minh Quốc, Dương đức QuảngẦ
Dù là người ựịa phương hay người ở các nơi khác, tác phẩm của họ ựều có sự gần gũi về ựề tài, chủ ựề, cảm hứng sáng tạo điểm chung trong nội dung thơ văn cách mạng giai ựoạn này là sâu nặng tình ựất tình người, giàu quyết tâm chiến ựấu
và do vậy, nó tự hào ựược nối kết với dòng văn học chống Mỹ trong cả nước, góp phần tạo nên chiến thắng trên mặt trận văn hóa - tư tưởng nói chung
Các tác giả người Quảng Ngãi
Cầm bút trên chắnh quê hương mình, các tác giả người Quảng Ngãi rất thuận lợi trong việc miêu tả, sáng tạo về con người và cuộc sống, cuộc chiến ựấu nơi ựây
Nguyễn Hồ với những ghi nhận về cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng qua Bão lửa Trà
Bồng, Vũ Hải đoàn ghi nhận đêm qua vùng ranh, Nguyễn Trung Hiếu chia sẻ với
bà con khi họ ựem tin tức cho ựội công tác qua bút ký Chỗ hẹn ựầu cầu Hoài Hà,
đinh Xăng Hiền ca ngợi tình yêu bản làng và lòng căm lũ giặc của anh đinh Tô, anh A Nỉ Nguyễn Viết Lãm, Tế Hanh dù ở xa Quảng Ngãi, vẫn có những sáng tác hướng về quê hương trong những năm kháng chiến Phú Sơn (Nguyễn Phúc Hoàng) cũng có nhiều thơ trào phúng ựả kắch kẻ thù từ những năm kháng chiến
chống Pháp, ựặc biệt là những năm chống Mỹ Tiêu biểu có tập Thơ trào phúng,
xuất bản năm 1993 Riêng Thanh Thảo, vì tham gia chiến ựấu ở chiến trường đông Nam Bộ nên hầu hết các tác phẩm của ông ựều viết về cuộc chiến ựấu của chiến sĩ, nhân dân vùng đông Nam Bộ
Số lượng người cầm bút ở Quảng Ngãi cũng như tác phẩm của họ tuy chưa nhiều, nhưng những trang văn thơ của họ, ngoài tình cảm hướng về cuộc chiến ựấu
Trang 24của toàn dân tộc, họ thật sự có ñiều kiện thể hiện riêng tình yêu ñối với quê hương của mình
Các tác giả là người ở ñịa phương khác nhưng gắn bó và có viết về Quảng Ngãi
Do yêu cầu của cách mạng, nhiều người cầm bút ñến công tác tại vùng ñất Quảng Ngãi Tại ñây, họ chứng kiến sự kiên cường bất khuất của người dân Quảng Ngãi Chính ñiều ñó ñã thôi thúc và gợi ý cho họ viết những vần thơ, những trang văn về ñất và người Quảng Ngãi Bùi Minh Quốc ca ngợi con người và quê hương
Trà Bồng, Quảng Ngãi (ðất lửa Trà Bồng), ca ngợi ñất và người vùng ñất Sa Kỳ anh dũng (Hồi ñó ở Sa Kỳ) Nguyễn Chí Trung lại ghi nhận các giá trị văn hóa và tình người nơi ñây (Làng quế, Hương Cau) Những cây bút có tên tuổi ở xa như
Yến Lan, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên cũng có thơ về những chiến công của
quân dân Quảng Ngãi (Vạn Tường ơi!, Sơn Mỹ, Sơn Mỹ)…
Tác giả và tác phẩm của những cây bút ở các ñịa phương khác, nhưng có gắn bó với Quảng Ngãi, viết về ñất và người Quảng Ngãi chiếm một số lượng khá lớn trong thành tựu văn học chống Mỹ ở mảnh ñất này
Viết về quê hương và con người Quảng Ngãi trong ñiều kiện khốc liệt của chiến tranh, có khi có tác phẩm mới chỉ như phác thảo, có tác phẩm chưa thật hay, nhưng tất cả các trang văn thơ ấy ñều chân thành, cảm ñộng Các tác giả ñã thực sự có một quá trình nếm trải sống còn với ñạn bom chiến tranh và ñã dành những tình cảm sâu nặng ñối với quê hương núi Ấn - sông Trà
4.2 VĂN HỌC VÙNG TẠM CHIẾM
Từ năm 1954 ñến năm 1975, ñồng thời với văn học phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong vùng tạm chiếm do chính quyền Sài Gòn kiểm soát cũng có những sáng tác văn học với nhiều khuynh hướng khác nhau
Nếu ñề tài và cảm hứng của văn học chống Mỹ là xây dựng, ñấu tranh bảo vệ Tổ quốc, nhân dân và ngợi ca lý tưởng ñộc lập tự do, thì ñề tài và cảm hứng của văn học Quảng Ngãi ở vùng tạm chiếm chủ yếu là thế sự, ñời tư và oán than, phủ ñịnh Hầu hết người viết thuộc các thế hệ trong vùng tạm chiếm ñều chứng kiến cảnh loạn ly, ñiêu tàn do chiến tranh gây nên Một ñời sống tinh thần có phần bất an, những tâm trạng lo âu, khắc khoải xuất hiện rải rác qua nhiều tùy bút, truyện ngắn và một số thi phẩm Các tác giả vừa xót xa cho sự sống, thân phận, có ý thức chống chiến tranh, mong hòa bình, vừa suy ngẫm về thời cuộc bể dâu và qua ñó gửi gắm tình yêu quê hương cũng như những hoài bão mang tính tích cực ñối với
Tổ quốc Những nội dung tình cảm này biểu hiện khác nhau ở từng cây bút cụ thể, nhất là quan niệm ñối với chiến tranh
Nhìn theo diễn trình, từ năm 1954 ñến năm 1960, hầu như không có ñược mấy
Trang 25có một số tác phẩm ra ựời, chủ yếu là thể loại thơ ca của các tác giả: Ngũ Hà Miên,
Vũ Hồ, Thanh Sơn, Trào Phúng, Minh đường, Khắc Minh, Phan Nhự Thức, Tố
Diễm, đoàn Huy Giao, Lê Vinh Ninh, Lê Vinh Thiều, Phương đình, đoàn Khắc Huỳnh, Luân Hoán, Hà Nguyên Thạch, Trần Thuật Ngữ Cũng có người không phải là người Quảng Ngãi nhưng viết về Quảng Ngãi khá hay như Trần Lê Nguyễn
với bài Về Quảng Ngãi Về văn xuôi, tiêu biểu có bà Tùng Long chuyên viết nhiều
tiểu thuyết phơiơtông rất nổi tiếng trên các nhật báo ở Sài Gòn
Về các tác giả nghiên cứu, phê bình có thể kể ựến Phạm Văn Diêu, với công
trình văn học sử - giảng văn: Văn học Việt Nam (Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1960) Riêng Phạm Trung Việt với ba công trình chắnh: Non nước xứ Quảng (4 lần tái bản), Khuôn mặt Quảng Ngãi (1973), Thi ca và giai thoại miền Ấn - Trà (1973)
viết về vùng ựất, văn hóa và con người Quảng Ngãi, ựã có thể xem ông là một nhà văn hóa học ựịa phương, một nhà văn nặng tình nghĩa với quê hương núi Ấn sông Trà Các tác phẩm này của ông hiện vẫn có nhiều giá trị về tư liệu và vẫn ựược ựông ựảo bạn ựọc là người Quảng Ngãi, trong lẫn ngoài tỉnh, ựón nhận
Khoảng từ năm 1970 ựến ngày giải phóng, trong ựời sống văn học Quảng Ngãi
ở vùng tạm chiếm xuất hiện hàng loạt cây bút trẻ Họ làm việc nhiều nơi, khác nhau về thành phần, lứa tuổi, nhưng gần gũi nhau về ựề tài, chủ ựề và bút pháp Sáng tác của họ nhiều nhất vẫn là thơ ca Thơ ca họ gần gũi với văn giới ựàn anh ở bình diện nội dung, nhưng có phần ưu tiên cho tình yêu tuổi học trò, tình yêu quê hương và
nỗi oán than ựối với chiến tranh Những sáng tác này xuất hiện chủ yếu trên: Trước
mặt, Quảng Ngãi ngày nay, Thi văn ựoàn Âu CơẦ
Nhìn chung, văn học trong vùng tạm chiếm ở Quảng Ngãi giai ựoạn 1954 - 1975 khá ựa dạng về thể loại, ựề tài, có ắt nhiều ựóng góp cho sự phát triển văn học Quảng Ngãi, nhưng chưa thực sự có những ựổi mới về bút pháp; hình ảnh, ngôn ngữ còn bị ảnh hưởng nhiều của thơ cũ Chưa có nhiều tác phẩm ựứng ựược lâu, trừ một số biên khảo của tác giả Phạm Trung Việt
và cũng vì không chuyên nghiệp nên chất lượng tác phẩm không ựồng ựều Tuy nhiên, trong số họ vẫn có một số tác giả tiêu biểu, có thể ựược xem là trưởng thành
Trang 26trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, như: Thanh Thảo, ðoàn Minh Tuấn, ðinh Xăng Hiền, Vũ Hải ðoàn, Nguyễn Trung Hiếu, Hoài Hà…
Thanh Thảo (sinh 1946), hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nhận Giải thưởng
Nhà nước về Văn học nghệ thuật ñợt 1 (2002) Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công, sinh tại Mộ ðức, ñã in 12 tập thơ và nhiều tập tiểu luận phê bình Về thơ, có
các tập thơ tiêu biểu: Dấu chân qua trảng cỏ (1978), Trẻ em Sơn Mỹ (1979), Khối
vuông Rubíc (1986), Một trăm mảnh gỗ vuông (in trong Từ một ñến trăm, 1988)
Về trường ca, có Những người ñi tới biển (1977), Những ngọn sóng mặt trời (tác phẩm bộ ba, 1982) Về phê bình, ñoản văn, tạp bút có Ngón thứ sáu của bàn tay (1995), Mãi mãi là bí mật (2005) Sáng tác của Thanh Thảo ña dạng về ñề tài, chủ
ñề, cảm hứng, thể loại và ở phương diện nào cũng có những thành công, có ñóng góp nhất ñịnh Trong thế giới nghệ thuật phong phú ấy, thơ ca là lĩnh vực làm rõ nhất tài năng văn học của ông Thanh Thảo bước vào thi ñàn chống Mỹ từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước, ông có sức thẩm thấu lớn ñối với hình tượng người lính và nhân dân ðây là tài sản văn hóa chung, nhưng người viết biết ñi bằng lối mới và nói tiếng nói của mình, chú trọng ñến sự cách tân trong ngôn ngữ, trong hình ảnh, trong cấu tứ, trong cách lựa chọn ñề tài Sự chọn lựa khốc liệt của người lính trong chiến tranh, sự hy sinh lặng lẽ, bao dung và sức mạnh tiềm tàng của nhân dân là những ñiều lớn lao, có sức hút tập trung nhất trong cảm hứng sáng tạo của Thanh Thảo Thơ và trường ca của Thanh Thảo, do vậy, trở thành một trong những hiện tượng tiêu biểu trong ñời sống văn học Việt Nam những năm liền sau
1975
ðoàn Minh Tuấn (sinh 1932), quê Tịnh Khê, Sơn Tịnh, hội viên Hội Nhà văn
Việt Nam, viết nhiều thể loại, chủ yếu là truyện ký, truyện ngắn Tiêu biểu: Núi
sông hùng vĩ (1973 - 1974), Bác Hồ - cây ñại thọ (1989), Tuyển truyện ngắn
(2002), Trăm năm một thuở (1995), Với bác Nguyễn (1997), ðất nước phương trời (2002)… và một số kịch bản phim, kịch bản rối… Tuyển tập ðoàn Minh Tuấn
(2002) là tác phẩm mới, ñáng chú ý nhất của nhà văn trong thời gian ñầu thế kỷ XXI
ðinh Xăng Hiền (1940 - 1989), người dân tộc Hrê, sinh tại Sơn Kỳ, Sơn Hà,
mất tại Quy Nhơn Thơ ñã in: Giản ñơn và yên lặng (Hội Văn học nghệ thuật Nghĩa Bình, 1984), Thơ ðinh Xăng Hiền (Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi, 2004) Thơ
ðinh Xăng Hiền chưa phải phong phú về ñề tài, chủ ñề, thể loại, nhưng ở phương diện nào ông cũng có ý thơ hay, tứ thơ lạ Thế giới nghệ thuật thơ ðinh Xăng Hiền là
vẻ ñẹp truyền ñời của thiên nhiên vùng miền núi quê ông, như cây cỏ, tiếng suối, các loài hoa, chim thú, ánh sáng, lễ hội, mùa xuân… Lặng lẽ, hồn nhiên và ñằm thắm của tâm hồn là những ñiều làm nên thế giới nghệ thuật thơ ðinh Xăng Hiền
Nguyễn Trung Hiếu (sinh 1932), quê Nghĩa Lộ, thành phố Quảng Ngãi, hội
viên Hội Nhà văn Việt Nam, ñã in 8 tác phẩm gồm thơ, truyện, ký Thơ văn Nguyễn Trung Hiếu chín dần theo chiều sâu ngẫm nghiệm ñối với kỷ niệm thời chiến tranh, ñối với tình yêu xứ sở và quan hệ con người thời hòa bình Các tác
Trang 27phẩm chắnh: Ngôi sao phương Nam (thơ, 1968), đất hương vàng (văn, 1995), Phắa
ấy mặt trời lên (thơ, 1987), Mùa xuân ựến trước (văn, 1998), Từ ựộ các anh về (thơ, 2000), Chuyện còn lại (2005)
Phan Minh đạo, người xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, từng chiếu ựấu và
sáng tác ở chiến trường cực Nam Trung Bộ, sau 1975 là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, có nhiều tác phẩm về ựất nước và con người Bình Thuận
Hoài Hà, tác giả viết nhiều thể loại văn học như thơ, truyện, ký, kịch Các tác
phẩm chắnh: Ngày về không có em (thơ, 1995), Những phiên bản màu ựỏ (2000),
Chuyện như mới hôm qua (2005)
Vũ Hải đoàn làm thơ sớm, in riêng 3 tập đời thường qua tim là tập thơ chọn
lọc in năm 2000 Trong tập thơ này, Vũ Hải đoàn thể hiện những cảm xúc của mình về quê hương, ựất nước cùng những chuyện ựời tư
5.2 NHỮNG TÁC GIẢ, TÁC PHẨM XUẤT HIỆN SAU NĂM 1975
Sau năm 1975, văn học Quảng Ngãi từng bước phát triển và ngày càng phong phú đội ngũ cầm bút ựông ựảo, do sự góp mặt của nhiều thế hệ đề tài, chủ ựề, thể loại cũng ựược mở rộng, phát triển, do sự chuyển mình, thay ựổi của cuộc sống, thời ựại Những cây bút lớp trước chủ yếu viết về kỷ niệm thời chiến tranh, về thế
sự, và quan hệ con người thời ựổi mới Những người cầm bút trẻ, xuất hiện từ sau khi ựất nước thống nhất, chủ yếu quan tâm ựến các vấn ựề mới do cuộc sống ựặt ra như tình yêu ựôi lứa, chuyện ựời tư, gương người tốt, các mặt tiêu cực của ựời sống, nghĩa vụ của công dân
Hiện nay có 3 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ựang sinh sống ở Quảng Ngãi Ngoài Thanh Thảo, Nguyễn Trung Hiếu có Hơ Vê (Nga Ri Vê) - người dân tộc Hrê, sinh ở Sơn Hà, xuất hiện sau năm 1975, nhưng sớm ựược nhiều người biết
ựến Tác phẩm ựã in: đóa hoa rừng (1990), Tất cả cho anh (1994), Plây em mùa
xuân (1997), Khát vọng (2001) đề tài và chủ ựề trong thơ Hơ Vê hầu hết hướng
về vẻ ựẹp và những khao khát nồng cháy của con người, thiên nhiên ở mảnh ựất miền Tây Quảng Ngãi
Một số tác giả khác ựã có in những tập thơ riêng như: Lê Quang Tân có điệu ru ựầu tiên (1990), Nguyễn Ngọc Hưng có Cầm sợi gió trên tay (1993) và 6 tập khác,
Tạ Linh Nha có Khối linh hồn (1995), Lê Vinh Ninh có Còn ựọng (1995), Nam Hồ
có Còn một chút tình (1998), Hà Huy Hoàng có nhiều tập như Một nắng hai sương (1998), Hoa nắng hoa mưa (2001)Ầ, Thế Kỷ có đàn của gió (1994), Tạ Hiền Minh có Bến Tam thương (thơ - văn, 2000), Lý Văn Hiền có Trăng côi (2000), Nguyễn Tấn On có Thơ tặng người (2000), Mai Bá Ấn có Lục bát làm liều (2001),
Và bốn chung quanh (2005), Minh Tân có Theo cùng năm tháng (2002), Nào quên (2005); Hoàng Nguyên có Một khúc tâm tình (2003), Ai xuôi Trà Khúc
(2004), đinh Tấn Phước có Gió mùa (2003), Phong đăng có Nắng hanh quá chiều (2004), Phạm đương có Bùn non (2004), Nguyễn Tấn Hải có Thơ Nguyễn Tấn Hải
Trang 28(2003), Trần Cao Duyên có Hoa hút mật (2004) Ngoài ra, còn nhiều tuyển thơ của Phòng Văn hoá - Thông tin thị xã Quảng Ngãi như Thơ mùa hạ (1992); của
Sở Thông tin - Văn hóa tỉnh Quảng Ngãi như Trăng thu sông Trà (1994), Lửa ñầu
nguồn (1995) Nhóm bạn thơ là người Quảng Ngãi tại thành phố Hồ Chí Minh và
ở vài nơi khác cũng ñã tổ chức xuất bản tập thơ Một khúc sông Trà (1998) (15)
Nhìn chung, trong giai ñoạn này, ở Quảng Ngãi ñã xuất hiện hàng trăm tập thơ, dày mỏng khác nhau, in ấn ñẹp hơn trước Song, trừ các tập thơ của Thanh Thảo ñược giải thưởng Nhà nước, một vài tác giả khác ñược tặng thưởng (chưa phải giải thưởng), còn hầu hết các tập thơ của các tác giả khác sức lan tỏa còn ít, chưa có những tập gây ñược ấn tượng mạnh trong công chúng yêu thơ, chưa có giải thưởng nào lớn về thơ, chưa thật sự có cách tân trong ngôn ngữ, hình ảnh, cấu tứ , thường vẫn giọng ñiệu cũ, âm hưởng cũ Người làm thơ, xuất bản thơ chủ yếu là ñể giải tỏa nỗi niềm là chính Một vài người in thơ chỉ ñể nhớ ñến "kỷ niệm một thời" của
họ
Trong khoảng thời gian trước năm 2005 có một số tuyển thơ, văn ñáng chú ý: 99
bài thơ (tuyển thơ, Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi, 2003), Sông có khúc
(tuyển truyện và ký, Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi, 2003) với sự góp mặt tương ñối khá ñầy ñủ của các cây bút thơ, văn xuôi trong tỉnh và các cây bút ngoài tỉnh viết về Quảng Ngãi Ngoài ra, trong thời gian này cũng có một số tác giả có
nhiều thơ in trong các tuần báo Văn nghệ, Văn nghệ Trẻ, Tạp chí Thơ của Hội Nhà
văn Việt Nam, là những tờ báo có uy tín về văn học nghệ thuật, như: Thanh Thảo, Nguyễn Trung Hiếu, Hơ Vê, ðăng Vũ, Phạm ðương, Nguyễn Ngọc Hưng… Cùng với một số tác giả trên, nhiều tác giả ở Quảng Ngãi thường xuyên có thơ in trên các báo, tạp chí khác như: Hoài Hà, Trần Thuỵ Du, Lý Văn Hiền, Mai Bá Ấn, Lê Hồng Khánh, Hà Huy Hoàng, Trần Cao Duyên,… Nhiều người làm thơ, viết văn trong tỉnh dường như ñã ít viết thơ, viết văn mà ñã chuyển sang viết báo (chuyên nghiệp), hoặc làm công tác nghiên cứu, sưu tầm văn hóa văn nghệ
Ngoài các tác giả ñang sinh sống và làm việc ở Quảng Ngãi, các tác giả người Quảng Ngãi ñang sinh sống, công tác ở ñịa phương khác cũng ñã xuất bản nhiều tập thơ như: Hoài Vũ, ðoàn Huy Giao, Nguyễn Tấn Cứ, ðoàn Vị Thượng, Trần Ngọc Tuấn, Linh Vũ, Nguyễn Tấn On, Nguyễn Thánh Ngã Rất tiếc chưa có ñiều kiện
thống kê trong phần này Riêng ðoàn Huy Giao với các tập thơ Bài ca trái tim mạ
non (1995), Ngọn lửa cuối cùng (1991), Con chim cu nhìn tôi (2001) ñã ñược nhiều
bạn ñọc ñánh giá cao về ngôn ngữ thể hiện, về cấu tứ, hình ảnh
Về văn xuôi, có một số cây bút ñược nhiều người biết ñến như: ðoàn Minh
Tuấn, Thứ Lang, Phạm Quy, Cao Chư, Mạc Do Hùng, Thoại Văn, Mai Bá Ấn và gần ñây là Nguyễn Anh Tuấn Các tác giả có một số truyện in trên các báo, tạp chí
ở trung ương, như Thứ Lang, Thoại Văn, Mạc Do Hùng Nhưng có lẽ do nhiều lý
do khác nhau, các sáng tác văn xuôi trong tỉnh, ñặc biệt là truyện xuất hiện còn thưa thớt
Trang 29Về kịch, có tập kịch chung của nhiều người viết Tình huống bất ngờ (1993),
một số tác phẩm kịch cũng có mặt trong tập Mộng du (1992) Thế Kỷ, Hoàng Lĩnh
và một số tác giả khác có chú ý ựến sáng tác kịch bản văn học, nhưng loại này chưa có nhiều, xuất hiện còn thưa thớt, chưa có thành tựu lớn
Tiêu biểu trong ựội ngũ sáng tác kịch ở Quảng Ngãi có Nguyễn Thế Kỷ Ngoài
các tập sách như Quảng Ngãi quê hương tôi (1991), Quảng Ngãi - giai thoại và
truyền thuyết (1994), Gian lao nghìn dặm (1994), Vị thượng khách từ Paris về Hà Nội (1990), đàn của gió (1995), và nhiều thơ in trên các báo, tạp chắ, ông còn có
các tác phẩm kịch như: đốm lửa núi Hồng (kịch thơ, 1970), Ngã ba đồng Lộc (kịch thơ, 1973), Những ựứa trẻ không cô ựơn (tuyển tập kịch, 1982) Nguyễn Thế
Kỷ là hội viên Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam
Trong lĩnh vực nghiên cứu và phê bình văn học, từ sau năm 1975, ở Quảng
Ngãi cũng xuất hiện một số tác giả viết nghiên cứu - phê bình, nhưng chưa nhiều Tiêu biểu trong số này là Nguyễn đức Quyền
Nguyễn đức Quyền (1937 - 1999), người Nghĩa Dõng, thành phố Quảng Ngãi,
là nhà giáo - nhà phê bình văn học Ông ựã xuất bản gần 20 ựầu sách Công trình
chắnh: Dạy và học thơ ca dân gian (viết chung, 1986), Những vẻ ựẹp thơ (1987),
Bình giảng thơ (1997), Vẻ ựẹp ca dao (1997), Góp phần tìm hiểu "Nhật ký trong tù" của Chủ tịch Hồ Chắ Minh (viết chung, 1998), Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương
(viết chung, 1998) Nguyễn đức Quyền là một nhà phê bình văn học tài hoa, am hiểu khá sâu rộng văn học Việt Nam, ựặc biệt là về văn học dân gian Ông có cái nhìn về ca dao và cảm thụ ca dao rất tinh tế
Từ sau ngày tái lập tỉnh cũng có một số cây bút khác tham gia viết nghiên cứu, phê bình văn học như: Nguyễn Diên Xướng, Cao Chư, Lê Hồng Khánh, Nguyễn Tấn Huy, Trần Hoài Anh, Mai Bá Ấn, Võ Vĩnh Khuyến,
Về các tác giả nghiên cứu phê bình văn học là người Quảng Ngãi ựang sống và làm việc ở những nơi khác có Phương Lựu, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Tấn đắc, Nguyễn Lộc, Lê Ngọc Trà, Trường Lưu, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Xuân Nam,
Lê Xuân LắtẦ Tiêu biểu có:
Phương Lựu (sinh 1936), tên thật là Bùi Văn Ba, sinh tại Nghĩa Thương, huyện
Tư Nghĩa Năm 1991, ông là người ựầu tiên bảo vệ luận án Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ khoa học) về khoa học xã hội trong nước Cũng năm này, ông ựược phong học hàm giáo sư và hiện là Giám ựốc Trung tâm Trung Quốc học của Trường đại học
Sư phạm Hà Nội Công trình chắnh: Lỗ Tấn, nhà lý luận văn học (1977), Học tập
tư tưởng văn nghệ Lênin (1979), Tìm hiểu một nguyên lý văn chương (1983), Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam (1985), Tinh hoa lý luận văn học cổ ựiển Trung Quốc (1989) và hàng chục tập nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học khác
Ông ựã ựược tặng 2 Giải thưởng Nhà nước, một giải thưởng về Khoa học và một
giải thưởng về Văn học nghệ thuật ựợt I
Trang 30Võ Quang Nhơn (1929 - 1995), quê Quảng Ngãi Năm 1982, ông bảo vệ luận
án Phó Tiến sĩ Ngữ văn và ựược phong Phó giáo sư năm 1984 Ông là chuyên gia
về văn học dân gian ắt người ở Việt Nam Từ 1981, ông mở rộng thêm chuyên môn
sang Văn học đông Nam Á Công trình chắnh: Giáo trình ựại học Văn học dân
gian các dân tộc ắt người ở Việt Nam (1983), Dân ca Tây Nguyên (1976 - 1986)
Ngoài ra, ông còn nhiều công trình khác như Chàng đăm Thắ (1972), Truyện cổ
Cà Tu (1978), Truyện cổ Cơ Ho (1984 - 1988), Rọi - Dân ca Tày (1972), Bến cây hoa Chămpa (1970), Tráng sĩ Hông Kắnh Tôn (1989) Võ Quang Nhơn là người
ựầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Ông ựược truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật ựợt I
Nguyễn Tấn đắc (sinh 1931), Giáo sư văn học, sinh tại Nghĩa Lộ, thành phố
Quảng Ngãi, học ở đại học Sư phạm Bắc Kinh (Trung Quốc), sau về làm việc tại Viện Văn học, rồi Viện phó Viện đông Nam Á Vào thành phố Hồ Chắ Minh làm
ở Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chắ Minh Năm 2005, Phó Hiệu trưởng
Trường đại học Hồng Bàng Tác phẩm chắnh: Văn học các nước đông Nam Á (chủ biên), Văn học Ấn độ (2000), Truyện kể dân gian ựọc bằng type và motib (2001), Văn hóa đông Nam Á (2003), Văn hóa xã hội và con người Tây Nguyên
(2005)Ầ
Nguyễn Lộc (sinh 1934), quê Bình Mỹ, huyện Bình Sơn Ông ựược ựào tạo ở
Trung Quốc, về giảng dạy tại Khoa Văn Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, rồi Khoa Ngữ văn - Báo chắ, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chắ Minh Ông ựã ựược phong học hàm Phó Giáo sư, từng làm Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn và Báo chắ trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hiệu trưởng Trường đại học Dân lập Văn hiến Thành phố Hồ Chắ Minh Công trình
chắnh: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa ựầu thế kỷ XIX (2 tập, 1976,
1978, 1992), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX (1976, 1992), Hồ Xuân Hương (1984), Văn học Tây Sơn (1985)
Lê Ngọc Trà (sinh 1945), quê Sơn Tịnh, Quảng Ngãi Ông ựược ựào tạo ở Liên
Xô, bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ năm 1980, Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ khoa học) năm
1988, ựược phong Phó Giáo sư năm 1991, Giáo sư năm 2002 Ông nhận giải thưởng báo Văn nghệ năm 1987, Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991 Công trình
chắnh: đi tìm cái ựẹp (1984), Lý luận văn chương sơ giản (1986), Lý luận văn
chương (viết chung, 1986, 1997), Lý luận và văn học (1990 - 2005), Mỹ học ựại cương (1994)
Trường Lưu (Mai đình Thọ; sinh 1929), quê Tịnh Long, Sơn Tịnh, nguyên
Viện trưởng Viện Văn hóa (Bộ Văn hoá - Thông tin) đã xuất bản 10 công trình (sách) nghiên cứu văn hóa - văn nghệ riêng và nhiều công trình viết chung Tiêu
biểu: Sự chuyển ựổi các giá trị văn hóa trong văn hóa Việt Nam (1992), Chủ nghĩa
nhân văn và văn hóa dân tộc (1996), Văn hóa - một số vấn ựề lý luận (1999), Toàn cầu hóa và văn hóa dân tộc (2003)
Trang 31Ngoài các tác giả trên, trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn hóa - văn nghệ còn có:
Huỳnh Như Phương (sinh 1955), quê ðức Hòa, Mộ ðức, học ở Liên Xô, từng
làm Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn và Báo chí Trường ðại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, ñã ñược phong Phó Giáo sư Công trình chính:
Lý luận văn học - vấn ñề và suy nghĩ (viết chung với GS.TS Nguyễn Văn Hạnh,
1985), Những tín hiệu mới (1993)
Lê Xuân Lít (sinh 1936), quê Hành Thịnh, Nghĩa Hành Tác phẩm chính ñã
xuất bản: Tìm hiểu từ ngữ truyện Kiều (2000), Cảm nhận phê bình văn học (2001),
Hai trăm năm nghiên cứu bình luận truyện Kiều (2005) , và một số sách viết
chung khác
Nhìn chung, ñội ngũ sáng tác văn học và nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học thời kỳ 1975 - 2005 (kể cả trong tỉnh lẫn ngoài tỉnh là người Quảng Ngãi) tương ñối ñông ñảo, trong ñó có một số người ñược nhiều giải thưởng lớn như Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật và là những cánh chim ñầu ñàn của nền văn học Việt Nam hiện ñại
(1) Xem Thế Kỷ - Hà Thanh: Quảng Ngãi - giai thoại truyền thuyết, Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Ngãi, 1994
(2) Có nơi hát là Sơn Chà
(3) Về truyện kể Hrê, người viết dựa trên các nguồn: Truyện cổ Hrê của ðinh Xăng Hiền (sưu tầm), Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình, Quy Nhơn, 1984; ngoài ra còn một số truyện do nhà thơ Hơ Vê (Nga Ri Vê) và ðăng Vũ sưu tầm trong quá trình ñiền dã từ năm
- Thể thao Quảng Ngãi, 1995, tr.190
(6) Những truyện ñược dẫn chủ yếu theo: Truyện cổ Cor của Lê Như Thống (sưu tầm, biên soạn), Nxb Hải Phòng, 2003
(7) Theo ðời sống văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi, s ñd, tr 194
(8) Các truyện ñược ñề cập trong tiểu mục truyện kể Ca Dong ở trên theo các tài liệu: Truyện cổ Ca Dong do ðinh Xăng Hiền và Nguyễn Thanh Mừng sưu tầm, Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình, 1988; Truyện kể dân gian Ca Dong do Nguyễn ðăng Vũ sưu tầm, giới thiệu, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, 2004 (tác phẩm tài trợ sáng tạo)
(9) Theo ðời sống các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi, sñd, tr 197, 198
Trang 32(10) Bảy chữ ựầu tiên của bài thơ kể 7 việc mà chức việc ở tổng, xã phải lo Chữ "bản phủ" ở câu ba theo lời chú trong văn bản là cai tổng, chữ tri châu ở câu 4 có nghĩa là lý trưởng (không phải tri châu là chức vụ tương ựương huyện trưởng như sau ựó)
(11) Về thân thế và sự nghiệp của Trương đăng Quế, xem thê m Chương XI: Các nhân vật lịch sử tiêu biểu
(12) Theo Cao Chư: Các nhà khoa bảng N ho học Quảng Ngãi, sựd, tr 107, thì Trương
đăng Quế còn có thê m đại Nam hội ựiển toát yếu
(13) Nguyễn Hồng Sinh: Thơ văn yêu nước và cách mạng Quảng Ngãi (1885 - 1945), Hội Văn nghệ Nghệ An xuất bản, 1975
(14) Về tiểu sử Lê đình Cẩn, xem Chương XI: Các nhân vật lịch sử tiêu biểu
(15) Những người biên soạn chương này chưa có ựiều kiện thống kê ựược hết các tác phẩm của các tác giả là người Quảng Ngãi ựã xuất bản, nhất là các tác giả ở xa quê
Phụ lục 1
HỘI VIÊN HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
LÀ NGƯỜI QUẢNG NGÃI (ựến cuối năm 2005)
Trang 33NGHỆ THUẬT
Chương này của sách ñược trình bày thành 2 phần chính:
1 Nghệ thuật dân gian, mà ở ñây cũng ñược hiểu là nghệ thuật truyền thống,
hoặc cổ truyền, với 2 thành tố chính: nghệ thuật diễn xướng (nghệ thuật biểu diễn)
và nghệ thuật tạo hình;
2 60 năm phát triển nền nghệ thuật mới, nói về nền nghệ thuật hiện ñại, từ
Cách mạng tháng Tám ñến nay, bao gồm những thành tựu trên các loại hình diễn xướng, tạo hình (và cả nhiếp ảnh), ñội ngũ sáng tác, nghiên cứu
Trong hai phần trên, những người biên soạn có chú trọng ñến loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian của các cộng ñồng các dân tộc trong tỉnh Quảng Ngãi,
vì ñây là kho tàng hết sức ña dạng, phong phú và chứa ñựng nhiều giá trị, ñặc biệt
là nghệ thuật diễn xướng dân gian của người Việt
I NGHỆ THUẬT DÂN GIAN
1 NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG
1.1 NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT
Các loại hình dân ca
Trong suốt nhiều thế kỷ ñịnh cư trên vùng ñất Quảng Ngãi, người Việt ở vùng ñất này ñã dùng nhiều loại hình dân ca ñể bày tỏ tình cảm, thái ñộ của mình trước thiên nhiên, trước sự ñổi thay của lịch sử và ñời sống xã hội, ñể tỏ tình, ñể ru con,
ñể nói về tình cha mẹ, nghĩa xóm giềng Căn cứ vào hình thức diễn xướng, có thể tạm chia loại hình nghệ thuật diễn xướng của người Việt ở Quảng Ngãi thành các thể loại: hò, hát, lý
* Các loại hò
Người Việt ở Quảng Ngãi có các loại hò dùng trong lao ñộng sản xuất, trong sinh hoạt cộng ñồng Nếu chia theo môi trường diễn xướng thì có thể chia làm 2
loại: hò trên cạn và hò trên sông, nước
Hò trên cạn có các thể loại: hò giã gạo, hò ñầm nền, hò ñi cấy, hò xay lúa, hò tát
nước, hò ñạp xe nước, hò giã vôi, hò ñẩy che mía Tất cả các loại hò này là những sinh hoạt văn hóa văn nghệ thường gắn liền với môi trường hoạt ñộng sinh hoạt, sản xuất trên ruộng lúa, ruộng mía, trên rẫy, trong nhà, ngoài sân, bến bãi, sân ñình Tiết tấu, giai ñiệu của từng ñiệu hò phù hợp với hoạt ñộng sinh hoạt hoặc
CHƯƠNG
XXVII
Trang 34lao ựộng sản xuất, như vòng quay của cối xay lúa, vòng quay của xe ựạp nước, nhịp chày giã gạo, nhịp chân ựầm nền, nhịp tay cấy lúa Nội dung của các loại hò này tùy thuộc vào sự "tức cảnh sinh tình" của một cá nhân hay của hai người (nếu
là ựối ựáp), hoặc của một nhóm người, không phân biệt là mỗi loại hò có mỗi nội dung riêng Có khi là những lời trêu chọc, có khi là ựể tỏ bày tình cảm, có khi là ựể quên nỗi vất vả trong lúc lao ựộng Thường một cuộc sinh hoạt theo các loại hò
có nhiều người cùng tham gia Trong ựó có một người xướng (hô), một số người
hò theo (xô, ứng), theo trình tự có xướng, có vào hò và kết hò
đó là những ựiệu hò phổ biến, giai ựiệu, tiết tấu, lời ca tùy hứng, mặc dù có nhiều bài ựã có sẵn lời (lời cũ) Tuy nhiên, cũng có ựiệu hò có tiết tấu ổn ựịnh, gọn ghẽ, giai ựiệu trong sáng, mạnh, như hò giã vôi chẳng hạn
Hò trên sông nước là loại hò thường ựược sử dụng trong sinh hoạt, lao ựộng sản
xuất trên sông, trên biển Hò trên sông nước có các loại: hò chèo thuyền, chèo ựò, hò giựt chì, hò ba lý, hò mái ba, hò mái nhì, hò mái nhặt Trong các loại hò này, có loại tiết tấu lúc khoan nhặt (nên còn gọi là hò khoan), lúc trầm lúc bổng, lúc khỏe khắn, nhanh, chắc, như hò chèo thuyền, hò chèo ựò trên các dòng sông Trà Bồng, Trà Khúc, sông Vệ ; có loại mạnh mẽ, dồn dập như hò giựt chì, hò kéo lưới, hò hụi ; có loại vui nhộn, sảng khoái, như hò ba lý, hò mái nhì, hò mái ba Trong
loại hình hò chèo ghe, nếu hò trên ựoạn sông ngắn, thì ựiệu hò ựó gọi là hò mái
ngơi, nếu là hò trên một chặng ựường sông thì gọi là hò mái dài Hò mái ngơi, do
dung lượng, thời lượng ngắn nên thường chỉ dưới hình thức hát ựối ựáp giữa nam
và nữ, và chấm dứt trong 3 lần xô Còn hò mái dài thì không hạn chế về dung lượng, thời lượng, bởi người ta hát trong một ựường sông nước dài, có khi từ miền xuôi lên miền ngược
Trong các loại hò trên sông, biển còn có một loại hò gọi là hò một cung ba cách,
có 4 làn ựiệu chắnh: hò chèo ghe, hát bội, ru con và giã gạo đây là loại hò của dân chài trên biển, do nhiều người cùng tham gia, là một hình thức hát tập thể, do một người hát chắnh và nhiều người cùng xô theo
Trang 35* Các loại hát
Người Việt ở Quảng Ngãi có nhiều loại hát khác nhau Nếu nhìn dưới góc ựộ
nội dung thể hiện thì có các loại hát: hát nhân ngãi, hát huê tình Nếu theo chức năng thì có hát ru, hát khóc (nay không còn), hát mừng tuổi (dùng trong hát sắc bùa) Nếu theo mục ựắch diễn xướng thì có hát sắc bùa, hát bả trạo Nếu theo phương thức diễn xướng thì có hát ống, hát lô tô, hát bài chòi
Tất cả các loại hát nhân ngãi, hát huê tình , chủ yếu cũng chỉ là hát ựối ựáp của
nam nữ vào những lúc rỗi rãi, hội hè, trong những ựêm trăng thanh, gió mát, ở sân ựình, bến bãi, hiên nhà, bãi mắa, nương dâu Người Việt ở Quảng Ngãi thường gọi
loại hát này là hát hố
Cũng trong loại hát ựối giao duyên còn có hát ống Hát ống là hát bằng ống Hai
người ở hai ựầu hát qua ống làm bằng ống tre hoặc bằng ống sắt (như lon sữa bò), nối hai ống là một sợi chỉ giăng Cách hát này vừa kắn ựáo, vừa dễ bày tỏ tình cảm Nội dung các bài hát ống thường là bày tỏ nỗi niềm yêu thương giữa trai và gái, chia sẻ lẫn nhau những vướng mắc trong ựời sống, ựặc biệt trong ựời sống gia ựình còn nhiều khó khăn và những bất công trong xã hội phong kiến
Hát ru là ựiệu hát của bà, của mẹ, của chị, và cả của ông, của cha dùng ựể ru
con, ru cháu Nhịp ựiệu khoan thai, lúc trầm lúc bổng, bao giờ cũng bắt ựầu bằng
từ "ầu ơ " Vắ dụ:
Ầu ơ
Ngó lên trên trời, trời cao lồng lộng
Ngó ra ngoài biển, biển rộng thinh thinh
Ngó vô trong dạ buồn tình
đêm nằm nước mắt (ầu ơ) nhỏ như bình trà nghiêng
đêm nằm nước mắt (ầu ơ) triền miên
Áo em năm vạt (à) ướt liền cả năm (à ơ)
Sơn hát (1)
Hát lô tô, còn gọi là hô lô tô, là lối hát nói, ngoài lời chúc theo kiểu nói lối còn
lại nội dung chắnh của bài hát chủ yếu bằng thể thơ 4 chữ, mà thực chất ựó là những bài vè về nhiều ựề tài khác nhau, nhằm ựể chúc tụng, ựể mời mọc mọi người tham gia các trò chơi Lời bài hát mộc mạc dễ hiểu, dễ nhớ, giai ựiệu ựơn giản, vui nhộn Hát lô tô thường ựược dùng trong lễ hội dân gian, trong hội vui xuân
Trang 36Ngoài ra, người Việt ở Quảng Ngãi còn hát vè Nôi dung của vè thường là kể lại
một câu chuyện nào ñó, ca ngợi hay phê phán về cảnh ñẹp, một sự kiện, một con người hay kể về các loài cá, về các loài chim Có kiểu vè nói xuôi, có kiểu vè nói ngược Lời vè thường trong sáng dễ hiểu, thường theo thể thơ 4 chữ, 6 chữ
Các loại hình diễn xướng tiêu biểu
Trong các loại hình diễn xướng dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi, có 3 thể loại diễn xướng tiêu biểu: hát bài chòi, hát bả trạo và hát sắc bùa
* Hát bài chòi
Hát bài chòi là một hình thức ca hát dân gian phổ biến ở vùng Nam Trung Bộ Cách ñây vài chục năm về trước, tại Quảng Ngãi, hội hát bài chòi có mặt ở hầu hết các làng xã trong tỉnh, nhất là ở các làng xã ven biển vào mỗi dịp Tết Nguyên ñán,
có khi bắt ñầu từ khoảng 20 tháng Chạp ñến hết Rằm tháng Giêng Ngày nay, ở một vài nơi cũng còn tổ chức hội bài chòi, trên 9 chòi và cả hội bài chòi chiếu, nhưng thường chỉ bắt ñầu từ 26 - 27 tháng Chạp ñến mùng 4 mùng 5 Tết
Một cỗ bài chòi có 27 cặp con (còn gọi là quân, hoặc thẻ bài), ñược chia làm 3
pho Pho Sách gồm 9 cặp có tên: Nhứt nọc, Nhì nghèo, Ba gà, Tứ xách, Ngũ dụm,
Sáu hường, Bảy thưa, Tám dậy, Cửu ñiều Pho Vạn gồm 9 cặp có tên: Nhứt trò, Nhì bí, Tam quăng, Tứ ghế, Ngũ trợt, Lục trạng, Thất vung, Bát bồng, Cửu chùa
Pho Văn gồm 9 cặp có tên: Nhứt gối, Nhì bánh, Ba bụng, Tứ tượng, Ngũ rốn, Sáu
xưởng, Bảy liễu, Tám miếu, Chín cu Ngoài ra còn có 3 cặp: Lão, Thang, Chi Lão
có Ông ầm, Thang có Thái tử, Chi có Bạch huê (2)
Một sân khấu bài chòi ñược bố trí theo dạng hình vuông, gồm có 8 chòi con và 1 chòi trung ương Người chơi ngồi trên 8 chòi con Chòi trung ương dành cho các anh hiệu (có khi vài người ñể thay nhau hát, xướng) và ban nhạc (ngũ âm) Khi anh hiệu xướng lên con bài nào thì chòi trúng con bài sẽ ñánh mõ tre báo hiệu là trúng con bài ñó, và anh chạy hiệu sẽ cắm cờ vào ống tre giắt bên chòi của người chơi Kết thúc một lần chơi là lúc có một chòi trúng cả 3 con bài, và anh hiệu sẽ ñánh một hồi trống báo hiệu chấm dứt, các chòi con sẽ ñánh một hồi mõ chúc mừng Nội dung các bài hát (hô thai) thường là dễ thuộc, dễ nhớ, hóm hỉnh, theo thể thơ lục bát, lục bát biến thể, hoặc thơ 4 chữ Nhiều bài hát có nội dung hết sức sâu sắc, ñề cao lối sống tốt ñẹp, phê phán các thói hư tật xấu trong xã hội, nhưng cũng
có bài hát chỉ nhằm ñể ñố vui, mặc sức người nghe, người chơi tưởng tượng, như
các bài hát về con Bạch huê, hoặc Nhứt nọc
Giai ñiệu của bài chòi thường theo lối hát thông thường, như nói thơ, nói vè, và cũng có lúc vận dụng cả các ñiệu xuân nữ, xàng xê, hò Quảng Nói chung, bài chòi là một hình thức diễn xướng dân gian mang tính tổng hợp, như hát, hô, nói, khua trống, mõ, nhạc ñệm, diễn trò
Trang 37Bài chòi chiếu cũng có nội dung và bài bản tương tự như bài chòi trên 9 chòi, nhưng ựơn giản hơn, người chơi chỉ ngồi trên chiếu
Nhờ những yếu tố tắch cực của hình thức diễn xướng này mà bài chòi bước lên sân khấu chuyên nghiệp lẫn không chuyên nghiệp, từ ựộc tấu, song tấu ựến ca kịch,
từ những bài ca ựơn lẻ ựến vở diễn dài hơi Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những bài thơ nôm na ựược sáng tác cho lối hát bài chòi, ựã thực sự lôi cuốn ựông ựảo quần chúng nhân dân, và góp phần tuyên truyền ựường lối chủ trương của đảng, của Cách mạng Chắnh bài chòi ựã làm nên những tên tuổi các nghệ sĩ là người Quảng Ngãi: Lệ Thi, Hữu Ích, Bắch Liên, Nguyễn Văn Khánh
* Hát bả trạo
Hát bả trạo còn gọi là chèo bả trạo, có nơi gọi là chèo bá trạo, là một hình thức diễn xướng dân ca nghi lễ, diễn ra vào mỗi dịp tế Cá Ông, hoặc khi Cá Ông lụy, là một bộ phận của nghi lễ thờ cúng Cá Ông của các vạn chài ven biển Quảng Ngãi đội chèo bả trạo thường có 15 - 17 người, trong ựó có một Tổng lái, một Tổng thương, một Tổng mũi, và còn lại là các con trạo Một chương trình hát bả trạo diễn ra trong thời lượng 90 ựến 120 phút ngay tại sân lăng thờ Cá Ông hoặc ngoài bãi biển Nội dung chắnh một bài bả trạo theo trình tự: phần ựầu kể về chuyện ngư dân ựi làm biển, rồi bị sóng to gió lớn; khi thuyền sắp ựắm, ựức Ngư Ông xuất hiện
và ra tay cứu giúp, ựưa thuyền về nơi an toàn; phần tiếp theo là hát múa kể về công ựức Cá Ông, suy tôn Ông; phần cuối là hát các bài vè, bài lý giúp vui
Người giữ vai trò lĩnh xướng một cuộc hát bả trạo là Tổng mũi, có sự giúp sức của Tổng thương và Tổng lái Các con chèo xô theo từng ựoạn và múa các ựộng
tác như ựang chèo thuyền (nên còn gọi là chèo cạn) Giai ựiệu các bài bả trạo
thường ựược sử dụng là nói lối, hò chèo thuyền, hò kéo lưới, hò kéo neo, hò giựt chì, hò mái ngơi, nam xuân, nam ai , và các bài lý, như lý tang tắt, lý vãi chài Nhờ sự tắch hợp nhiều giai ựiệu, làn ựiệu, có nói lối, có hát, có múa, có diễn, có sênh, trống và dàn nhạc phụ ựệm phụ họa, và có thể xem, hát bả trạo là một loại hình diễn xướng mang tắnh tổng hợp (như hát sắc bùa, hát bài chòi)
Hiện nay, nhiều làng, vạn ven biển Quảng Ngãi, hàng năm vào dịp tế Cá Ông còn tổ chức hát bả trạo, như vạn đông Yên (Bình Dương, huyện Bình Sơn), vạn
Cù Lao - Mỹ Tân (Bình Chánh, huyện Bình Sơn), vạn Tuyết Diêm (Bình Thuận, huyện Bình Sơn) Cách ựây vài năm, vạn Thạch Bi (Phổ Thạnh, huyện đức Phổ) cũng tổ chức lại ựội bả trạo ựể diễn trong lễ tế tại lăng Ông, và nghĩa tự của vạn vào lệ tế xuân và lệ tế thu
Trang 38vì nhiều lý do khác nhau, tục hát sắc bùa chỉ còn ở xã ðức Phong (huyện Mộ ðức), các xã Phổ An, Phổ Cường, Phổ Khánh, Phổ Thạnh (huyện ðức Phổ), mà trong ñó tiêu biểu nhất là ở Phổ An
Thời gian ñội bùa lưu diễn thường bắt ñầu từ ñêm trừ tịch ñến hết tháng Giêng, không chỉ trong một làng, xã mà còn ñi diễn ở nhiều nơi, ñặc biệt là ở những làng,
xã dọc ven biển Quảng Ngãi, có khi ñi tận Bình ðịnh hoặc Quảng Nam Chính tính chất lưu diễn này mà hát sắc bùa ñược xem là một hình thức diễn xướng mang tính bán chuyên nghiệp
Biên chế một ñội sắc bùa (còn gọi là phường bùa, ñội bùa) thường có 11 người,
trong ñó có một ông cái kiêm chơi trống tầm vinh (còn gọi là tùng dinh, là một
dạng trống cơm), một ông phụ cái, một ông chơi ñàn cò, một ông chơi kèn tiểu, một ông chơi phách, và 6 nữ làm quân xô Quân xô thường chỉ từ 12 - 16 tuổi Một chương trình biểu diễn hát sắc bùa ở dạng tương ñối ñầy ñủ, gồm có:
Phần thủ tục ban ñầu mang tính nghi lễ - phong tục, gồm hát các bài: Mở ngõ,
Bước vào khỏi ngõ, Vào sân, Tạ miếu Thổ thần, Mở cửa, Lễ tạ ông bà, Bộc trúc,
Tổ trống, Tổ ñôi sinh, Tạ trang ông Táo, Trang Tiên sư, Trang thờ Quan công , Phạt mộc, Trấn bùa
Phần chúc nghề và múa hát giúp vui, gồm các tiết mục: chúc nghề (nghề nông, nghề làm biển, nghề chăn tằm, nghề làm thuốc, nghề ñi buôn, nghề thợ mộc ; múa
hát theo các bài lý, vè (Lý huê là, Lý vẽ rồng, Lý hoa thơm, Lý vọng phu, Vè cá
biển, Vè hoa lá cỏ cây )
Phần kết có Múa hát Trấn ngũ phương, Múa trình lục cúng, Chúc gia chủ, Hát
ñi ra
Nội dung chính của hát sắc bùa là chúc mừng năm mới cho gia chủ (trong gia ñình mời ñội bùa ñến biểu diễn), làm các thủ tục xua quỷ, trừ tà, tống cựu, nghinh tân, hát múa mừng năm mới Về nghệ thuật, hát sắc bùa là một hình thức diễn xướng mang tính tổng hợp: hát, múa, diễn trò, nhạc ñệm , hết sức phong phú về làn ñiệu, lời ca, trong ñó có nhiều giai ñiệu phổ biến của dân ca miền Nam Trung
Bộ, dân ca Quảng Ngãi
Hiện nay, ở Quảng Ngãi có một số ñội hát sắc bùa, nhưng tiêu biểu nhất là ñội sắc bùa Phổ An (huyện ðức Phổ) Có nghệ nhân thuộc hơn 50 làn ñiệu hát sắc bùa khác nhau, ñó là nghệ nhân dân gian Lê Công Lịch
*Các loại nhạc cụ
Nhạc cụ của người Việt ở Quảng Ngãi khá ña dạng về chủng loại, như ñàn cò (nhị), trống cơm (phạn cổ), kèn tiểu (tiểu quân), ñàn bầu (ñộc huyền cầm), ñàn tranh (ñàn thập lục), trống tiểu, sênh, phách, sinh tiền, chập chõa, bồng bồng Các
Trang 39loại nhạc cụ này được sử dụng trong các mơi trường diễn xướng khác nhau, như hát bài chịi, hát sắc bùa, hát bả trạo, hát đám tang
Những giai điệu thường được sử dụng là Kim tiền, Bình bản, Xàng xê, Xuân nữ, Nam ai
1.2 NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI HRÊ
* Các loại hình dân ca
Các loại hình dân ca chính của người Hrê ở Quảng Ngãi bao gồm: ta lêu (ca
lêu), ca choi (ca chơi), ta jeo, vađhơ con
Dân ca Hrê cĩ giai điệu trong sáng, tình cảm và thang âm phong phú, nên nhiều nhạc sĩ đã mượn làn điệu từ dân ca Hrê để phát triển thành những ca khúc nổi
tiếng, như: Phan Huỳnh ðiểu với Bĩng cây kơnia (thơ Ngọc Anh), Nhật Lai với
Thương anh cán bộ, Cánh chim pơngkle, Hái rau tặng anh bộ đội, Phan Quý với Chiều sơng Rhe (thơ Nguyễn Ngọc Trạch) (3)
* Ta lêu
Ta lêu (ở huyện Sơn Hà, và những vùng dưới của huyện Sơn Tây gọi là ca lêu),
là điệu hát kể, cĩ tính chất tự sự Người Hrê thường dùng ta lêu để hát kể cho con
cháu nghe bên bếp lửa nhà sàn, trên rẫy vào mùa chờ thu hoạch Cĩ hai dịng ta lêu
là ta lêu cổ và ta lêu mới
Ta lêu cổ, là loại ta lêu cĩ hệ thống bài bản vốn được truyền từ đời này sang đời
khác Loại ta lêu này cĩ các đề tài như: kể về các lồi vật, cây cối; kể về các anh
hùng huyền thoại của cộng đồng tộc người, về các vị thần linh, về những con
người tài trí, dũng cảm ðây là loại ta lêu cĩ cốt truyện nên khi hát kể ta lêu, người Hrê gọi là cà eng, vì cĩ những bài ta lêu được các nghệ nhân Hrê hát suốt cả
đêm Trong các truyện cổ dân gian của người Hrê thường cĩ những đoạn xen bằng
văn vần, đĩ chính là những khúc ta lêu cổ
Ta lêu mới, là loại ta lêu mới được sáng tác trong giai đoạn chống Pháp, chống
Mỹ và cả sau ngày hịa bình, thống nhất đất nước Nội dung chính của loại ta lêu
này là ca ngợi ðảng, Bác Hồ, bộ đội; tình đồn kết Kinh - Thượng, mối tình gắn bĩ giữa quân và dân; ca ngợi cuộc sống mới, về tinh thần hăng say lao động, sản xuất và đặc biệt là về tình yêu đơi lứa
* Ca choi
Ca choi (cĩ nơi gọi là ca chơi) là một loại hát đối đáp Ca cĩ nghĩa là ca hát,
choi (hay chơi) cĩ nghĩa là đối lại Giai điệu của ca choi trong sáng, đơn giản, nhưng rất mượt mà, tình cảm Nội dung của ca choi thể hiện nhiều đề tài khác
Trang 40nhau: chuyện yêu ựương, chuyện gia ựình, chuyện xã hội, mừng quê hương, ựất
nước Người Hrê còn dùng ca choi ựể hát ựố lẫn nhau
Ngoài chức năng dùng ựể ựối ựáp, người Hrê còn dùng chắnh giai ựiệu trong
sáng, tình cảm của ca choi ựể có thể hát những bài hát mang tắnh chất giãi bày
những nỗi niềm riêng tư, như nói về nỗi khổ nhọc, nghèo túng, mồ côi Những
người lớn tuổi thường sử dụng loại ca choi này
* điệu ta jeo
điệu ta jeo là ựiệu hát cúng thần linh Người Hrê cũng như các dân tộc miền núi
Quảng Ngãi vốn theo tắn ngưỡng ựa thần, gồm các thiên thần, nhiên thần để khấn
mời các vị thần linh, thầy cúng phải thuộc lòng các bài ta jeo khác nhau, tùy thuộc
vào vị thần nào ựược khấn mời mà thầy cúng dùng bài hát cúng có nội dung phù hợp với vị thần ựó Giai ựiệu, tiết tấu cũng thay ựổi trong từng ựoạn hát cúng Có các bài hát cúng như cúng thần gió, cúng thần sông, cúng thần suối, cúng ông bà,
tổ tiên, cúng gọi hồn
* Vaựhô con
Vaựhô con có nghĩa là hát ru con Cũng như nhiều tộc người khác, hát ru của
người Hrê dùng ựể ru con, ru cháu Người Hrê có thể hát ru con ngay cả lúc ựịu con lên nương rẫy Nội dung chắnh của các bài hát ru của người Hrê là chủ yếu là mong con ngủ ựể cha mẹ ựi làm ruộng làm rẫy, ựể ựi bẫy con thú, ựể vào rừng hái rau, hái củi và mong con lớn lên khỏe mạnh, thành người, biết bẫy thú, bẫy chim, biết làm ruộng, làm nương
Là một loại ựàn phổ biến của nhiều dân tộc ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên,
với các tên gọi hơi khác biệt chút ắt, như brook, bro, vrook đàn brook có bầu ựàn
bằng trái bầu phơi khô, ựược khoét ruột; cần ựàn là một ống lồ ô hoặc ống nứa dài khoảng 60 - 70cm, có ựường kắnh khoảng 3 - 4cm; các phắm ựàn là những thẻ gỗ
cây gạo hoặc bằng cật mây; có 2 dây, gồm một dây chồng (kxi klô) và một dây vợ (kxi kri) đàn brook dành cho nam giới, dùng ựể chơi các giai ựiệu mang tắnh tự sự,