1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách địa phương tại tỉnh quảng ngãi (tt)

12 257 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 553,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là chi NSNN và công tác quản lý chi NSĐP Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý chi NSĐP tại tỉnh Quảng Ngãi trong giai đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới kinh tế của đất nước

công tác quản lý NSNN đã có những đổi mới căn bản và từng bước hoàn

thiện góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, giải quyết được

những vấn đề bức thiết về KT-XH Tuy nhiên, trong quá trình thực thi thì

vẫn còn tình trạng hiệu quả sử dụng của NSNN thấp, thất thoát, lãng phí vẫn

phổ biến Vì vậy, tăng cường công tác quản lý chi NSNN là một nhiệm vụ

bức xúc của Đảng và Nhà nước ta, nhằm nâng cao hiệu quả của NSNN,

đồng thời tạo niềm tin của nhân dân trong công cuộc đổi mới đất nước

Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc Nam Trung bộ, KTXH còn nhiều khó

khăn, nhu cầu chi cho đầu tư để phát triển rất bức xúc và ngày càng lớn,

trong khi nguồn thu ngân sách còn hạn hẹp, vì vậy việc tiết kiệm, nâng cao

hiệu quả quản lý chi NSNN là một giải pháp cấp thiết đáp ứng cho yêu cầu

phát triển

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài

“Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách địa phương tại tỉnh Quảng

Ngãi”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về ngân sách nhà nước, công tác quản lý

chi NSNN và thực trạng về chi NSĐP tại tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề xuất

các giải pháp và kiến nghị với các cơ quan chức năng nhằm hoàn thiện công

tác quản lý chi NSĐP

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là chi NSNN và công tác quản lý chi NSĐP

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý chi NSĐP tại tỉnh

Quảng Ngãi trong giai đoạn 2006-2008, trong đó tập trung vào việc quản lý

chi NSĐP của các cơ quan chấp hành như UBND, KBNN, Tài chính các cấp

ở địa phương và đơn vị dự toán các cấp của NSĐP

4 Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, thống

kê, tổng hợp số liệu so sánh trong các phần trình bày về lý luận cũng như về thực tiễn để đánh giá các nhận định Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN tại địa phương

5 Những đóng góp của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu và hệ thống hóa lý luận cơ bản chi ngân sách nhà nước, luận văn khẳng định yêu cầu hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước là một tất yếu khách quan

Luận văn đi sâu nghiên cứu các nội dung chi và quản lý chi ngân sách địa phương tại tỉnh Quảng Ngãi, đánh giá thực trạng rút ra những ưu, nhược điểm trong quản lý chi NSĐP từ khâu lập, chấp hành và quyết toán chi NSNN, từ đó đưa ra các kiến nghị và đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thất thoát ngân sách nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước

6 Kết cấu của đề tài Ngoài phần “Mở đầu” và “Kết luận”, Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về chi ngân sách và quản lý chi NSNN

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi NSĐP tại tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSĐP tại tỉnh Quảng Ngãi

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1 Khái quát ngân sách nhà nước

Trang 2

Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, gắn liền

với sự ra đời của Nhà nước và nền kinh tế hàng hoá tiền tệ Nhà nước sử

dụng quyền lực của mình tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội

dưới hình thức tiền tệ như thuế bằng tiền, vay nợ để phục vụ cho hoạt

động của mình từ đó hình thành nền NSNN Có nhiều quan điểm và định

nghĩa khác nhau về NSNN, nhưng khái niệm đầy đủ về ngân sách nhà nước

như sau: Ngân sách nhà nước là hệ thống quan hệ kinh tế, phát sinh trong

quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng

quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước

1.1.2 Mô hình hệ thống ngân sách nhà nước và phân cấp NSNN

Hiện nay có hai mô hình phổ biến về tổ chức NSNN, đó là: Mô hình

NSNN thống nhất và duy nhất, ở mô hình này không phân chia cấp ngân

sách, ngân sách chỉ là một thực thể do Chính phủ trung ương duy nhất điều

hành; Mô hình NSNN được tổ chức thành hệ thống gồm một số cấp hợp

thành,mỗi cấp ngân sách là một bộ phận trong NSNN nói chung nhưng lại

trực thuộc một cấp chính quyền cụ thể và có tính độc lập tương đối cao

trong hệ thống, trong đó NSTW có vai trò chủ đạo

Thực chất của phân cấp ngân sách là giải quyết tất cả các mối quan hệ

kinh tế, chính trị, xã hội giữa chính quyền trung ương và các cấp chính

quyền địa phương có liên quan đến hoạt động của NSNN, nhằm nâng cao

hiệu quả hoạt động của NSNN và bộ máy chính quyền các cấp

1.2 CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của chi NSNN

Chi NSNN là việc Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm

bảo điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện chức năng của

Nhà nước và đáp ứng nhu cầu đời sống KTXH theo các nguyên tắc nhất

định

Chi NSNN có các đặc điểm: Chi NSNN là một trong những công cụ để

nhà nước thực hiện chức năng quản lý KTXH; Hầu hết các khoản chi của

NSNN đều mang tính chất không hoàn trả; Chi NSNN có quy mô lớn, phạm

vi hoạt động rộng, nội dung chi đa dạng, nên nó tác động sâu sắc mmoij mặt của đời sống của xã hội

1.2.2 Nội dung của chi ngân sách nhà nước

Có thể xem xét nội dung của chi NSNN dưới những góc độ chủ yếu sau:

Căn cứ vào mục đích sử dụng cuối cùng (theo cách này chia nội dung chi NSNN ra làm hai nhóm: chi tích lũy và chi tiêu dùng); Căn cứ vào lĩnh vực chi tiêu (chi đầu tư phát triển; chi hành chính, sự nghiệp như quản lý nhà nước, sự nghiệp kinh tế; y tế…); Căn cứ theo yếu tố và phương thức quản lý NSNN (được chia thành bốn nhóm: Nhóm chi thường xuyên, nhóm chi ĐTPT, nhóm chi trả nợ và viện trợ, nhóm chi dự trữ, là các khoản chi NSNN

để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước, quỹ dự trữ tài chính)

1.2.3 Vai trò của chi NSNN trong nền kinh tế thị trường

Chi NSNN cung cấp nguồn tài chính để đảm bảo bộ máy nhà nhà nước tồn tại, hoạt động; Đặc trung của KTTT là chạy theo lợi nhuận vì vậy NSNN cần tập trung đảm bảo nguồn lực để nhà nước thực hiện các chức năng quản

lý văn hóa xã hội như, Y tế văn hoá, giáo dục, … đảm bảo sự phát triển đúng định hướng và phục vụ các nhu cầu và lợi ích cho nhân dân, nhất là nhân dân lao động; Đồng thời Chính phủ sử dụng chi NSNN để điều hành nền kinh tế và can thiệp vào thị trường để điều tiết vĩ mô, như thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, an sinh xã hội…

1.3 QUẢN LÝ CHI NSNN 1.3.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc quản lý chi NSNN

1.3.1.1 Khái niệm: Quản lý chi NSNN là thiết lập và tổ chức thực hiện hệ

thống các phương pháp và biện pháp, tác động một cách có chủ định tới việc chi NSNN nhằm phát huy tối đa hiệu quả sử dụng kinh phí của NSNN

1.3.1.2 Đặc điểm: chi NSNN được quản lý bằng pháp luật và theo dự toán;

quản lý chi NSNNsử dụng một hệ thống tổng hợp các biện pháp, các biện pháp này tác động vào đối tượng quản lý; Hiệu quả của công tác quản lý chi

Trang 3

NSNN được xem xét trên quan điểm biện chứng, quan điểm toàn diện kết

hợp phân tích và số học

1.3.1.3 Nguyên tắc: chi NSNN phải đảm bảo yêu cầu cân đối của NS; phải

gắn với chính sách kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế trung và dài hạn;

phải đảm bảo tính minh bạch, công khai; phải cân đối hài hoà giữa ngành,

địa phương; phải gắn kết giữa chi đầu tư và chi thường xuyên; phải là động

lực tác động đòn bẩy thu hút các nguồn lực của các thành phần kinh tế

1.3.2 Nội dung quản lý chi NSNN

Hoạt động chi NSNN thông thường gồm 3 khâu: Lập dự toán, chấp

hành dự toán, quyết toán NSNN Vì vậy thực chất của quản lý chi NSNN là

quá trình tổ chức quản lý thực hiện tốt 3 khâu trên

1.3.2.1 Quản lý đối với khâu lập dự toán chi ngân sách: Khâu này có 3

công đoạn đó là lập, phân bổ và thẩm định dự toán Công tác lý chi ở khâu

lnày chủ yếu là việc các chủ thể quản lý xem xét, rà soát, thẩm định dự toán

của các đơn vị thông qua kiểm soát tuân thủ các quy định của Luật NSNN

và định mức phân bổ ngân sách, các chỉ tiêu được cấp có thẩm quyền giao:

như biên chế, số học sinh, dân số… các chế độ chính sách, tiêu chuẩn định

mức của chế độ tài chính hiện hành, việc bố trí khoản dự phòng chi, phân

bổ cho các đơn vị trực thuộc Qua đó có thể cắt giảm, điều chỉnh những nội

dung chi không phù hợp, trên nguyên tắc vừa đảm bảo phát huy hiệu quả

kinh phí NSNN vừa đảm bảo phục vụ tốt nhiệm vụ của các đơn vị

1.3.2.2 Quản lý đối với khâu chấp hành dự toán chi ngân sách: Nội dung

gồm quản lý công tác cấp phát, kế toán, kiểm soát chi NSNN

-Cấp phát kinh phí: Việc cấp phát kinh phí chỉ thực hiện khi đã có trong

dự toán NSNN được giao và tùy theo tính chất của từng nội dung chi mà cấp

phát thông qua các phương thức: Hạn mức kinh phí; Lệnh chi tiền; Ghi thu -

ghi chi; thông báo dự toán

-Đối với công tác kế toán: Đảm bảo nguyên tắc mọi khoản chi NSNN

điều được ghi chép, phản ánh kịp thời, chính xác vào sổ sách kế toán;

thường xuyên đối chiếu, theo dõi số dư để để có kế hoạch chi tiêu; Các khoản chi NSNN được bố trí trong dự toán ngân sách năm nào chỉ được thực hiện trong niên độ năm đó, trường hợp đặc biệt phải được cấp có thẩm quyền quyết định; định kỳ, các đơn vị sử dụng ngân sách tổ chức công tác kiểm kê, kế toán theo đúng chế độ kế toán và theo mục lục NSNN

-Kiểm soát chi NSNN: Tất cả các khoản chi NSNN đều phải được kiểm

tra, kiểm soát trong quá trình cấp phát, thanh toán qua KBNN KBNN chỉ thực hiện chi trả và thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước khi có đầy đủ các điều kiện: đã có trong dự toán chi Nhà nước được giao; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quan có thẩm quyền quy định; đã được cơ quan tài chính, hoặc thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người có thẩm quyền ủy quyền chuẩn chi; có đầy đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán

Nội dung kiếm soát: Kiểm soát đối chiếu các khoản chi so với dự toán ngân sách được thẩm định; Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ theo quy định đối với từng khoản chi; Kiểm tra tính tuân thủ các chế độ, tiêu chuẩn định mức chi NSNN hiện hành của các khoản chi (Đối với các khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn đinh mức thì căn cứ vào dự toán NSNN đã duyệt để kiểm soát chi) KBNN từ chối chi trả, thanh toán các khoản chi không đủ điều kiện chi

Kết thúc qua trình chấp hành dự toán chi NSNN là việc các khoản chi

đã được bố trí trong dự toán được chi trả theo các mục tiêu và nhiệm vụ đã đặt ra, đảm bảo đúng chế độ tài chính hiện hành

1.3.2.3 Quản lý đối với khâu quyết toán chi NSNN: Nội dung gồm lập, xét

duyệt, thẩm định báo cáo quyết toán và thanh tra, kiểm toán tình hình sử dụng ngân sách

-Lập, xét duyệt, thẩm định báo cáo quyết toán: Đây là việc quản lý công

tác tổ chức thực hiện khóa sổ, đối chiếu, tổng hợp lập báo cáo quyết toán Tổng hợp, xem xét, kiểm tra việc tính đúng đắn, hợp pháp của số liệu lập

Trang 4

báo cáo quyết toán, kiểm tra tính tuân thủ tiêu chuẩn, định mức chế độ tài

chính hiện hành của các khoản chi Việc xét duyệt và thẩm định quyết toán

chi NSNN được thực hiện từ dưới lên (từ các đơn vị trực tiếp chi NSNN)

đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán cấp dưới và

tổng hợp gửi cơ quan tài chính; cơ quan Tài chính thẩm định quyết toán của

đơn vị dự toán cấp I và quyết toán của ngân sách cấp dưới, tổng hợp quyết

toán ngân sách cấp mình báo cáo UBND xem xét phê chuẩn và trình HDNN

cùng cấp chuẩn y

-Thanh tra, kiểm toán tình hình sử dụng ngân sách nhà nước: Đây là

một biện pháp nhằm phòng ngừa và răng đe để đảm bảo tính tuân thủ trong

việc sử dụng NSNN và đây cũng là cơ sở để nâng cao chất lượng, tính chuẩn

xác quyết toán của các cấp ngân sách, tạo điều kiện thuận lợi cho HĐND xem

xét chuẩn y quyết toán chi của cấp ngân sách của cấp mình

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách nhà nước

Công tác quản lý chi ngân sách chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, với

mức độ khác nhau, Luận văn tập trung trình bày các nhân tố trọng tâm như:

Cơ chế quản lý tài chính sẽ tạo hành lang pháp lý và là công cụ điều phối các

nguồn lực…, Trình độ của cán bộ quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến việc đề ra

biện pháp quản lý; Sự phân định trách nhiệm giữa các cơ quan trong quản lý

chi NSNN; Ý thức chấp hành của các đối tượng; Sự phối hợp trong các cơ

quan của hệ thống tài chính trong việc thực hiện quản lý chi NSNN và sự

phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc chỉ đạo, thực hiện và tham gia

quản lý NSNN Qua đó ta thấy được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố để

có thể chọn giải pháp thích hợp với từng đơn vị để đạt mục tiêu

Chương II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI

NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ NSĐP TỈNH QUẢNG NGÃI 2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội

2.1.2 Lợi thế và khó khăn chủ yếu tác động đến phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ngãi

2.1.2.1 Lợi thế: Ở trung điểm của đất nước, có khu kinh tế Dung Quất, có

các Cảng nước sâu và Nhà máy Lọc dầu, đây là nhà máy lọc dầu đầu tiên của đất nước nên có lợi thế trong việc thu hút các nhà máy chế bến các sản phẩm sau dầu và phát triển công nghiệp nặng., thuận lợi trong việc xuất nhập, khẩu

2.1.2.2 Khó khăn: Có 6 huyện miền núi nằm trong diện các huyện nghèo

nhất nước, trình độ dân trí thấp, địa hình rất phức tạp, dân cư không tập trung Xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, thường xuyên bị lũ lụt, nguồn nhân lực còn thiếu và yếu chưa đáp được cho yêu cầu phát triển trong giai

đoạn hiện nay

2.1.3 Tình hình thu ngân sách trên địa bàn và chi NSĐP

2.1.3.1 Thu ngân sách trên địa bàn:Tổng thu cân đối NSNN trên địa bàn

năm 2006 là 1.055,394 tỷ đồng, năm 2007 là 1.305,378 tỷ đồng và năm

2008 là 1.562,296 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm trên 20%

2.1.3.2 Chi ngân sách địa phương

Trên cơ sở nguồn thu trên địa bàn, trợ cấp của NSTW và các nguồn lực khác, tỉnh đã bố trí chi NSĐP năm 2006 là 2.452,113 tỷ đồng, năm 2007 là 2.919,695 tỷ đồng và năm 2008 là 3.674,648 tỷ đồng, cơ cấu chi NSNN chuyển dịch theo hướng tăng chi cho ĐTPT và an sinh xã hội

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSĐP 2.2.1 Tổ chức quản lý ngân sách tỉnh Quảng Ngãi

Tổ chức quản lý NSĐP tỉnh Quảng Ngãi gồm có NS tỉnh, NS các đơn vị

dự toán cấp I của NS tỉnh, NS của các đơn vị dự toán trực thuộc; NS các huyện, NS các đơn vị dự toán cấp I của NS huyện, NS của các đơn vị dự toán trực thuộc; NS các xã thị trấn

Trang 5

2.2.2 Về phân cấp quản lý chi ngân sách nhà nước

Địa phương đã ban hành quyết định phân cấp nhiệm vụ chi cho các cấp

ngân sách theo hướng phân cấp mạnh cho cấp dưới nên đã tạo sử chủ động

trong việc điều hành NS để thực hiện nhiệm vụ của các cấp chính quyền

2.2.3 Về thực trạng quản lý chi NSĐP tại tỉnh Quảng Ngãi

2.2.3.1 Quản lý chi ngân sách nhà nước trong khâu lập dự toán

Công tác quản lý trong khâu lập dự toán chi NS (gồm hướng dẫn, phân

bổ và giao, thẩm định dự toán) đã đạt những thành quả nhất định nên đã tạo

sự chủ động trong việc điều hành và phục vụ nhiệm vụ cho các đơn vị Tuy

nhiên chất lượng công tác quản lý lập dự toán chi chưa cao nên hàng năm

phải điều chỉnh, bổ sung dự toán để thực hiện nhiệm vụ

2.2.3.2 Quản lý chấp hành dự toán chi NSĐP tại tỉnh Quảng ngãi

Đây là quá trình tự kiểm tra quản lý tại đơn vị dự toán, kiểm tra kiểm

soát của cơ quan tài chính và KBNN, trong quản lý chi tiêu vẫn còn tình

trạng giải ngân chậm, chuyển nguồn hàng năm quá cao, công tác kiểm soát

của BNNN còn dàn trải không có trọng tâm nên hiệu quả quản lý chưa cao,

công tác giao quyền tự chủ không đồng bộ và việc huy động các thành phần

kinh tế đầu tư phát triển dịch vụ công rất kém, nên tạo áp lực cho NS rất lớn

Còn buông lỏng quản lý và kiểm soát các khoản ghi thu, ghi chi ngân sách

2.2.3.3 Quản lý quyết toán chi NSĐP tại tỉnh Quảng Ngãi

Gồm công tác khóa sổ, lập báo cáo quyết toán, xét duyệt, thẩm tra,

thanh tra, kiểm toán, trong thời gian qua địa phương đã tổ chức thực hiện

dần đi vào nề nếp, tuy nhiên vẫn còn tình trạng báo cáo quyết toán thiếu

thuyết minh, công tác xét duyệt và thẩm định quyết toán của cơ quan chủ

quản và tài chính không đầy đủ, không kịp thời, quyết toán ngân sách địa

phương dựa trên số liệu cấp phát, không dựa vào số liệu thẩm định quyết

toán nên chất lượng báo cáo quyết toán chi ngân sách địa phương chưa cao,

chưa chuẩn xác Công tác quyết toán dự án hoàn thành chưa được chú trọng

2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSĐP TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

Luận văn đã nêu được thực trạng, viện dẫn các số liệu, qua đó phân tích, đánh giá công tác quản lý chi NSĐP của tỉnh Quảng Ngãi như sau:

2.3.1 Kết quả đạt được trong công tác quản lý chi ngân sách:

Công tác quản lý chi ngân sách ở các khâu lập, chấp hành và quyết toán NSNN trong thời gian vừa qua tại các cấp ngân sách của tỉnh Quảng Ngãi đã

có những thành tựu nhất định, từng bước nâng dần ý thức tuân thủ các quy định về quản lý tài chính trong việc sử dụng kinh phí NSNN, đảm bảo công khai, dân chủ và minh bạch, tạo điều kiện cho việc điều hành ngân sách có hiệu quả nên từng bước đảm bảo phục vụ nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế, giải quyết lao đồng việc làm phục vụ cho phát triển KT-XH của địa phương

2.3.2 Những hạn chế trong công tác quản lý chi ngân sách nhà nước

2.3.2.1 Trong cơ cấu chi ngân sách

Cơ cấu chi NSNN cho XDCB trong tổng chi NSĐP hàng năm đều tăng

và chiếm tỷ lệ cao là không phù hợp (năm 2006 chiếm 40%, năm 2007 chiếm 44,3%, năm, 2008 chiếm 50,7%) dẫn đến chi thường xuyên nhất là

duy tu, bảo dưỡng và chi cho các hoạt động sự nghiệp

2.3.2.2 Trong công tác lập và phân bổ dự toán chi NSNN

-Việc xây dựng dự toán hàng năm của các đơn vị chưa kịp thời, chất lượng chưa cao, chỉ chú trong đến kiểm soát đầu vào mà chưa chú trọng đến đầu ra và hiệu quả Việc phân bổ dự toán của cơ quan Tài chính các cấp cho các đơn vị vẫn phần nào còn mang tính cảm tính ấn định và bình quân, nên

hàng năm phải bổ sung dự toán (năm 2006 là45.771triệu đồng, năm 2007 là 43.350 triệu đồng, năm 2008 là 36.807 triệu đồng)

-Tiêu chí “biên chế” là một trong những tiêu chí chính để phân bổ kinh phí cho sự nghiệp giáo dục và y tế, nên các đơn vị đều muốn tăng biên chế

để được tăng kinh phí, khi nhà nước có chính sách mới thay đổi về định mức

Trang 6

giáo viên và định mức về Y bác sĩ thì biên chế tăng đột biến nhưng ngân

sách thì năm trong thời kỳ ổn định nên không có nguồn để bố trí

-Phân bổ dự toán chi ĐTPT cho khoa học công nghệ năm 2009 thấp

hơn dự toán của Bộ Tài chính giao là 58,898 tỷ đồng, dự phòng chi ngân

sách thấp hơn dự toán của Bộ Tài chính giao cho tỉnh là 12,99 tỷ đồng là

không đúng quy định của Luật NSNN

-Phân bổ dự toán chi cao hơn nguồn NSĐP hưởng, dẫn đến phải tạm

ứng vốn từ KBNN nhưng nguồn vốn tạm ứng này không phải bố trí để đẩy

nhanh các dự án trọng điểm mà đưa vào nguồn cân đối để chi, vì vậy rất bị

động trong việc điều hành (Năm 2006 vượt là 70 tỷ đồng, năm 2007 vượt

130 tỷ đồng, năm 2008 vượt 424,53 tỷ đồng, năm 2009 vượt 560 tỷ đồng)

-Các huyện miền núi đã được trung ương bố trí vốn thực hiện chương

trình theo Nghị quyết 30a để đầu tư, nhưng tỉnh vẫn phân bổ vốn từ NSĐP

để đầu tư (theo tiêu chí như quy định tại Quyết định 23/2007/QĐ-UBND

ngày 13/8/2007 của UBND tỉnh) là không phù hợp sẽ dẫn đến trùng lắp

hoặc không tranh thu được vốn của trung ương

2.2.2.3 Trong việc chấp hành dự toán chi ngân sách

-Các đơn vị dự toán phân bổ kinh phí cho các đơn vị trực thuộc chậm,

nên rất khó cho việc kiểm soát chi của KBNN

-Thu ngân sách trên địa bàn không đủ để cân đối chi hàng năm phải tạm

ứng vốn nhàn rỗi của KBNN nhưng số chi chuyển nguồn hàng năm quá cao

(năm 2006 là 632 tỷ đồng, năm 2007 là 639 tỷ đồng năm 2008 là 793 tỷ

đồng), điều này thể hiện sự tổ chức thực hiện, giải ngân và điều hành ngân

sách của địa phương hiệu quả chưa cao

-Việc xây dựng dự toán chi thường xuyên chưa chuẩn xác, nên hàng

năm phải bổ sung ngoài dự toán nhiều làm cho các đơn vị bị động trong việc

thực hiện nhiệm vụ và tạo ra “cơ chế xin, cho” dễ dẫn đến tiêu cực

-Một số định mức, tiêu chuẩn quá lạc hậu nhưng các cơ quan chưa có sự

phối hợp để kịp thời trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh

-Trong ĐTXDCB việc bố trí vốn vẫn còn dàn trải chưa được khắc phục, chất lượng của công tác thẩm định kết quả đấu thầu không cao vẫn còn tình

trạng thông thầu trong đấu thầu (cụ thể trong năm 2009, Bộ Giao thông vận tải đã huỷ kết quả đấu thầu của 16 dự án địa phương làm chủ đầu tư, Bộ bố trí vốn /trong tổng số 32 dự án vi phạm trong cả nước);cơ chế thanh toán

vốn đầu tư chưa được cụ thể hóa để phù hợp với tình hình của địa phương; công tác giám sát, đánh giá đầu tư quan tâm chưa đúng mức; chất lượng công tác tư vấn thiết kế còn yếu Vì vậy dẫn đến hiệu quả nguồn vốn đầu tư chưa cao

-Chưa có tiêu chí, thước đo kết quả hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị được giao quyền tự chủ tài chính, nên chưa đánh giá chính xác hiệu quả sử dụng kinh phí của NSNN Việc triển khai thực hiện Nghị định 43/NĐ-CP cho các đơn vị chưa toàn diện việc giao quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, biên chế, tổ chức bộ máy chưa triệt để

-Việc thực hiện xã hội hoá trong các lĩnh vực văn hoá, thể dục thể thao, giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế và môi trường triển khai chậm, vì vậy áp lực

về kinh phí hoạt động sự nghiệp đè nặng lên NSNN

-Bộ máy quản lý ngân sách xã trong thời gian vừa qua tuy đã tập trung đạo tạo nhưng đến nay vẫn thiếu và yếu

-Việc kiểm soát chi của KBNN đã đạt được kết quả khả quan nhưng đối với các đơn vị được giao quyền tự chủ tài chính còn nặng tính thủ tục và hình thức, kiểm soát chi ở hầu hết các nội dung chi, quyền hạn thực sự của người chuẩn chi trong việc quyết định chi tiêu để thực hiện nhiệm vụ chưa thật sự “tự chủ”

2.2.2.4 Về quyết toán chi ngân sách nhà nước

-Các đơn vị dự toán của các cấp ngân sách lập báo cáo quyết toán chất lượng còn thấp Việc tổ chức thẩm tra quyết toán của các đơn vị dự toán cấp

I cho các đơn vị trực thuộc và cơ quan tài chính cho các đơn vị dự toán cấp

I, không đầy đủ, không kịp thời, chất lượng chưa cao

Trang 7

-Nguồn thu đơn vị được để lại chi và sau đó ghi thu, ghi chi vào NSNN

(như phí, lệ phí, viện phí, học phí…) hàng năm rất lớn (năm 2006 là

164.978 triệu đồng; năm 2007 là 149.937 triệu đồng, năm 2008 là 253.546

triệu đồng) nhưng cơ quan tài chính không thẩm định quyết toán trước khi

tổng hợp vào báo cáo quyết toán NSĐP làm cho chất lượng quyết toán

không cao

-Việc quyết toán dự án hoàn thành trong một thời gian dài chưa được

chú trọng, cụ thể

CHỈ

TIÊU

Năm

2006

Năm

2007

Năm

2008

1-D.A đã lập QT nhưng chưa thẩm tra

2-D.A đã hoàn thành nhưng chưa lập QT

-Tổng mức kinh phí (triệu đồng) (k.t dõi) (k theo dõi) 1.019.703

2.4 NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ TRÊN

-Cơ chế chính sách trong lĩnh vực quản lý tài chính về chi tiêu ngân sách

còn chưa đồng bộ, chưa đầy đủ, còn lạc hậu

-Thời gian các đơn vị sử dụng ngân sách lập từ khi được phân bổ, lập dự

toán để gửi cho các cơ quan chức năng thẩm định quá ngắn Công tác phân

tích và dự báo chưa được chú trọng,KT-XH của địa phương trong thời gian

qua bíên động khó lường, giá cả không ổn định

-Cơ sở vật chất sử dụng cho công tác tổ chức dự báo và lập dự toán chưa

được quan tâm thích đáng, cơ sở dữ liệu rất hạn chế

-Trách nhiệm của kế toán, của người chuẩn chi chưa được đề cao, và

chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý tài

chính tại các đơn vị còn yếu, nhất là đội ngũ cán bộ cấp xã ở các huyện miền núi, các đơn vị dự toán cấp III

-Các thủ tục hành chính còn rườm rà, một số các quy định của chế độ kiểm soát, thanh toán vốn hiện tại đã bộc lộ những hạn chế làm giảm hiệu quả và khả năng kiểm soát của KBNN

-Công tác phối kết hợp giữa cơ quan Tài chính, KBNN, các đơn vị sử dụng NSNN, các đơn vị chưa thực sự chấp hành tốt; Công tác quản lý điều hành ở đơn vị sử dụng ngân sách và cơ quan tài chính cũng như sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân các cấp chưa được đồng bộ và hiệu quả chưa cao

Chương III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSĐP TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẾN NĂM 2020

3.1.1 Các mục tiêu phát triển

3.1.1.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu phát triển KTXH của tỉnh Quảng Ngãi là phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, hiệu quả, bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, tạo nền tảng để trở thành tỉnh công nghiệp - dịch vụ vào năm 2020, đưa Quảng Ngãi lên vị trí cao về phát triển trong số các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

3.1.1.2 Mục tiêu cụ thể

a Mục tiêu phát triển kinh tế

Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân 14% giai đoạn 2011-2015; và khoảng 12-13%/năm giai đoạn 2016-2020 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đạt khoảng 85 - 90% vào năm 2015 và trên 90% năm 2020

Trang 8

b Mục tiêu phát triển xã hội đến năm 2020

c Mục tiêu phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng

d Mục tiêu bảo vệ môi trường, phát triển bền vững

3.2 MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI

NGÂN SÁCH

Để thực hiện mục tiêu trên, tỉnh Quảng Ngãi điều hành và quản lý chi

NSĐP trên quan điểm như sau:

- Chính sách động viên tài chính hợp lý nhằm giải phóng triệt để và khơi

thông các nguồn lực trong xã hội tạo sự bình đảng trong cạnh tranh, tăng

tính hấp dẫn nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước

- Bố trí cơ cấu chi ngân sách hợp lý, đẩy mạnh việc giao quyền tự tài

chính và xã hội hoá trên các lĩnh vực Tập trung cho đầu tư phát triển nguồn

nhân lực, đầu tư kết cấu hạ tầng để phục vụ cho yêu cầu phát triển của Khu

Kinh tế Dung Quất, cho các công trình trọng điểm…

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực quản lý tài chính nhà

nước, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, tiêu cực, tham nhũng, tăng cường

công tác thanh tra, kiểm tra

3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSĐP

TỈNH QUẢNG NGÃI

3.3.1 Hoàn thiện công tác lập, phân bổ dự toán NSNN

3.3.1.1 Đối với cân đối của NSĐP

Đây là nguyên tắc đầu tiên trong quản lý NSNN cần phải tuân thủ,

nhưng trong những năm qua, dự toán chi ngân sách tỉnh Quảng Ngãi thường

cao hơn nguồn thu mà NSĐP được hưởng, nên rất bị động trong điều hành

Để khắc phục địa phương cần có giải pháp khai thác tốt nguồn thu, nhất là

tạo vốn từ quỹ đất, thu từ đấu giá quyền khai thác tài nguyên,…để rút ngắn

khoản cách thu, chi Bên cạnh đó cần rà soát và xây dựng tiêu chí để xây

dựng các danh mục ĐTXDCB theo thứ tự ưu tiên trên cơ sở đó bố trí danh

mục tương ứng với khả năng nguồn vốn Đồng thời cần tiến hành việc lập

dự toán hàng năm gắn với xây dựng khuôn khổ tài chính trung hạn để tăng tính dự báo và tính chủ động trong xây dựng kế hoạch phát triển và bố trí nguồn lực ngân sách một cách hợp lý và hiệu quả

3.3.1.2 Đối với việc lập và phân bổ dự toán chi NSNN

Tiếp tục quán triệt để nâng cao nhận thức cho các đối tượng điều hành

và chuẩn chi ngân sách; xây dựng kế hoạch trung dài hạn phù hợp với chiến lượt phát triển của ngành, địa phương để chủ động xây dựng dự toán; nâng cao tính tuân thủ về qua trình, tiêu chuẩn định mức, biểu mẫu thuyết minh trong việc lập dự toán

Thời gian để thực hiện việc phân bổ dự toán quá ngắn (tỉnh trước ngày 10/12, huyện trước 20/12, xã phân bổ trước 31/12, các đơn vị dự toán phải phân bổ cho các đơn vị trực thuộc trước 31/12) đơn vị rất bị động trong việc lập dự toán nên chất lượng không cao Để khắc phục tình trạng trên đơn vị

cần căn cứ và dự toán và tình hình thực hiện năm trước, chủ động xây dựng

dự toán chi có thứ tự ưu tiên, sau khi nhận dự toán do cấp trên giao thì chỉ rà soát điều chỉnh lại cho phù hợp với mức kinh phí được giao, như vậy thì mới đảm bảo thời gian và chất lượng dự toán

3.3.1.3 Đối với phân cấp và định mức phân bổ chi NSNN

Rà soát và điều chỉnh những định mức phân bổ không hợp lý, cụ thể: -Đối với SN giáo dục, Y tế điều chỉnh tiêu chí “biên chế” sang tiêu chí phụ, đưa tiêu chí như dân số, học sinh, giường bệnh, thành tiêu chí chính để gắn kinh phí với nhiệm vụ của đơn vị, thúc đẩy tinh giảm biên chế

-Việc đầu tư phát triển đô thị cần có một nguồn lực rất lớn, nhưng (định mức hiện tại chỉ 2 tỷ đồng/huyện/năm) là không phù hợp Để giải quyết vấn

đề này theo tác giả thì các huyện, thành phố cần xây dựng Chương trình phát triển đô thị của địa phương mình, trình tỉnh để xem xét và bổ sung có mục tiêu từ ngân sách tỉnh cho các địa phương (hoặc đưa vào là nhiệm vụ đầu tư của tỉnh) để thực hiện, thì mới khả thi

Trang 9

-Vốn ĐTPT của địa phương phân cấp và xây dựng tiêu chí phân bổ cho

tất cả các huyện trong tỉnh, nhưng từ năm 2009 các huyện miền núi được

NSTW bố trí từ kinh phí của “Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền

vững đối với 61 huyện nghèo” để đầu tư phát triển (Năm 2009, nguồn của

tỉnh và TW bố trí cho các huyện miền núi bình quân khoản 140 tỷ/huyện

còn các huyện đồng bằng bình quân chỉ 20 tỷ/huyện, thành phố) Vì vậy

theo tác giả tỉnh cần điều chỉnh Quyết định phân bổ nguồn chi ĐTPT của địa

phương theo hướng không phân bổ cho các huyện miền núi, đồng thời phân

chênh lệch này xây dựng tiêu chí cụ thể để phân bổ tiếp cho các huyện đồng

bằng Đối với vốn ĐTPT do tỉnh quản lý (sau khi đã đã phân cấp cho các

huyện 40%) cũng đề nghị không bố trí đầu tư cho công trình trên địa bàn các

huyện miền núi, tập trung cho đồng bằng và hải đảo

3.31.4 Đối với cơ cấu chi ngân sách

Trong giai đoạn 2006-2008 cơ cấu chi ĐTPT của tỉnh hàng năm đều

tăng và chiếm cơ cấu cao (năm 2006: 40%, năm: 44,3%, năm 2008:50,7%

Trong khi toàn quốc dự kiến giai đoạn 2006-2010 khoản 26,3%) Nên việc

bố trí chi thường xuyên gặp khó khăn, nguồn kinh phí sự nghiệp để duy tu

bảo dưởng tài sản hình thành sau đầu tư không đảm bảo Vì vậy, theo tác

giả, trong giai đoạn đến NSĐP nên cơ cấu lại chi đầu tư phát triển chiếm

khoản 45% trong tổng chi NSĐP, tỷ trọng này khá cao so với bình quân của

cả nước, nhưng cơ bản phù hợp với đặc thù của địa phương (vì đang tập

trung đầu tư phát triển đô thị, và hạ tầng KKT Dung Quất) Hơn nữa trong

thời gian vừa qua tình trạng đầu tư còn giàn trải, lãnh phí, thất thoát vẫn còn,

nên nếu cơ cấu chi giảm xuống mà tổ chức triển khai đầu tư có hiệu quả sẽ

đảm bảo cho yêu cầu phát triển của địa phương

3.3.1.5 Tăng cường công tác thẩm tra và chuẩn y dự toán của Hội đồng

nhân dân các cấp

Các Ban thuộc HĐND cần tăng cường chương trình giám sát hàng năm

các vấn đề liên quan đến chi và hiệu quả chi NSNN Cơ quan Tài chính gửi

tài liệu cho Ban Kinh tế ngân sách thẩm định phải đầy đủ thuyết minh, cơ sở tính toán và phải đảm bảo thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu nếu cần thì đi kiểm tra thực tế Đồng thời cần bố trí cán bộ đủ năng lực chuyên môn cho cán bộ Ban kinh tế ngân sách (hoặc Ban kinh tế xã hội), thường xuyên bồi dưỡng và cập nhật kiến thức cho đại biểu HDND các cấp

3.3.2 Hoàn thiện việc chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước

3.3.2.1 Đối với chi thường xuyên

Tăng cường trách nhiệm cá nhân của kế toán và người chuẩn chi trong việc quản lý và điều hành kinh phí tại đơn vị dự toán; cán bộ chuyên quản của cơ quan tài chính đi sát cơ sở để theo dõi, hướng dẫn kịp thời việc sử dụng kinh phí, việc tuân thủ các quy định hiện hành

Nếu có nhiệm vụ phát sinh thì cơ quan tài chính yêu cầu đơn vị rà roát lại công việc, cắt giảm những công việc chưa thật sự cần thiết để bố trí, sau

đó mới bổ sung Điều này sẽ tiết kiệm kinh phí và tạo ý thức trách nhiệm của đơn vị khi lập dự toán đầu năm phải bao quát hết công việc

3.3.2.2 Tăng cường công tác kiểm soát chi ngân sách

- Quán triệt quan điểm việc kiểm soát chi ngân sách là trách nhiệm cả hệ thống chính trị để tập trung giám sát, chỉ đạo, điều hành

- Tập trung rà soát xây dựng đồng bộ và đầy đủ các định mức, tiêu chuẩn lạc hậu, còn thiếu để làm cơ sở cho việc kiểm soát chi

- KBNN cần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao trình độ, trách nhiệm, của đội ngủ công chức, công khai quy trình nghiệp vụ; cần phân cấp mạnh cho người chuẩn chi đối với một số khoản chi đơn giản, đơn vị chỉ lập bảng

kê gửi Kho Bạc để theo dõi Đối đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền

tự chủ theo Nghị định 43/NĐ-CP của Chính phủ theo tác giả KBNN căn cứ đặc điểm cụ thể của từng đơn vị mà quyết định kiểm soát chi đối với những nội dung chi “nhạy cảm” dễ thất thoát, cá khoản chi còn lại thì lập bảng kê người chuẩn chi ký và chịu trách nhiệm

Trang 10

- Xử lý thiếu hụt tạm: Tranh thủ ứng trước trợ cấp của trung ương, tận

dụng tối đa và có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi của NSĐP, chỉ ứng vốn nhàn

rỗi của của KBNN khi đã thực hiện các giải pháp trên; để khắc phục tình

trạng mất cân đối thu, chi địa phương cần phải có thứ tự ưu tiên và phân kỳ

cho từng dự án, từng nhiệm vụ để đảm bảo việc phát triển ổn định

3.3.2.3 Đối với chi đầu tư phát triển

-Xây dựng Kế hoạch đầu tư trung hạn (5 năm) để chủ động trong việc

thực hiện và tránh giàn trải, phù hợp với khả năng kinh phí hàng năm

-Trong bố trí vốn sắp xếp thứ tự ưu tiên như lập, rà soát, điều chỉnh và hoàn

thiện quy hoạch, cho công tác chuẩn bị đầu tư và đối ứng các dự án…

- Các cơ quan Kế hoạch và đầu tư, Tài chính, KBNN phối hợp và theo

dõi điều chỉnh, xử lý kịp thời nhằm dẩy nhanh tiến độ, giải ngân hết vốn

- Rà soát lại các tổ chức tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát thi công, gắn

trách nhiệm cá nhân của người giám sát công trình, người quyết định đầu tư,

chủ đầu về hiệu quả, chất lượng, tiến độ của dự án

- Quản lý chặc chẽ phần vốn tạm ứng để hạn chế tình trạng các đơn vị

ứng vốn nhưng thi công chậm, hoặc sử dụng không đúng mục đích

- Tăng cường công tác thẩm định kết quả đấu thầu nhằm ngăn ngừa tình

trạng thông thầu làm thất thoát tiền vốn của nhà nước

- Nâng cao hiệu quả của công tác quy hoạch, công bố và quản lý quy

hoạch để chủ động triển khai thực hiện các dự án, đồng thời thuận lợi, tiết

kiệm trong bồi thường giải phóng mặt bằng

-Hoàn thiện cơ chế tài chính về bồi thường giải phóng mặt bằng của địa

phương một cáh thoả đáng

3.3.2.4 Hoàn thiện việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về

thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với các đơn vị

sự nghiệp công lập, từng bước triển khai thí điểm phương thức quản lý

chi ngân sách theo kết quả đầu ra

- Giao đầy đủ các quyền: tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tự chủ tổ chức, bộ máy, biên chế Nâng cao chất lượng của việc xây dựng quy chế chi tiêu nội

bộ, xây dựng tiêu chế để xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các đơn

vị một cách khoa học

- Phương thức quản lý ngân sách truyền thống hiện nay không giải quyết những vấn đề then chốt các mục tiêu do nhà nước đề ra Vì vậy, theo tác giả cần thực hiện thí điểm phương thực quản lý chi ngân sách theo kết quả đầu

ra cho các lĩnh vực sau: như thực hiện việc cung cấp thuỷ lợi phí; thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải để gắng kinh phí với việc thực hiện nhiệm vụ

và tinh gọn bộ máy

3.3.3 Hoàn thiện công tác quyết toán chi NSĐP

3.3.3.1 Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp

-Hiện nay, việc xét duyệt và thẩm định cho các đơn vị không đảm bảo

về thời gian và số lượng (do khối lượng công việc nhiều, dồn vào một thời điểm), nên quyết toán chi NSĐP chưa được chuẩn xác Vì vậy, theo tác giả thì các đơn vị nên tổ chức thẩm định quyết toán quý III, cuối năm chỉ thẩm định quyết toán quý IV, thì mới đảm bảo thời gian và chất lượng

-Các khoản chi theo mục tiêu, khi hoàn thành nhiệm vụ thì quyết toán dứt điểm không chờ kết thúc năm; Đối với các khoản chi từ nguồn thu để lại thì xét duyêt, thẩm tra và ghi thu, ghi chi và NSNN hàng quý

-Tăng cường công tác kiểm toán, đảm báo trước khi quyết toán thông qua Hội đồng nhân dân tỉnh phải được kiểm toán để đảm bảo tính chính xác

và trung thực của quyết toán NSĐP

3.3.3.2 Đối với quyết toán dự án hoàn thành

Hiện nay, chủ đầu tư quyết toán chậm thì không bố trí vốn cho năm tiếp theo, nhưng giải pháp này khó khả thi vì ảnh hưởng đến phát triển ngành, địa phương Vì vậy, địa phương cần gắng trách nhiệm cá nhân vào công tác này Cụ thể, nếu công trình nào quyết toán chậm thì tạm thời đình chỉ nhiệm

vụ của Trưởng ban Quản lý dự án để tập trung cho công tác quyết toán, khi

Ngày đăng: 04/10/2017, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w