1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VẤN ĐỀ HOÀNG SA

71 282 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên gọi theo người Việt Nam Các tư liệu của Việt Nam cũng như của Phương Tây và ngay cả một số tư liệu của Trung Quốc cũng thật hết sức rõ ràng, cho biết quá trình chiếm hữu thật sư,ï ho

Trang 1

trờng đại học s phạm Hà Nội

Khoa lịch sử -˜&™ -

Trang 2

Chương 1 kh¸I qu¸t vÒ hoµng sa

1.1.1 vị trí

Vị trí địa lí của Hoàng Sa nằm vào khoảng giữa chiều Bắc Nam của Việt Nam, nó có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đất nước ta, nó như một phần cơ thể không thể thiếu trong một con người Tầm quan trọng của nó cả trong quả khứ lịch

sử, hiện tại và trong tương lai Với tầm quan trong như vậy vấn đề đảm bảo an ninh, đặc biệt là quân đội để mà giữ gìn từng tấc đất của tổ quốc được nước Công Hòa Xã Hội Việt Nam đặc biệt ưu tiên Đó là việc trích hàng năm cho ngân sách Quốc Phòng

“Khoảng 1,8%”(tương đương với khoảng 27.000 tỷ đồng)1, với vị trí địa lý chiến lược như vậy nên việc bảo vệ các đảo, quần đảo được ngày một nâng cấp

Mới đây, đầu tháng 12-2009 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến thăm nước Nga đã mua Tàu ngầm hiện đại và máy bay để trang bị cho quốc phòng Việt Nam Các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát biểu “ta có đủ khả năng để bảo vệ đất nước”…Trong số các đảo, quần đảo trên Biển Đông có hệ thống quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lớn nhất nhưng lại nằm rải rác Có những chỗ quy tụ lại những nhóm đảo nhỏ

1 Nước CHXHCN Việt Nam Bộ Quốc Phòng Quốc Phòng Việt Nam (sách Trắng) Hà Nội 12-2009.

Trang 3

Tên gọi Hoàng sa có nhiều tên gọi khác nhau, có sự khác nhau này là do người gọi đặt tên theo phương diện và và vị trí nào mà thôi, nhưng nó thường được gọi theo người Việt là chủ yếu, ngoài ra nó được gọi theo tên Tiếng Anh hay dịch ra tiếng anh Nó cũng được gọi theo tên các thứ tiếng khác là tiếng Trung, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp và cả theo tên Hán việt…

Nước Việt Nam với toàn bộ lãnh thổ vùng đất, vùng trời, biển và hải đảo như ngày nay là cả một quá trình dài đấu tranh gian khổ, khai hoang lấn biển chinh phục tự nhiên, đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc của ông cha ta

Việt Nam có diện tích khoảng 331.212 km², với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền; có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km² mặt biển

Tuy là một đất nước không lớn lắm trên Thế giới, nhưng cũng không phải

là nước nhỏ, nước ta thuộc vào nước có diện tích trung bình trên Thế giới Một điểm độc đáo là tuy là một nước như vậy nhưng nước ta trải dài theo chiều Bắc-Nam nên nước ta có đường bờ biển khá dài khoảng 2600km Do đó mà theo luật biển quốc tế thì chủ quyền về diện tích mặt biển rất lớn, đó là nguồn lợi rất to lớn của đất nước ta để từ đó ta có thể thu từ đây rất nhiều nguồn lợi: Dầu mỏ, khoáng sản, đánh bắt cá, hàng hải…mà nhiều nước khác không có được, hoặc

do không có biển mà không có đặc trưng trên

Đảng và nhà nước ta rất chú trọng đến tầm quan trọng của biển đảo cả về mặt kinh tế cũng như chính trị và an ninh quốc gia Nhưng vấn đề hoạch định phân giới trên biển như thế nào là một trong những vấn đề rất phức tạp, các nước Đông Nam Á Hải đảo và cả các nước Đông Á vì món lợi khổng lồ này mà cũng muốn tranh chấp chia sẻ quyền lợi một cách thiếu hợp pháp thiếu khách quan, do vậy đây

là một vấn đề nóng bỏng việc tranh chấp xung đột vẫn thường xuyên xảy ra làm cho các nhà lãnh đạo, các cơ quan có chủ quyền không ít đau đâu

Trang 4

Nằm cạnh một nước lớn, với âm mưu và chủ nghĩa bành trướng “Đại Hán”, Trung Quốc luơn cĩ tham vọng mở rộng lãnh thổ xuống phía nam (Đơng Nam Á), những mấy nghìn năm nay tham vọng đĩ đã bị dập tắt và chặn đứng tại Việt Nam Đĩ là những chiến cơng oanh liệt mà ơng cha ta đã làm nên một trang

sử sáng ngời về chống: Nguyên-Mơng, Chống Minh-Thanh…đã ghi vào lịch sử nước nhà những trang sử hào hùng nhất Nghệ thuật quân sự được vun đắp thêm

về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lịng yêu nước

Như vậy, Hồng sa cĩ tầm quan trọng rất to lớn với nước ta, là cửa ngõ

nhìn ra Biển Đơng và Thái Bình Dương là con dường quan trọng thứ ba mà ta

cĩ thể lưu thơng với Thế giới và bên ngồi sau đường bộ và đường hàng khơng Nhung nĩ là con đường thuận lợi và dễ dàng nhất để giao lưu quốc tế

1.3 Tên gọi theo người Việt Nam

Các tư liệu của Việt Nam cũng như của Phương Tây và ngay cả một số tư liệu của Trung Quốc cũng thật hết sức rõ ràng, cho biết quá trình chiếm hữu thật sư,ï hoà bình và thực thi liên tục chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một thực tế, khác hẳn với những tư liệu mà Trung Quốc đã viện dẫn để cố suy diễn chứng minh chủ quyền của mình

Phân tích những tư liệu của Việt Nam, đối chiếu với những tư liệu của Trung Quốc được viện dẫn trong bộ sưu tập "Ngã Quốc Nam Hải Chư Đảo Sử

Liệu Hội Biên" do Hàn Chấn Hoa chủ biên, chúng ta có một số kết quả sau:

Hầu hết các tư liệu Việt Nam, đều là tư liệu thuộc nhà nước, đặc biệt là Hội Điển, loại sách ghi điển chế biến thành luật lệ của triều đình hoặc các châu bản, tức những văn bản trao đổi giữa vua và các đình thần hoặc tỉnh thần Hầu hết tư liệu của Việt Nam đều trực tiếp minh chứng chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Tư liệu Việt Nam đã đề cập đến địa danh Hoàng Sa, tiếng Nôm, cùng nghĩa, gọi là Cát Vàng hay Cồn Vàng, lại rất nhất quán từ đầu thế kỷ XVII, tức từ thời chúa Nguyễn đến thế

Trang 5

kỷ XX Cho đến nay vẫn còn giữ địa danh Hoàng Sa Địa danh "Hoàng Sa" hoặc chữ Nôm là "Cát Vàng" lại đã được người Tây Phương xác nhận là Paracel vào thế kỷ XIX.

Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn, (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới đầu triều Nguyễn (từ vua Gia Long) qua hoạt động của đội Hoàng

Sa cũng như sự khẳng định, sự quản hạt hành chánh của chính quyền Việt Nam, và sau đó đến các triều Minh Mạng, Thiệu Trị qua hoạt động của thủy quân Đại Nam Nhất Thống Chí, vẫn tiếp tục khẳng định Hoàng Sa thuộc cương vực ngoài biển của Việt Nam

Nếu không kể những tư liệu đại loại như Trung Quốc thường viện dẫn , tức là những người khi đi qua Hoàng Sa rồi cảm tác hay viết tới quần đảo này như Lý Văn Phức đi trên tàu sang Philippines năm 1832 viết “Vọng kiến Vạn Lý Tràng Sa tác” trong tác phẩm “Đông Hành Thi Thuyết Thảo” …, Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, liên tục qua các đời từ đầu thế kỷ XVII đến khi bị các nước ngoài xâm phạm, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng

Trong thời kỳ Đại Việt, thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn (1672 - 1801), nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư

trong Hồng Đưc Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản

đồ (Viện Hán Nôm Hà Nội, ký hiệu A2628) của Đỗ Bá Công Đạo, Chính

Hoà năm thứ 7 (1686) (2.7) và Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn năm

1776

Trang 6

Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ có bản

đồ là tài liệu xưa nhất, đã ghi phần chú thích của bản đồ với nội dung : "Giữa

biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa), dài tới 400 dặm, rộng 20 dặm Từ cửa Đại Chiêm, đến cửa Sa Kỳ mỗi lần có gíó Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đấy; gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi giạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả Hàng hóa thì đều để nơi đó Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn Từ cửa Đại Chiêm vượt biển đến đấy thì phải một ngày rưỡi Từ cửa Sa Kỳ đến đấy thì phải nửa ngày”

Khoảng cách từ cửa Đại Chiêm đến Bãi Cát Vàng (chữ Hán Việt là Hoàng Sa) một ngày rưỡi đường, cũng như từ cửa Sa Kỳ nửa ngày đường là ghi lộn, vì tất cả các tài liệu khác đều ghi 3 ngày đêm Vả lại ngoài khơi cửa Đại Chiêm cũng như cửa Sa Kỳ không có đảo nào dài và có những đặc điểm mà tài liệu đã mô tả trên , ngoài Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa tức Paracel

Còn tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn, năm 1776 là

tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa Lê Qúi Đôn được Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài cử vào Phú Xuân năm 1775 để lo sắp đặt kế hoạch bình định hai trấn Thuận Hoá và Quảng Nam mới được quân Chúa Trịnh đánh chiếm của Chúa Nguyễn từ năm 1774 Đến năm 1776, ông lãnh chức Hiệp Trấn và viết

ra sách Phủ Biên Tạp Lục Phủ Biên Tạp Lục gồm 6 quyển, trong đó ở quyển 2 có 2 đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa như sau:

Một thực tế quan trọng: Phủ Biên Tạp Lục đã chép rất rõ "Hoàng Sa ở gần đất Liêm Châu của Trung Quốc" Sự thực cũng đã rành rành khi Phủ Biên Tạp Lục ghi rất chi tiết, rất rõ những hoạt động của đội Hoàng Sa ở phía Bắc, có

Trang 7

lần lính Hoàng Sa bị bão trôi dạt vào cảng Thanh Lan của Trung Quốc Đội Hoàng Sa vừa kiêm quản đội Bắc Hải ở phía Nam tức Trường Sa ngày nay.

Ngoài những tài liệu trên còn có nhiều văn bản hiện còn lưu trữ trong dân gian ở Phường An Vĩnh tại Cù Lao Ré, nay thuộc huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi do PGS Nguyễn Quang Ngọc, và Vũ Văn Quân (khoa Sử, Đại Học Quốc Gia Hà Nội) phát hiện

Chẳng hạn như đơn của ông Hà Liễu, cai hợp phường Cù Lao Ré, xã

An Vĩnh, xin chính quyền Tây Sơn cho phép đội Hoàng Sa tiếp tục hoạt động và tờ chỉ thị ngày 14 tháng 2 Thái Đức năm thứ 9 (1786) của quan Thái Phó Tổng Lý Quân Binh Dân Chư Vụ Thượng Tướng Công đốc suất công việc của đội Hoàng Sa

Năm 1773, sau 2 năm khởi nghĩa, quân Tây Sơn làm chủ miền đất từ Quảng Nam đến Bình Thuận trong đó có đất Quảng Ngãi Những hoạt động của đội Hoàng Sa ở xã An Vĩnh được đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Tây Sơn

Với truyền thống hoạt động hàng trăm năm, dân xã An Vĩnh, vốn tự lập về phương tiện tàu thuyền, lại quen việc, nên luôn luôn tham gia vào đội Hoàng Sa Vì thế, cuối thời chúa Nguyễn ở xứ Đàng Trong (Nam Hà), khi quân Tây Sơn nổi dậy, kiểm soát được vùng đất Quảng Nghĩa, dân xã An Vĩnh vẫn tiếp tục hoạt động ở ngoài khơi xã của mình

Sang thời kỳ Triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa

Trước hết là Dư Địa Chí trong Bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) Cả hai tài

Trang 8

liệu trên đều viết về Phủ Tư Nghĩa mà nội dung hầu hết nói đến Hoàng Sa Phủ Tư Nghĩa thuộc vào Thừa Tuyên Quảng Nam, được đặt tên từ thời Lê Thánh Tông giữa thế kỷ XV đã được Nguyễn Hoàng đổi thành phủ Quảng Nghĩa từ năm 1602 Sang thời Tây Sơn đổi thành Hoà Nghĩa, đến năm 1801 đổi thành trấn Đến Minh Mạng thứ 10 (1829) đổi thành tỉnh Minh Mạng thứ 13 (1832) tỉnh Quảng Nghĩa lại có phủ mang tên cũ là Tư Nghĩa.

Phan Huy Chú viết về phủ Tư Nghĩa thời Lê thay vì Quảng Nghĩa và dùng các địa danh cũ cũng thời Lê như Nghĩa Giang (huyện), Bình Dương (huyện) Điều này chứng tỏ Phan Huy Chú sử dụng tài liệu địa dư của Lê Trịnh ở Bắc Hà Điều đó cũng hợp lý, vì tác giả biên soạn công trình này hồi đầu triều Nguyễn, trong thời gian Phan Huy Chú còn đang lân đận khoa cử chỉ đậu Tú tài trong 2 kỳ thi Đến năm Minh Mạng thứ 2 (1821), Phan Huy Chú mới dâng bộ sách này cho vua Minh Mạng và cho biết ông đã soạn trong 10 năm Trong khi

Hoàng Việt Địa Dư Chí đã cập nhật hoá các địa danh thời Chúa Nguyễn đặt như

huyện Chương Nghĩa (ghi chú là cựu Nghĩa Giang) huyện Bình Sơn (cựu Bình Dương), song lại sử dụng địa danh Tư Nghĩa Phủ

Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự

như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn cuối thế kỷ XVIII, chỉ khác ở

điểm :“Tiền Vương Lịch Triều trí Hoàng Sa đội ” thay vì “Tiền Nguyễn thị triù Hoàng Sa đội” - Bởi tác giả viết hai cuốn sách trên sống dưới triều đại Nguyễn, khác với Lê Qúi Đôn sống dưới triều đại Lê Trịnh ở Bắc Hà

Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú là một công trình biên khảo bách khoa lịch sử lớn gồm 49 quyển, ghi chép đủ mọi phép tắc của các triều đại Việt Nam

Trang 9

Chính Dư Địa Chí quyển 5, ở phần Quảng Nam, có nói đến phủ Tư Nghĩa Hầu hết nội dung nói về phủ Tư Nghĩa là nói đến Hoàng Sa Chứng tỏ Hoàng Sa rất quan yếu đối với phủ Tư Nghĩa hồi bấy giờ Qua nội dung ông viết, thấy rất rõ ông đã sử dụng sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn, đã tóm gọn bớt nhiều nội dung của Phủ Biên Tạp Lục Trong Văn Tịch Chí, Phan Huy Chú cũng đã kế thừa Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn Ngoài tả cảnh vật của Hoàng Sa, ông cũng cho biết: “Tiền Vương Lịch Triều (các chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa 70 tên cũng lấy dân An Vĩnh luân phiên sung vào” Song có dị bản đã chép nhầm tháng giêng thay vì tháng ba như Phủ Biên Tạp Lục cho biết hàng năm"từ tháng ba đội Hoàng Sa đi làm nhiệm vụ cũng 3 ngày 3 đêm bằng 5 chiếc tiểu điếu thuyền đến Hoàng Sa rồi cũng tháng 8 về đến cửa Eo tới thành Phú Xuân và cũng mang theo lương thực cho 6 tháng".

Hoàng Việt Dư Địa Chí (1833), không đề tên tác giả, được khắc in vào năm Minh Mạng thứ 14 ( 1833) và sau đó được tái khắc in nhiều lần Người

ta thường gọi là cuốn Địa Dư Minh Mạng

Nhiều người như Phạm Thận Duật đã ghi “Hoàng Việt Địa Dư Chí” lại chính là của Phan Huy Chú trong tài liệu tham bác của cuốn “Hưng Hoá Ký Lược”2 Điều này chứng tỏ Hoàng Việt Địa Dư Chí bắt nguồn từ Dư Địa Chí trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú Đại để nội dung có nhiều điều giống nhau, song đôi chỗ có khác nhau về từ hoặc thêm, bớt và nhất là cách trình bày Thay vì Dư Địa Chí gồm 5 quyển, thì Hoàng Việt Địa Dư Chí chỉ có 2 quyển với cấu trúc khác nhau

Trong “Đại Nam Thực Lục”, Phần Tiền Biên quyển 10 (soạn năm 1821)

là loại tài liệu chính thức của nhà nước Việt Nam nói về Hoàng Sa Thủ phủ

Trang 10

chúa Nguyễn là Phú Xuân bị quân Trịnh rồi quân Tây Sơn chiếm đóng nên nhiều tư liệu thời chúa Nguyễn nhất là về Hoàng Sa của chính chúa Nguyễn

đã không còn lại đến ngày nay Đây là tài liệu đầu tiên viết về Hoàng Sa

trong thời chúa Nguyễn mà triều đình nhà Nguyễn đã cho chép lại

Ngoài ra, Đại Nam Thực Lục Tiền Biên cũng chép: “hồi quốc sơ đặt đội Hoàng Sa, hàng năm cứ tháng 3 cỡi thuyền ra đảo, 3 ngày 3 đêm tới nơi, đến tháng 8 về”, và cũng chép về đội Bắc Hải mộ dân Tứ Chính, Bình cố hoặc xã Cảnh Dương sung vào, hoạt động ở phía Nam, Côn Lôn, Hà tiên do đội Hoàng Sa kiêm quản

Trong “Đại Nam Thực Lục Chính Biên” (in năm 1848) có 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Một số đoạn tiêu biểu được nĩi như sau, như: “Đại Nam Thực Lục” (Chính

Biên): đệ nhất kỷ, quyển 50 (đời vua Gia Long), chép rất rõ ràng:“tháng giêng năm Aát Hợi (1815) sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình ”

Một đoạn khác trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên, chép: “Năm Bính

Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816), vua Gia Long ra lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình ”

Tài liệu quí giá nhất, cũng thuộc Triều Nguyễn là Châu bản triều

Nguyễn (thế kỷ XIX), ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như bộ Công, bộ Hộ và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng

Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ hoạ đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc Cũng có nội dung bản tấu cho biết những hoạt động hàng năm trên

Trang 11

bị hoãn tháng khởi hành như năm Minh Mạng thứ 19 (1838) thay vì hạ tuần tháng 3 khởi hành, mãi tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành, hoặc năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ hỗn việc do thám năm 1846.

Trong châu bản triều Nguyễn thế kỷ XIX, có những đoạn nói về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa sau nay, “Dụ ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16 (1835) thưởng phạt những người công tác tại Hoàng

Sa Trong Châu bản tập Minh Mạng số 54, trang 92 có đoạn viết vua Minh Mạng ra chỉ dụ giao cho Bộ Công phạt cai đội Hoàng Sa Phạm Văn Nguyên

80 trượng vì tội trì hoãn thời gian công tác hay phạt 80 trượng giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiệm, Nguyễn Văn Hoằng chưa chu tất việc vẽ bản đồ Hoàng Sa Trong khi đó lại thưởng dân binh đội Hoàng Sa Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, mỗi người một quan tiền vì đã có công hướng dẫn hải trình của thủy quân đi Hoàng Sa…

Việt Sử Cương Giám Khảo Lược quyển IV của Nguyễn Thông (1877) Hoàng Sa như sau: “Vạn Lý Trường Sa: từ đảo Lý Sơn (tục gọi là Ngoại La (tức Cù Lao Ré) đi thuyền về phía Đông, ba ngày ba đêm thì đến Nước Việt Nam ta ở buổi quốc sơ thường kén những đinh tráng hai hộ An Hải và An Vĩnh, mà đặt đội Hoàng Sa để đi kiếm lượm những vật ngoài biển, hàng năm cứ tháng 2 đi, tháng 8 về Bãi Cát dăng từ phía Đông mà sang phiá Nam, chỗ nổi lên chỗ chìm xuống, không biết mấy nghìn dặm Ở trong có vụng sâu, thuyền có thể đậu được Trên bãi có nước ngọt Chim biển có nhiều giống không biết tên Có một cái miếu cổ, lợp ngói, biển ngạch khắc mấy chữ "Vạn lý Ba Bình" (muôn dặm sóng êm), không biết dựng từ đời nào Các quân nhân đến đây thường đưa những quả Phương Nam mà vãi ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc cây để làm dấu mà nhận Từ khi đội Hoàng Sa

Trang 12

bãi, gần đây không ai hỏi đến miếu ấy nữa Truyện ký của người xưa nói nhiều về cảnh đẹp của “Thập Châu Tam đảo” Ngày nay suy ra không thể nói là không có những đất ấy, nhưng nói là chỗ ở của thần tiên thì sai”3.

Trong bộ sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” (1882), ấn hành năm Duy

Tân thứ 3 (1910), quyển 6 : tỉnh Quảng Ngãi có 2 đoạn văn chép rõ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Trong quyển III “Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu” của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, đời vua Minh Mạng, có một số đoạn liên quan đến Hoàng Sa, Như: "Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ có cồn cát trắng cây cối xum xuê tươi tốt Ở trong cồn cát có một cái giếng Phía tây nam có một ngôi miếu xưa, bia đá khắc bốn chữ "Vạn Lý Ba Bình" (nghĩa là muôn dặm sóng yên) Cồn cát trắng trước kia có tên là Phật Tự Sơn Các bờ đông, tây và nam đều có san hô Có một đồi đá nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với đồi cát, gọi là Bàn Than Thạch Ra lệnh xây miếu và dựng bia ở chốn này Trước miếu có xây bình phong" (quyển 3, tờ 97b-98a)…

Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam Chẳng hạn bản đồ trong Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (cĩ tác giả gọi là tồn tập) của Đỗ Bá Công Đạo hay bản đồ Đường Qua Quảng Nam đời Lê do M.G Dumontier Bản đồ Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ trong Nam Bắc Kỳ Hội Đồ Rất tiếc những bản đồ chi tiết cũng như tổng quát vẽ các đảo Hoàng Sa thời nhà Nguyễn nhất là thời Vua Minh Mạng do thời tiết khắc nghiệt cũng như chiến tranh tàn phá đã không còn lưu giữ

3 Dẫn theo Phan Ngọc Hồ, Nguyễn Đình Hịe: “những nguyên nhân gây biến động lãnh thổ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa Tạp chí KHXH DDHQGHN 1998.

Trang 13

Những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trong thời gian chưa có sự tranh chấp chủ quyền, tức trước năm 1909, rất nhiều tài liệu của Trung Quốc cũng như Phương Tây đều gián tiếp hay trực tiếp xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước tiên là Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696

Trong quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa tức Hoàng Sa và đã khẳng định Chúa Ngãi đã hành sử chủ quyền của mình trên quần đảo này như sau:

"Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng bờ biển, chạy dài từ Đông Bắc qua Tây Nam; động cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển; mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành; bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là

“Vạn Lý Trường Sa” , mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; nếu thuyền bị trái gió trái nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo không nước, trở thành ma đói mà thôi Quảng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm Thời Quốc vương trước, hằng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền lui tấp vào Mùa thu nước dâng cạn, chảy rút về hướng Đông bị một ngọn sóng đưa thuyền có thể trôi

xa cả trăm dặm; sức gió chẳng mạnh , sợ có hiểm hoạ Trường Sa"

Thích Đại Sán đã kể lại kinh nghiệm hải trình qua vùng Hoàng Sa tức Vạn Lý Trường Sa và cho biết ước lượng khoảng cách từ vùng Hoàng Sa đến Đại Việt khoảng bảy ngày đường Những tài liệu của Việt Nam như đã cho biết giữa các đảo phải đi đến mất 1 ngày đường, nên nếu phải trải qua hàng trăm

Trang 14

dặm tới Đại Việt đi mất tới 7 ngày đường, trong khi từ bờ biển Việt Nam đi tới đảo gần nhất của quần đảo Hoàng Sa chỉ mất 3 ngày 3 đêm là hợp lý.

Thích Đại Sán viết “Thời Quốc Vương trước , ở đây hàng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền

bị đắm ở Hoàng Sa” cũng phù hợp với các tài liệu Việt Nam về hoạt động đội Hoàng Sa, song rõ hơn là xác định thời gian trước thời Quốc Vương Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), có nghĩa là ít ra cũng ở thời Nguyễn Phúc Trăn (1687 - 1691) hoặc các Chúa Nguyễn khác Trong thời gian này, chưa có tranh chấp nên Thích Đại Sán là người Trung Quốc đã có thái độ khách quan ghi nhận chủ quyền của Đại Việt đối với Hoàng Sa như trình bày ở trên Cũng như các phần lãnh thổ khác của Đại Việt, chẳng bao giờ có các văn bản của triều đình Trung Quốc xác nhận Truyền thống chiếm hữu lãnh thổ của Phương Tây cũng chẳng bao giờ công bố cho các nước khác được biết Chỉ có thực tế lịch sử xảy ra như thế nào thì những người am hiểu tường tận như Thích Đại Sán biết rõ sự việc xảy ra ở Đại Việt xứ Đàng Trong đã ghi nhận như thế

Các bản đồ cổ Trung quốc do chính người Trung quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa chưa thuộc về Trung quốc

Khảo sát tất cả các bản đồ cổ của Trung quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả các bản đồ cổ nước Trung quốc do người Trung quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa hay bất cứ các đảo nào mà Trung quốc suy diễn là Tây Sa và Nam Sa có nằm trong các bản đồ cổ ấy Tất cả các bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam của biên giới phía Nam của Trung quốc

Trang 15

Chẳng hạn như "Dư địa đồ" đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách "Quảng Dư đồ" của La Hồng Tiên quyển 1, thực hiện năm

1561, phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam

Trong Quyển "Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ" đời Minh trong Đại Minh Nhất Thống Chí, năm 1461, quyển đầu, đã vẽ cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam "Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ" đời Minh, trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ của Trần Tổ Thụ, 1635, quyển thượng đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam

Trong "Lộ Phủ, Châu Huyện Đồ" đời Nguyên vẽ lại trong Kim Cổ Dư Đồ của Nguyễn Quốc Phụ đời Minh, năm 1638, quyển hạ đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam

Một quyển khác “Hoàng Triều Phủ Sảnh, Châu , Huyện Toàn Đồ" đời Thanh, khuyết danh, năm 1862, vẽ theo "Nội Phủ Địa Đồ" gồm 26 mảnh mang tên "Đại Thanh Trực Tỉnh Toàn Đồ" đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam

Vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX cĩ các cuốn sau, cĩ thể kể ra như sau

"Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ" trong tập Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ (khuyết danh), năm 1894, đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam

"Quảng Đông Tỉnh Đồ" trong Quảng Đông Dư Địa Toàn Đồ, do quan chức tỉnh Quảng Đông soạn năm 1897, có lời tựa của tổng đốc Trương Nhân Tuấn đều không thấy bất kỳ quần đảo nào ở biển Nam Trung Hoa

" Đại Thanh Đế Quốc", trong tập "Đại Thanh Đế Quốc Toàn Đồ" do Thường Vụ Aán Thư Quán Thượng Hải, 1905, tái bản lần thứ 4 năm 1910, đã vẽ phần cực Nam lãnh thổ Trung quốc là đảo Hải Nam

Trang 16

"Đại Thanh Đế Quốc Vị Trí Khu Hoạch Đồ" (1909), cũng như bản đồ trên đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Sau năm 1909, nhiều bản đồ Trung Quốc đã vẽ Tây Sa, Nam Sa trong lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó có "Trung Quốc Cương Giới Biến Thiên Đồ" năm 1939, đã vẽ ranh giới thuộc quốc đời Thanh xuống tận gần Indonesia, gồm cả Triều Tiên

Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1 nănm

1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhằm nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc bởi đồng tiền La Mã đã từng được phát hiện ở Óc Eo (An Giang), ở miền Nam Việt Nam nhưng không thể chứng minh rằng Óc Eo (An Giang) thuộc chủ quyền La Mã Các nhân viên khảo cổ Trung Quốc còn phát hiện được 14 ngôi miếu cô hồn và cho rằng chúng có từ thời Minh Thanh Trong các ngôi miếu cô hồn ấy lại có 2 ngôi miếu ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ýle Boisée) đã được nhóm Hàn Chấn Hoa biên chép lại từ bài báo “Từ quần đảo Tây Sa trở về” trên Đại Công Báo Hương Cảng , ngày 31 tháng 3 năm 1957, ghi rõ :

“Trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) hiện nay có 2 ngôi miếu mà ngư dân tự xây dựng nên Miếu mặt Nam gọi là “Cô hồn miếu”, miếu ở mặt Bắc gọi là “Hoàng Sa Tự”.“Hoàng Sa Tự” là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam mà các vua chúa Việt Nam, thờiù thời Minh Mạng sai thủy quân ra Hoàng Sa xây dựng miếu, chùa

Tư liệu Phương Tây xác nhận về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trang 17

Năm 1494, Giáo Hoàng Alexandre VI đã dùng quyền lực tinh thần để phân các vùng ảnh hưởng trên thế giới cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Sự phân chia này được chính thức hoá trong hiệp ước Tordesillas 1494

Do đấy, các đội thương thuyền của Bồ Đào Nha đã đi về phương Đông tức Ấn Độ và Trung Quốc Bồ Đào Nha đã thiết lập một thương điếm ở Ma Cao (Trung Quốc) từ năm 1511 và biến Ma Cao thành thuộc địa từ 1557 Từ đó các thương thuyền qua lại Biển Đông và có những nhà hàng hải Bồ Đào Nha thám hiểm vùng Biển Đông trong đó có đảo Hoàng Sa

Nhà hàng hải Bồ Đào Nha Fernão Mendes Pinto, một giáo sĩ Dòng Tên đã viết cuốn sách du ký Peragrinacão (dịch ra tiếng Pháp là Pérégrination nói về chuyến du hành năm 1545, được xuất bản tại Lisbonne năm 1614.trong đó FM., Pinto đã mô tả về quần đảo Hoàng Sa mà ông gọi là Pulo Pracela (Pracela tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là san hô, Pulo có nghĩa là đảo, cù lao) Cũng trong thời gian này, các nhà truyền giáo đi theo các thương thuyền đã đến truyền đạo vào Đàng Ngoài của Việt Nam vào 1533 (đĩ là giáo sĩ I-ni-khu, người đầu tiên đến Việt Nam truyền giáo)

Con đường hàng hải vào đầu thế kỷ XVI từ Malacca đến Macao đã bắt đầu gặp trở ngại, các thương thuyền bị đụng vào các bãi đá ngầm ở Biển Đông Qua những cuộc khảo sát với rất nhiều nhật ký hải trình của các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha trong nửa sau thế kỷ XVI đã nói về một dải cao tầng bãi đá ngầm Pullo Sissir (Baixos de Pullo Sissir), (vĩ độ 10) mà người ta thấy rất nguy hiểm, càng ngày người ta càng thấy rất rộng, bao quát cả một vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay, tương tự như những hiểu biết của các nhà địa lý của Việt Nam cùng thời Càng ngày người ta càng có nhiều thông tin song chỉ lờ mờ rằng có rất nhiều những bãi đá ngầm nổi lập

Trang 18

lờ trên mặt nước chỉ cao khoảng chừng một đầu người, luôn luôn bị sóng biển che lấp Ban đêm, có khi tàu thuyền đi đến sát mũi nó mới nhận ra được Có một số đảo phủ cỏ và muối, một số bãi cát Những hải trình không gặp đá ngầm thường rất hẹp và nếu người ta đi qua được yên lành thì chỉ nhờ có Chúa phù hộ cho mà thôi Các tác giả khuyên các nhà hàng hải chớ bao giờ rời xa bờ biển Champa.

Cũng giống như các nhật ký hải trình, các tấm hải đồ của các nhà hàng hải Bồ Đào Nha trong nửa sau thế kỷ XVI phản ánh một quan niệm, hiểu biết chung về một quần đảo mà họ gọi là Pracel giống như một dải "ruban" dài hay như một lưỡi dao dài cong chứ không gãy khúc, kéo dọc suốt ngoài khơi với bờ biển Đàng Trong lúc bấy giờ Những tấm bản đồ hiếm có tìm thấy xưa nhất có ghi nhận quần đảo Hoàng Sa (Parcel) của người Bồ Đào Nha còn là những bản đồ vào giữa thế kỷ XVI Đó là bản đồ Bartholomen Velho (1560) được ghi lại trong sách của P.Y Manguin và bản đồ khuyết danh trong cuốn Livro da Marinharia, ghi lại trong cuốn Peregrination của F.M Pinto Hai tấm bản đồ có ghi niên đại 1560 tương đối giống nhau đã phản ánh trung thực sự hiểu biết lúc bấy giờ của người Phương Tây về Hoàng

Sa Nói chung người Phương Tây lúc bấy giờ mà tiêu biểu là người Bồ Đào Nha chưa hiểu biết rõ về Hoàng Sa cũng chưa biết các đảo này thuộc về chủ quyền của nước nào Hình dáng Hoàng Sa mà người Bồ ghi hàng chữ J Do Pracel trên cũng ở phía Bắc một dải dài những chấm nhỏ chạy từ khoảng Cù Lao Chàm ở ngoài khơi Hội An, được gọi là Pulo Campello tới Cù Lao Thu (đảo Phú Qúi) được ghi bằng Pulo Sissir, ngoài khơi Phan Thiết ngày nay Cái dải dài rộng và những chấm đậm ở phiá Bắc, càng về phía Nam càng hẹp lại và tận cùng bằng cái chấm nhỏ giống như một dải “ruban” nhọn phía

Trang 19

dưới Dải “ruban” Pracel ấy trong “Livro da Marinharia” của FM Pinto được ghi nhiều chấm hơn, phía Bắc đậm hơn, bề ngang phần dưới hẹp hẳn…

Bước qua thế kỷ XVII, do nhiều nguyên nhân, người Bồ Đào Nha đã mất thế độc quyền ở Biển Đông Một số quốc gia khác đã vượt trội, tăng cường sự có mặt của mình ở vùng biển này, đi lại ngày càng nhiều chung quanh quần đảo Hoàng Sa Địch thủ có thế lực lớn mạnh nhất của Bồ Đào Nha lúc này là Hà Lan Tiếp theo là Anh và Pháp Khác với phương thức kinh doanh của người Bồ Đào Nha trong thế kỷ trước, các hoạt động hàng hải của Hà Lan, Anh và Pháp trong thế kỷ này chủ yếu dựa vào những công ty thương mại quốc tế, được các chính quyền nhà nước ấy ủy quyền và bảo trợ, điển hình là các công ty Đông Aán - Hà Lan (V.O.C.) thành lập năm 1602 và các công ty Đông Aán Anh (East India Company) thành lập năm 1600 Hoàng

Sa nằm trên các tuyến đường giao thương quốc tế lúc bấy giờ đã được người Tây Phương coi là một vị trí chiến lược trọng yếu

Sang thế kỷ XVIII, những cuộc khảo sát Biển Đông của các công ty Đông Aán rất kỹ càng Từ cuộc thám hiểm đo đạc của phái bộ Kergariou - Locmacria vào những năm 1778 - 1787 ở Biển Đông đã giúp cho người Phương Tây hiểu biết rõ hơn, trung thực hơn, không còn lờ mờ và sợ hãi như những huyền thoại trước đây về Biển Đông Các hải trình tương đối an toàn hơn, tuy họ không hề phủ nhận sự nguy hiểm và hoạ đắm tàu ở khu vực quần đảo Paracels

Người Pháp qua các hoạt động của các giáo sĩ, thương gia nhất là từ khi giám mục Pigneau de Béhaine giúp Nguyễn Ánh về quân sự, đã bắt đầu quan tâm đến Việt Nam và kế thừa những hiểu biết của người Bồ Đào Nha, Hà Lan, đã biết rất rõ về nội tình chính trị Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài

Trang 20

thời phân tranh cũng như khi thống nhất Từ đó, người Phương Tây mới biết rõ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa.

Như thế, chính người Pháp mới bắt đầu cung cấp những tài liệu xác thực về sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Sau đây là tên những tài liệu chủ yếu: Nhật Ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam; “Le Mémoire sur la Cochinchine” của Jean Baptiste Chaigneau (1769 - 1825) (hay được gọi với tên là Sê-Nơ), viết vào những năm cuối đời Gia Long (1816 - 1819) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels; “Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes” của giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm 1816; An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels và nằm trong lãnh hải Việt Nam; The Journal of the Asiatic Society

of Bengal , Vol VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels) …

Như vậy cĩ thể thấy các tài liệu chủ yếu của các giáo sĩ nước ngồi ghị chép lại là chính, ngồi ra của các thương nhân, và của cả thực dân trong giai đoạn âm mưu xâm lược nước ta cho đến khi đặt ách đơ hộ của Pháp với người An Nam

1.4 Tầm quan trọng của Hồng Sa

Quần đảo Hồng Sa nằm trên huyết mạch của Biển Đơng, con đường vận chuyển hàng hĩa chính yếu của Châu Á Làm chủ Hồng Sa tạo điều kiện thuận lợi trong việc khống chế vùng này Chiếm vị trí Hồng Sa sẽ giám sát mọi hoạt động của miền Trung Việt Nĩ là mối đe dọa thường trực đối với nước ta

Lịch sử ghi nhận, kẻ thù phương Bắc của dân tộc Việt Nam thường tiến hành cuộc xâm lược bằng hai mũi giáp cơng: tràn từ biên giới phía Bắc và từ

Trang 21

Biển Đông vào Cánh quân từ ngoài biển vào thường bị khó khăn về mặt tiếp liệu Nay, các kho tiếp liệu dồi dào ở Hoàng Sa và Trường Sa sẽ tạo lợi thế cho cánh quân này.

Thập niên 1950-60, Việt Nam Cộng Hòa đã xây dựng những cơ sở trú phòng đủ cho một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, sau này giảm quân phòng vệ xuống còn một trung đội địa phương quân

Năm 1974, công binh Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu nghiên cứu việc tân trang phi đạo ở đảo Hoàng Sa cho máy bay Caribou có thể sử dụng, nhưng bị ngưng vì Trung Quốc đã chiếm đảo

Sau khi cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã nhanh chóng biến nó thành cứ điểm quân sự mạnh nhất vùng Biển Đông với 4000 binh

sỉ hải quân và thủy quân lục chiến đồn trú cùng với một phi đạo có thể tiếp nhận nhiều phi cơ chiến đấu Trung Quốc cũng có tham vọng biến nơi này thành khu phát triển kinh tế và du lịch

Trong cuộc họp báo tại Guam năm 1970 sau khi mãn nhiệm kỳ phục vụ tại Việt Nam, đô đốc Elmo Zumwalt tuyên bố “Hoa Kỳ thực thi chiến lược tiền đồn trên biển nhưng Hoàng Sa và Trường Sa không đáp ứng nhu cầu hành quân biển

vì thiếu lưu động tính như hàng không mẫu hạm và quá tốn kém”

Hiện thời, Trung Cộng đang cố thành hình chuổi hải đảo Liên Hoàn Chiến Lược (Hải Nam-Hoàng Sa-Trường Sa) Trường hợp Trung Cộng dùng vũ lực khống chế hải lộ huyết mạnh

Chủ quyền của Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa sẽ khiến cho việc ấn định Khu Vực Kinh Tế Đặc Quyền vốn rất rắc rối càng thêm khó khăn

Nhiều nhà nghiên cứu những chyên gia đầu ngành, trong đó không thể thiếu sự đánh giá của các vị lãnh đạo của Đảng về Nhà nước về tầm quan trọng sát sườn của ta Trong đó Tiến sĩ Nguyễn nhà trong Luận Án và nhiều tài liệu, bài báo, tạp chí cũng đưa ra những nhìn nhận đánh giá khách quan nhất

Trang 22

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong Biển Đông mà người Trung Hoa gọi là Biển Nam Hải, người Phương Tây thường gọi là Biển Nam Trung hoa, có tầm quan trọng về chiến lược quân sự.

Không có một vùng biển nào trên Thế Giới với diện tích tương đương 3/4 Địa Trung Hải mà lại có tầm mức quan trọng về phương diện giao thông như Biển Đông Muốn từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, tàu thuyền phải chạy qua Biển Đông Nếu đi vòng sẽ tốn kém hơn và mất thời gian nhiều hơn Biển Đông nằm ngay trên ngã tư đường hàng hải quốc tế, nhất là lượng hàng hoá quan trọng như dầu hoả, khí đốt đến Nhật đều qua ngả này Nếu lấy giữa Biển Đông làm trung tâm nhìn ra thế giới: Trong vòng bán kính

1500 hải lý có các cảng quan trọng như Bangkok, Rangoon, Calcutta, Singapore, Djakarta, Manila, Taipei, Hongkong, Shangai, Nagasaki

Trong vòng 2500 hải lý, có các cảng quan trọng như Madras, Colombo, Bombay, Bali, Darwin, Guam, Tokyo, Yokohama, Seoul, Beijing bao trùm hầu hết lãnh thổ các nước đông dân nhất thế giới, bao gồm một nửa nhân loại

Đường bay quốc tế cũng thế, từ Singapore, Bangkok, qua Hong Kong, Manila, Tokyo … đều qua Biển Đông Chính vì vậy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không những là nơi hiểm yếu như các chính quyền phong kiến của Việt Nam đã khẳng định mà còn có giá trị chiến lược đối với Việt Nam và quốc tế Vì thế nên trước khi Nhật Bản xâm lăng các nước Đông Nam Á hồi thế chiến thứ II, quân Nhật đã chiếm đóng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đến khi ký kết Hội Nghị San Francisco năm 1951, Nhật Bản mới tuyên bố từ bỏ sự chiếm đóng hai quần đảo này

Tài nguyên thiên nhiên, nhờ sự phát triển khoa học kỹ thuật, nhiều tài nguyên qúy giá dần dần được khai thác từ lòng biển, nhất là khi tài nguyên

Trang 23

trên đất liền ngày càng bị khai thác cạn kiệt, lãnh hải càng ngày càng có thêm giá trị Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tuy diện tích bề mặt nổi lên mặt nước không lớn, song lại rải rác, chiếm diện tích rất rộng Ai chiếm được nhiều hải đảo có thể kiểm soát nhiều lãnh hải và khai thác được nhiều tài nguyên ở dưới lòng biển.

Từ khi có sự thăm dò cụ thể dầu khí ở Biển Đông, các nước trong khu vực bắt đầu quan tâm nhiều hơn trước, dẫn đến tranh chấp chủ quyền với Việt Nam tại hai quần đảo này

Trước năm 1957, đã có nhiều công ty nước ngoài khảo sát địa vật lý và khoan thăm dò ở thềm lục địa Nam Việt Nam, trong đó có hai giếng đã phát hiện dầu thương mại Vào cuối những năm 1970, có nhiều công ty như AGIP (Ý), DIMINEX (CHLB Đức), BOW VALLEY (Canada) đã thăm dò 5 lô dầu

ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam Sau đó đến 1979, các công ty trên chấm dứt hoạt động Tháng 9/1975, Tổng Cục Dầu Khí Việt Nam được thành lập nhằm thúc đẩy hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí Thềm lục địa Việt Nam rộng chừng 1,3 triệu km2, được chia thành 171 lô với diện tích trung bình mỗi lô khoảng 8000 km2 Trong đó có 31 lô có độ sâu mực nước biển dưới 50m,

35 lô từ 50 -100m, 10 lô từ 100 - 250m, 38 lô từ 200-2000m và 57 lô là có mực nước sâu trên 2000m Trong phạm vi thềm lục địa Việt Nam có nhiều bồn trầm tích đệ tam có triền vọng chứa dầu khí Cho đến cuối những năm

80, trên toàn thềm lục địa Việt Nam, chủ yếu ở phía Nam, đã khảo sát trên 100.000 km tuyến địa vật lý, khoan hàng chục giếng tìm kiếm thăm dò và đã phát hiện được ba mỏ dầu khí (BaÏch Hổ, Rồng và Đại Hùng) Từ năm 1986, mỏ Bạch Hổ bắt đầu được khai thác Việc thăm dò và khai thác dầu khí ở

Trang 24

thềm lục địa Việt Nam trên khiến người ta thấy tiềm năng vùng Biển Đông có nhiều triển vọng về dầu khí.

Vấn đề Hồng sa hiện nay, Những năm gần đây vấn đề Hồng sa đang

phức tạp, nĩ xoay quanh cả vấn đề Trường Sa nữa Vấn đề đã rõ rang như thế nhưng ta cĩ những biện pháp đối phĩ như thế nào cho hợp lý

1.4.1 Về kinh tế

Trước đây ngư dân và tàu bè Việt Nam vẫn tự do đánh cá và đi lại và trong vùng biển chung quanh quần đảo Hồng Sa Nhưng kể từ khi Trung quốc tấn cơng lực lượng đồn trú của hải quân Việt Nam Cộng Hịa và chiếm quần đảo này ngày 19 tháng 01 năm 1974, thì mọi hoạt động cĩ tính cách dân sự của họ trong vùng biển Hồng Sa hồn tồn bị Trung quốc cấm đốn và bị đẩy vào tình trạng nguy hiểm Việc này đã dẫn đến những thảm kịch đẫm máu mà trước đây chưa hề xảy ra khi Việt Nam cịn kiểm sốt quần đảo ấy Điển hình là ngày 18-

20, tháng 12 năm 2004, hải quân Trung quốc dùng tàu tuần dương tơng vào các tàu đánh cá Việt Nam khiến cho 23 ngư dân Đà Nẵng và Quảng Ngãi bị chết, 6 người bị thương, đồng thời bắt giữ 9 tàu đánh cá và 80 ngư dân khác

vì lý do chính trị, hoặc vì khơng lường được tầm quan trọng chiến lược của quần đảo Hồng Sa đối với Biển Đơng ngày nay, hoặc vì cả hai, nên họ đã ký kết và

Trang 25

tuyên bố những điều bất lợi mà hiện nay Trung quốc đang khai thác nhằm hợp thức hóa việc chiếm giữ Hoàng Sa về mặt pháp lý.

1.4.3 Khí tượng thủy Văn

Vùng biển Hoàng Sa trong biển Đông nằm trong vùng "xích đạo từ" Biển Đông nằm trong vùng mà độ sai lệch từ không thay đổi (hoặc thay đổi rất nhỏ)

Ở đây hướng kim chỉ nam của la bàn từ gần đúng với hướng Bắc-Nam địa dư, rất thuận lợi cho việc đi biển

Mưa ngoài biển qua nhanh, ở Hoàng Sa không có mùa nào ảm đạm kéo dài, buổi sáng cũng ít khi có sương mù Lượng mưa trung bình trong năm lối 1.170 mm Mưa nhiều nhất trong tháng 10 (17 ngày/ 228 mm) Không khí Biển Đông tương đối ẩm thấp hơn những vùng biển khác trên thế giới Ở cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa, độ ẩm đều cao, ít khi nào độ ẩm xuống dưới 80%

Trang 26

Ch¬ng 2

2.1 Những chứng cứ và quan điểm của Trung Quốc

Kể từ năm 1909 đến nay, Trung Quốc đã có nhiều thay đổi về luận điểm, luận cứ, luận chứng để biện minh cho sự xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa So với hồi đầu, sự bất nhất về luận điểm, luận cứ, luận chứng cũng như bất nhất về tên gọi khi thì Nam Sa khi chỉ Macclesfield, khi chỉ Spratley, tự bản thân nó đã bộc lộ sự không có thật trong lịch sử

Những văn kiện ngoại giao của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa sau Cách Mạng thành công năm 1949 đến nay luôn luôn đưa ra luận điệu: “Chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam) và quần đảo Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) là “bất khả tranh nghị” Mãi đến ngày 30 tháng 1 năm 1980, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa lần đầu tiên đưa

ra văn kiện có hệ thống đầy đủ của Bộ Ngoại Giao: “Chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa là không thể tranh cãi được” Tiếp

theo, một bộ tư liệu đồ sộ: Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hội Biên của nhóm

Hoàn Chấn Hoa, Lâm Kim Chi, Ngô Phượng Bân (dày 795 trang) được bắt đầu biên soạn từ năm 1985, đến năm 1988 hoàn thành và được nhà xuất bản Phương Đông (Bắc Kinh) xuất bản , minh hoạ cho nội dung văn kiện Bộ Ngoại Giao nói trên

Đọc kỹ và phân tích văn kiện ngoại giao và bộ tư liệu kể trên, người ta thấy rất rõ những thủ thuật cắt xén, hoặc suy diễn chủ quan, thiếu cơ sở khoa học để minh chứng chủ quyền của Trung quốc hoặc với quan niệm “phi lịch sử” để phản bác các tài liệu lịch sử của Việt Nam

Trang 27

Cũng từ đó các viên chức ngoại giao Trung Quốc luôn khẳng định rằng chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa là không thể tranh cãi được.

Hầu hết các luận điểm trên đến nay không còn giá trị và chính Trung Quốc không còn nhắc tới nữa, bởi những bằng chứng về lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam không thể chối cãi là những phản bác hùng hồn tất cả những luận điểm trên của Trung Quốc Trung Quốc có kể hàng trăm hành động từ năm 1909 thì cũng vô ích vì đó chỉ là những hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam Không thể vì việc lên tiếng phản đối chậm trễ của Pháp như đã trình bày trên theo luật pháp quốc tế thời bấy giờ, mà Việt Nam mất chủ quyền

Còn việc hỏi Tư Lệnh Hải quân Pháp ở Sài gòn thì đúng là đã không hỏi đúng địa chỉ, nếu hỏi viên Khâm Sứ Pháp ở Trung Kỳ như Khâm Sứ LeFol hay hỏi Nam Triều về chủ quyền Hoàng Sa thì chắc chắn sẽ có câu trả lời rõ ràng, xác thực như lời khẳng định “chủ quyền của Việt Nam không có

gì để tranh cãi ở Hoàng Sa” của thượng thư Thân Trọng Huề vào năm 1925

Sau khi dùng vũ lực một cách bất hợp pháp cưỡng chiếm Hoàng Sa vào trung tuần tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đã cố gắng tìm kiếm tài liệu để cố gán ghép bằng cách cắt xén, nếu cần thì xuyên tạc với sự đóng góp của các nhà học giả như Sử Lệ Tổ đưa ra luận điểm cho rằng “các đảo Nam Hải từ cổ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc”, do nhân dân Trung Quốc “phát hiện sớm nhất”, “kinh doanh sớm nhất”, do chính phủ các triều đại Trung Quốc “quản hạt sớm nhất” và viện dẫn nhiều tài liệu lịch sử mang tính suy diễn để dẫn chứng (Quang Minh nhật báo, 24 tháng 11 năm 1975)

Sau đó như đã nói trên, ngày 30 tháng 1 năm 1980, Bộ Ngoại Giao Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đã công bố văn kiện ngoại giao, chính thức

Trang 28

hoá những luận điểm đã đưa ra trong bài báo nói trên và năm 1988, đã xuất bản bộ tư liệu đồ sộ của Nhóm Hàn Chấn Hoa như đã nêu trên đây.

Nói gì thì nói, cho dù Trung Quốc tìm kiếm được bằng chứng phát hiện thật sớm hơn đời Hán, chứ không phải chỉ đời Tống như hồi ban đầu, thì người Hán cũng chỉ vượt qua sông Dương Tử xuống đất Bách Việt, rồi tới Hải Nam và Biển Đông rất chậm sau những cư dân bản địa, Bách Việt trong đó có Lạc Việt hay người Lê ở Hải Nam cũng có ở Thanh Hoá Việt Nam và cũng phải đến sau những cư dân dọc miền Trung Việt Nam trong đó có người Chăm, một thành phần của cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay Người Chăm lại là những người rất giỏi đi biển Các vua Chămpa đã nhiều lần đi biển và có vua đã bị chết trên Biển Đông Đó là chưa kể hầu hết những tài liệu Trung Quốc dẫn chứng đều là sách viết về nước ngoài “chư phiên”, tức

không phải chép việc của Trung Quốc như “Nam Châu Dị Vật Chí” (phụ lục 3.25) của Dương Phù, “Chư Phiên chí” (phụ lục 3.26 ) của Triệu Nhữ Quát

Vả lại với cơ sở pháp lý quốc tế từ đầu thế kỷ XX đến nay, việc chiếm hữu thật sự, hoà bình cùng sự thực thi liên tục mới có giá trị, nên điều đáng quan tâm trong các luận điểm mới của Trung Quốc là những bằng chứng giả tạo về sự quản hạt sớm nhất của Trung Quốc được ghi trong các tài liệu nghiên cứu của nhóm Hàn Chấn Hoa cũng như trong tản mát các tài liệu khác cũng như trong văn kiện ngoại giao sách trắng năm 1980 của Trung Quốc

Trung Quốc đã cố gắng tìm ra địa danh có trong lịch sử Trung Quốc để cố gán ghép cho quần đảo Tây Sa như Cửu Nhũ Loa Châu, vốn là một hòn đảo ven biển Trung Quốc Vả lại ngay như tài liệu Trung Quốc viện dẫn, chính Cửu Nhũ Loa Châu lại ở phía Đông của Nhai Châu của đảo Hải Nam

như tấm bản đồ Quảng Đông Dương Đồ trong sách Dương Phòng Tập Yếu

Trang 29

hoặc Thất Châu Dương chép trong một số sách như Tuyền Châu Phủ Chí (đời Thanh) hoặc trong sách Độc Sử Phương Dư Kỷ Yếu, vốn chỉ cách huyện Văn

Xương của Hải Nam về phía Đông 100 dặm Trong khi đó, phía Đông của đảo Hải Nam lại không phải là quần đảo Tây Sa

Qua ghi chép ở hai cuốn sách trên,thấy rõ cuộc tuần tra biển của thủy quân Trung Quốc lúc đó chỉ là "phòng ngự" nhằm chống cướp biển đến từ nước Nhật (Uûy) mà thôi, không hề có chuyện tuần tiễu quần đảo Tây Sa, Nam Sa

Nghiên cứu kỹ các bản đồ mà Trung Quốc viện dẫn, người ta thấy ngay các bản đồ loại 1 trên tức bản đồ Trung Quốc đời Nguyên, Minh, Thanh có vẽ các hải đảo như bản đồ Trực tỉnh hải dương tổng đồ trong Dương Phòng Tập Yếu không những có tên Vạn lý Trường Sa , lại còn vẽ các địa danh khác như Tiểu Lưu Cầu, Đại Lưu Cầu (nay là quần đảo Ryu – Kyu của Nhật), Đối Mã (đảo Tsuma của Nhật) …Chẳng lẽ những đảo trên của Nhật Bản có trên bản đồ Trực Tỉnh Hải Dương Tổng Đồ cũng thuộc lãnh thổ Trung Quốc như Vạn lý Trường Sa mà Trung Quốc đã gán ghép hay sao? Hoặc như bản đồ Quảng Đông Dương Đồ cũng trong Dương Phòng Tập Yếu cũng ghi tên Cửu Nhũ Loa Châu của hình núi cao (3 chóp non) và nằm cạnh Lê Đầu Sơn, Nam Bành, hai địa danh này người ta lại thấy trên bản đồ phòng thủ biển trong Quảng Đông Thống Chí Ngũ Nguyên ( 1822) chính lại là tên những đảo ven bờ Cửu Nhũ Loa Châu chính lại là địa danh của hòn đảo gần bờ biển Trung Quốc, không phải là tên quần đảo Tây Sa Trung Quốc mới đặt sau năm 1907

Đối với loại bản đồ thứ hai là "loại bản đồ Trung Quốc đời Minh Thanh và các nước phiên thuộc" lại càng khó chứng minh bằng bản đồ, đảo nào thuộc Trung Quốc !

Trang 30

Trong khi ấy tất cả những loại bản đồ cũng như các sách địa dư do nhà nước biên soạn từ đời Tống (960 – 1279) đến đời Thanh (1616 – 1911) lại không hề vẽ và ghi các đảo ở biển Nam Hải Ngược lại có rất nhiều bản đồ chính thức của Trung Quốc từ đời Nguyên, Minh đến Thanh trong đó có bản đồ ấn bản gần thời điểm có tranh chấp như bản đồ Đại Thanh Đế Quốc trong Đại Thanh Đế Quốc toàn đồ, xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ 4 năm

1910 đã vẽ cực nam của lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, không vẽ bất cứ hải đảo nào khác ở Biển Đông và bản đồ Hoàng Triều Nhất Thống dư địa tổng đồ trong cuốn HoàngThanh Nhất Thống dư địa toàn đồ xuất bản năm Quang Tự 20 (1894) đã ghi rõ cực nam lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Châu, phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông ở 18độ 30phút Bắc, trong khi Tây Sa hay Hoàng Sa được Trung Quốc đặt tên, có đảo ở vị trí cao nhất là 17độ 5phút Ngoài ra còn rất nhiều bản đồ của Trung Quốc khác, vẽ trước năm 1909 đều xác định điểm cực Nam Trung Quốc là đảo Nam Hải (Xem các bản đồ của Trung Quốc trong phần hình ảnh) Điều này chứng tỏ Tây Sa hay Hoàng Sa chưa hề là lãnh thổ của Trung Quốc

Trong khi có rất nhiều bằng chứng cho biết việc người Đức điều tra đo đạc từ năm 1881 đến 1884 ở hấu hết các vùng biển từ Hải Nam đến Bắc Hải,

Vi Châu đến tận Hạ Môn, Phúc Châu không có gì trở ngại, có kết quả tốt mà Sở Thủy đạc hải quân (Pháp) đã sử dụng vẽ bản đồ Mer de Chine Méridionale - Archipel des Paracels, xuất bản năm 1885, mang mã số 4104, ghi rất rõ là"d'après les levés Allemands" (1881-1883)

Trên đây là những luận cứ, luận chứng được “coi mạnh nhất” của Trung Quốc để dẫn chứng cho việc xác lập chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa Không cần nói nhiều đến những luận cứ rất yếu như

Trang 31

chính quyền địa phương Trung Quốc đã cứu giúp tàu thuyền nước ngoài lâm nạn, viện dẫn 2 vụ việc thuyền nước ngoài bị đắm ở Cửu Châu Dương (thuộc Vạn Châu) và ở Thất Châu Dương xảy ra vào đời Càn Long thứ 20 (1755) và năm thứ 29 (1762), chính phủ nhà Thanh lệnh cho quan chức địa phương chu cấp cho người sống sót về nước Những vụ đắm tàu lâm nạn trên cũng được chép cách sau rất lâu vụ đắm tàu của những người lính Hoàng Sa được chúa Nguyễn sai đi làm nhiệm vụ của đội Hoàng Sa, chẳng may gặp bão dạt vào cảng Thanh Lan được chính quyền Quỳnh Nhai thuộc đảo Hải Nam tra xét đúng sự thực đã chu cấp tử tế và đã được chúa Nguyễn Phúc Khoát viết thư

cám ơn (như Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn và Đại Nam Thực Lục Tiền

Biên ghi rất rõ).

Đông Tây Dương Khảo của Chương Tiếp (đời Minh) quyển 9, Châu Sư

Khảo, Tây Dương Châm Lộ, bản có lời tựa năêm Mậu Ngọ Vạn Lịch đời Minh (1618) cũng vậy, có đoạn chép rõ vị trí của Thất Châu Dương, Vạn Lý Thạch Đường như sau:

“Tục truyền xưa đây là Thất Châu, chìm xuống thành biển, thuyền qua dùng sinh (Lòng trâu hoặc dê), cháo tế vua đi tuần biển nếu không hung thần làm ác, thuyền qua đó rất nguy hiểm Hơi lấn sang phía Đông là Vạn Lý Thạch Đường tức là cái mà Quỳnh Chi gọi là Thạch Đường Hải Thuyền phạm vào Thạch Đường , ít cái thoát được Thất Châu Dương đo độ sâu nước 130 sải"

“… Thuyền đến Thất Châu Dương và Ngoại La gặp mấy ngày này cần nhắc thân thuyền, không được lệch về Tây, Tây không có nước, cần trệch về phía Đông Phàm đi thuyền, phải xem nước phía Tây sắc xanh, thấy nhiều

“bãi lãng ngư” (là lạng sóng), lấn về Đông tất mầu nước đen; mầu xanh, có cây gỗ mục trôi và chim vịt kêu, tiếng như chim trắng đuôi mang đen ấy là

Trang 32

hướng đúng (chính chân) Nếu ngại vào mà cho thuyền chạy lệch về phía Đông, chạy trong 7 canh là Vạn Lý Thạch Đường trong có 1 núi đá đỏ không cao Nếu thân thuyền cạn lại thấy đá phải đề phòng cẩn thận”.

Đến đây, nhóm Hàn Chấn Hoa ghi chú Thất Châu Dương là Tây Sa, Thất Châu, Vạn Lý Thạch Đường … chỉ chung các đảo Nam Hải

Sách Thuận Phong Tương Tống chép: “Ngày xưa các bậc tiên hiền

Thượng Cổ đi trên biển, đều sử dụng phổ biến la bàn 24 vị (ngôi) Đường chính đi Thất Châu Dương trên không rời Cấn (Đông Bắc đến Đông) dưới không rời Khôn (Tây Nam đến Tây)”.

Văn kiện Ngoại Giao Trung Quốc năm 1980 cũng như Bộ Sưu Tầm Tư Liệu của nhóm Hàn Chấn Hoa cũng nêu tư liệu văn vật khảo cổ hay tư liệu Canh Lộ Bạ của các ngư dân ở đảo Hải Nam Thật uổng công, bởi dù có tìm thấy nhiều cổ vật Trung Quốc hay đồng tiền cổ (như tiền Vĩnh Lạc) thì cũng giống như các nhà khảo cổ Pháp tìm thấy nhiều đồng tiền La Mã và cổ vật của thời La Mã cổ đại ở di chỉ Oùc Eo (Nam Bộ Việt Nam) Không thể kết luận người La Mã đã phát hiện hay có chủ quyền đối với Việt Nam Điều tai hại trong tư liệu văn vật khảo cổ mà Trung Quốc dẫn chứng ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée) lại ghi rõ có “Hoàng Sa Tự” là bằng chứng chủ quyền của Việt

Nam như đã trình bày Cũng thế Canh Lộ Bạ của ngư dân đảo Hải Nam lại

ghi Đông Hải mà Đông Hải là biển phía Đông Phía Đông của đảo Hải Nam hay của nước Trung Hoa thì ở đâu ai cũng đều biết Vị trí của Hoàng Sa, Đoàn Sa đều ở phía Nam của đảo Hải Nam hay Trung Quốc!

Với những luận cứ, luận chứng phi lý, mơ hồ, thiếu xác thực như trên, văn kiện Bộ Ngoại Giao Trung Quốc năm 1980 lại phê phán lập luận trong sách trắng Việt Nam năm 1979 rằng “phần đầu những tư liệu đó một ngón

Trang 33

chỉ hươu nói là ngựa, còn phần sau thì hoàn toàn không thể đứng vững được và cũng là không có giá trị luật pháp”.

Văn kiện trên cho rằng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam vốn hoàn toàn không phải là quần đảo Tây Sa, Nam Sa của Trung Quốc, mà chỉ có thể là những đảo và cồn cát ở ven biển miền Trung Việt Nam, mà nhóm Hàn Chấn Hoa còn nói bừa rằng Hoàng Sa chính là Cù Lao Ré hay Cù Lao Chàm Trong khi chính ngay Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, tài liệu mà Trung Quốc viện dẫn lại có nhiều đoạn ghi rất rõ Bãi Hoàng Sa ở gần địa phận Phủ Liêm Châu thuộc Hải Nam hay sự kiện hai lính Hoàng Sa trong khi đi công tác

bị giạt vào cảng Thanh Lan (Hải Nam) vào năm Càn Long thứ 18 (1754)

Văn kiện ngoại giao Trung Quốc năm 1980 viết rằng cuốn sách trắng của Việt Nam 1979 không tìm ra được bất cứ một tài liệu lịch sử nào có giá trị công nhận Trường Sa tức là quần đảo Nam Sa của Trung Quốc Điều này là đương nhiên vì Nam Sa của Trung Quốc không có thật, bất nhất: năm 1935 Nam Sa ở bãi đá ngầm Macclesfield, đến năm 1947 Nam Sa lại chuyển xuống phía Nam như đã nhắc đến nhiều lần Rồi đây Nam Sa có ngừng ở vị trí 4 độ Bắc hay còn

di chuyển thêm nữa? Sách Phủ Biên Tạp Lục đã xác định rõ Đại Trường Sa hay Trường Sa của Việt Nam cũng ở xứ Bắc Hải mà xứ Bắc Hải lại ở phía Nam Biển Đông, tiếp tới đảo Côn Lôn Như vậy là đủ rồi !

Văn kiện ngoại giao Trung Quốc năm 1980 còn rêu rao rằng nhà cầm quyền Việt Nam đã lật lọng:

“Giờ đây, nhà cầm quyền Việt Nam lại tráo trở lật lọng, nuốt trôi những lời họ đã nói, hoàn toàn làm sai trái với lập trường trước đây của họ công nhận quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc Đó là điều luật pháp quốc tế quyết không cho phép được”.

Trang 34

Trước hết, nếu nói đến luật pháp quốc tế có giá trị cho tất cả các nước (trong đó có cả Trung Quốc) đã ký hiệp định Genève năm 1954, thì Miền Nam Việt Nam ở từ vĩ tuyến 17 trở xuống trong đó bao gồm các đảo Hoàng

Sa và Trường Sa do quân đội viễn chinh Pháp sau năm 1956 giao lại cho chính quyền ở Miền Nam Việt Nam quản lý

Chính quyền Sài Gòn và sau đó chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam mới có trách nhiệm quản lý, bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa Chưa bao giờ hai chính quyền Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam cũng như Việt Nam Cộng Hoà đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền này cả Bất cứ chính phủ nào, kể cả chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, không phải các chính quyền ở Nam Việt Nam, theo hiệp định Genève lúc bấy giờ không trực tiếp quản lý lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, dù tuyên bố như thế nào cũng chỉ có giá trị về chính trị thời bấy giờ, không ảnh hưởng gì đến chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa!

Chính khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa tháng 1 năm 1974, chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam đã từng tuyên bố rằng vấn đề này là vấn đề lịch sử để lại, cần giải quyết bằng giải pháp hoà bình

Vì thế, bất cứ lời tuyên bố của bất cứ chính quyền nào kể cả chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cũng không có giá trị pháp lý quốc tế về chủ quyền tại hai quần đảo này

Lập trường của chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam đối với sự kiện Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1 năm

1974 đã phản ảnh trung thực đường lối của Cách Mạng Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo Còn bất cứ điều gì khác chỉ phản ánh những

Trang 35

hành động cùng nhau đấu tranh chống kẻ thù chung Ngoài ra Trung Quốc đã xuyên tạc lời tuyên bố của thủ tướng Phạm Văn Đồng Thủ tướng chỉ tán thành bản tuyên bố quyết định về hải phận của Trung Quốc, của chính phủ CoÄng Hoà Nhân Dân Trung Hoa mà thôi.

Trong thực tế, Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc không phải là Hoàng

Sa và Trường Sa của Việt Nam, chỉ là sự gán ghép, suy diễn, không hề có sự chiếm hữu trong lịch sử của Trung Quốc trước năm 1909 đối với Tây Sa và trước 1935 đối với Nam Sa

Sau văn kiện ngoại giao ngày 31 tháng 1 năm 1980, Trung Quốc còn công bố bị vong lục năm 1988 đồng thời có nhiều công trình nghiên cứu như

"bộ sưu tập sử liệu" của nhóm Hàn Chấn Hoa đã dẫn chứng Tuy có cố gắng sưu tầm nhiều hơn song luận điểm không có điều gì mới mẻ đáng kể, cũng cho rằng người Trung Quốc phát hiện sớm như kinh doanh, sản xuất sớm nhất và quản hạt sớm nhất Song vì không có thật nên dù có công phu đến bao nhiêu cũng chỉ là công trình xây lâu đài trên bãi cát và uổng công “dã tràng

xe cát biển Đông” Và vì thế trong văn kiện ngoại giao của Trung Quốc có đưa ra nhiều bằng chứng về sự bảo vệ chủ quyền cũng như những nước ủng hộ chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đều không đáng quan tâm vì những luận cứ và luận chứng về sự chiếm hữu thật sự của Trung Quốc đã không đứng vững, không có cơ sở khoa học, không có tính thuyết phục

2.2 Những chứng cứ và quan điểm của Việt Nam

Phải nĩi rằng, vì hồn cảnh chiến tranh, nên tài liệu lịch sử của Việt Nam

đã bị tàn phá hoặc thất lạc rất nhiều Việt Nam đã đưa ra những tài liệu lịch sử

và địa lý đủ để chứng minh rằng mình đã khám phá ra hai quần đảo này từ lâu,

Ngày đăng: 09/07/2014, 23:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Báo Tuổi Trẻ. http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ Link
20. Trung tâm nghiên cứu Hoàng Sa. http://hoangsa.org/ Link
21. Tạp chí Thời Đại Mới. http://www.tapchithoidai.org/index.htm Link
22. Ủy ban Biên giới Quốc gia - Bộ Ngoại Giao.http://www.biengioilanhtho.gov.vn Link
23. Biển Đảo Việt Nam. http://www.biendao.org Link
1. Việt Nam (CHXHCN). Bộ ngoại giao. Sự thật về quan hệ Việt Nam -Trung Quốc trong 30 năm qua. Nxb Sự thật. 1981 Khác
2. Việt Nam (CHXHCN). Bộ Quốc Phòng. Việt Nam củng cố Quốc Phòng bảo vệ tổ quốc. Hà Nội – 1998 Khác
3. Việt Nam (CHXHCN). Bộ Quốc Phòng. Quốc Phòng Việt Nam. Hà Nội 12 -2009 Khác
4. Nguyễn Thế Anh, Tạ Chí Đại Trường…(cb). Đặc khảo Hoàng Sa. Tập san Sử Địa. số 29. 1975 Khác
5. Nguyễn Đình Đầu. Thử nhận xét về An Nam Đại quốc họa đồ. Tạp chí Xưa và Nay. Số 339. 2009 Khác
6. Grantơ Ivanxơ, Kenvin Rânlây. Chân lý thuộc về ai. (Người dịch: Nguyễn Tấn Cưu). Nxb. Quân đội nhân dân, 1986 Khác
7. Monique Chemilier Gendreau. chủ quyền trên hai quần đảo hoàng sa và trường sa. (Nguyễn Hồng Thao dịch). Nxb Chính trị quốc gia, 1998 Khác
8. Công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982. (Người dịch: Lê Minh Nghĩa…). Nxb Chính trị Quốc gia, 1999 Khác
9. Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa. Tập san Sử Địa. Số 29.1975 Khác
10. Nguyễn Nhã, Nguyễn Đình đầu…Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Tp Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ. 2008 Khác
11. GS. Phạm Đình Nhân. Almanach Những sụ kiện lịch sử Việt Nam. Nxb VHTT Hà Nôi – 1999 Khác
12. Phú Khánh. Huyện đảo Trường Sa. Nxb Tổng hợp Phú Khánh. 1988 Khác
13. Marwyn S. Samuels. Tranh chấp Biển Đông. Nxb Methuen New York and London. 1982 Khác
14. GS Luật Quốc Tế Christopher C. Joyner. Tranh chấp quần đảo Trường Sa. Đại học Georgetown Washington Khác
15. Nguyễn Huy Toàn... Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung Nxb. Đà Nẵng, 1996 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w