Philippin đã xây dựng đợc trong lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ đấu tranhchống Chủ nghĩa thực dân đô hộ.Từ thực tế nghiên cứu Philíppin nói chung và văn hoá Philíppin nói riêng,việc t
Trang 1A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
Một dải đảo nằm ở phía Đông Nam của Việt nam, trên rìa phía Tây TháiBình Dơng là nớc cộng hoà Philíppin Đây là nơi có đầy đủ sự u đãi của thiênnhiên, đất đai phì nhiêu, khí hậu thuận lợi nên động, thực vật phong phú,nhiều tài nguyên thiên nhiên, giàu khoáng sản nhất là vàng Việc đi tìm vàngcủa ngời phơng Tây chính là động lực thúc đẩy ngời phơng Tây tìm đến xứ sởnày từ rất sớm Ngời phơng Tây đầu tiên dặt chân đến Philíppin là nhà thámhiểm Magienlăng vào năm 1521 và sau đó bắt đầu sự xâm lăng của ngời TâyBan Nha vào giữa thế kỷ XVI Cái tên Philippin đợc ngời Tây Ban Nha gọivùng đất này đã trở thành quen thuộc đối với thế giới kể từ đó
Việt Nam và Philíppin cùng nằm trong khu vực Đông Nam á, có nhiều néttơng đồng về lịch sử văn hoá Trong quá trình đấu tranh dựng nớc và giữ nớcnhân dân hai nớc đã nhiều lần đứng lên chống sự xâm lợc của bọn thực dânphơng Tây
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử và diễn biến phức tạp của khu vực,Việt Nam cũng thiết lập đợc mối quan hệ mật thiết với Philíppin Thông qua
tổ chức ASEAN hai nớc lại càng thắt chặt hơn mối quan hệ Việt Nam gia
nhập ASEAN là để khẳng định “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nớc trên thế giới ”.
Sau sự kiện trên, việc nghiên cứu về Đông Nam á nói chung và Philíppinnói riêng ở Việt Nam càng đợc phát triển sâu rộng hơn Các công trình chuyênkhảo, các tài liệu dịch và các tạp chí viết về Philíppin cũng xuất hiện ngàycàng nhiều
Là một nớc có trên 7.000 hòn đảo, c dân sống không tập trung, lại bị chiphối bởi nhiều nền văn hoá khác nhau nh: ấn Độ, Trung Quốc, ả rập - Hồigiáo và Thiên chúa giáo, đã tạo nên sự hỗn hợp về chủng tộc - Ngôn ngữ và sự
đa dạng về văn hoá Với sức mạnh dân tộc và sức mạnh cội nguồn, nền vănhoá Philíppin, không phải là sự phân chia thành từng mảng mà là sự hợp nhất
thành một thể thống nhất “Thống nhất trong đa dạng ”, mang bản sắc riêng
Trang 2Philippin đã xây dựng đợc trong lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ đấu tranhchống Chủ nghĩa thực dân đô hộ.
Từ thực tế nghiên cứu Philíppin nói chung và văn hoá Philíppin nói riêng,việc thực hiện đề tài này trớc hết nhằm nâng cao hiểu biết của bản thân về dântộc và tìm hiểu những giá trị văn hoá truyền thống của đất nớc Philíppin Mặtkhác giúp bản thân hiểu thêm những vấn đề quan trọng của lịch sử văn hoáphơng Đông và giảng dạy tốt hơn về lịch sử Đông Nam á
Với ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài “Bớc đầu tìm hiểu văn hoá Philíppin cuối thế kỷ XIX đến nửa đẩu thé kỷ XX” - tức thời kì bị đế quốc Mĩ xâm lợc, làm
khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Lịch sử Philíppin nói chung và lịch sử văn hoá Philíppin nói riêng từ lâu
đã thu hút đợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nớc.Tuy nhiên, do khả năng ngoại ngữ hạn chế bản thân không trực tiếp sử dụngtrực tiếp các công trình nghiên cứu của các học giả nớc ngoài mà chỉ sử dụngdán tiếp qua những trích đoạn trong các công trình nghiên cứu đó của các họcgiả trong nớc, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu
Đông Nam á và các tạp chí nghiên cứu Đông Nam á
Cuốn tìm hiểu lịch sử kinh tế - Văn hoá các nớc Đông Nam á hải đảo đãtrình bày khái quát về lịch sử văn hoá Philippin qua các giai đoạn; Cuốn tìmhiểu lịch sử văn hoá Philíppin - Đức Ninh (chủ biên) là tập hợp các bài viếtcủa các cán bộ nghiên cứu trong Viện nghiên cứu Đông Nam á, về tất cả cáclĩnh vực Văn hoá đời sống của ngời dân Philíppin; Cuốn đối thoại với các nềnvăn hoá Philippin - Trịnh Huy Hoá (biên dịch) đây là cuốn sách viết về cácmặt sinh hoạt văn hoá truyền thống cũng nh các phong tục tập quán của ngờidân Philippin từ xa đến nay; Cuốn văn hoá Đông Nam á, Nguyễn Tấn Đắc(chủ biên), đi sâu khai thác những khía cạnh nổi bật của văn hoá Philíppin,nhằm giới thiệu sơ lợc về văn hoá Philíppin, đặ biệt là phần lễ hội
Ngoài ra còn nhiều các tác phẩm nghiên cứu của Viện nghiên cứu ĐôngNam á, các sách giáo trình của Bộ giáo dục và các nhà xuất bản, các tạp chí
có viết về lĩnh vực văn hoá Tuy nhiên các tác phẩm đó chỉ phản ánh tổng thể
về các lĩnh vực văn hóa chứ cha đi sâu phân tích những tác động của nó đốivới xã hội
Sau một quá trình su tầm, tìm tòi và xử lý các tài liệu trên, tôi đã tập hợplại nhằm phục vụ cho đề tài khoá luận của mình
Trang 33 Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu.
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Văn hoá là một khái niệm mà nội hàm của nó rất rộng Từ trớc đến nay
đã có hàng trăm khái niệm về văn hoá Ngày nay văn hoá đã thoát ra khỏi ý
nghĩa thông thờng là "học vấn", mà nó đã mang một ý nghĩa hết sức căn, rộng lớn hơn Văn hoá là "Toàn bộ những giá trị vật chất và tình thần bao gồm trình độ sản xuất, khoa học, văn học nghệ thuật, đạo đức, tập quán … mà loài mà loài ngời hay một dân tộc tạo ra nhằm phục vụ cho nhu cầu của mình trong quá trình phát triển lịch sử của mình" [8,240].
Trong đề tài khoá luận của mình, do hạn chế về trình độ, kinh nghiệm,cũng nh thời gian nên tôi chỉ đề cập đến văn hoá dới góc độ lịch sử để nhìnnhận những thành tựu vật chất cũng nh tinh thần mà nhân dân Philippin xâydựng trong thời kỳ bị đế quốc Mỹ xâm lợc - cuối thế kỷ XIX đến nửa đàu thế
kỷ XX
3.2 Phơng pháp nghiên cứu:
Để đạt đợc mục đích nghiên cứu và bảo đảm những yêu cầu khoa họccủa khoá luận, việc thực hiện đề tài này trớc hết phải dựa trên cơ sở phơngpháp luận Mác xít, xem xét, đánh giá các sự kiện, hiện tợng, các quá trình lịch
sử văn hoá theo quan điểm duy vật biện chứng Đồng thời vận dụng phơngpháp lịch sử, phơng pháp lôgic, trình bày các sự kiện, hiện tợng đúng nh nótồn tại Tiến hành phân tích hoá, tổng hợp hoá, khái quát hoá, trừu tơng hoá,trên cơ sở những sự kiện cụ thể, rõ ràng chính xác Ngoài ra còn sử dụng ph-
ơng pháp so sánh đối chiếu những nguồn t liệu khác nhau cùng phản ánh một
sự kiện để xem xét, đánh giá một cách khoa học
4 Cấu trúc của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và th mục tham khảo ra, khoá luận còn cóphần nội dung với 3 chơng, cụ thể:
Trang 42.3 Vai trò của văn hoá trong đời sống đất nớc.
Tổng quan về địa lý, dân c và tiến trình lịch sử của Philíppin.
1.1 Điều kiện tự nhiên và c dân:
1.1.1 Điều kiện tự nhiên:
- Vị trí địa lý: Philíppin là một quốc gia quần đảo nằm giữa lục địaChâu á và Ôxtrâylia, trên đờng hàng hải quốc tế từ ấn Độ Dơng sang TháiBình Dơng Philíppin còn là giao điểm của nhiều đờng hàng không quốc tế và
có nhiều cảng biển tốt Với 7.107 hòn đảo lớn nhỏ, Philíppin là một trongnhững quốc gia có nhiều đảo nhất trên thế giới, trải dài khoảng 1.850km từBắc xuống Nam, giữa vỹ tuyến 4023 đến 21025 Bắc và kinh tuyến 1160 đến
Đúng với tính chất “Đảo” ở Philíppin với hơn 7.000 hòn đảo, trong đó
chừng 2.773 hòn đảo là có diện tích đáng kể và có tên gọi, số còn lại có diệntích không đáng kể và đơn độc nên không có tên gọi, ở đó còn có nhữngmiệng núi lửa đang bốc cháy
C dân Philíppin sống chủ yếu trên 800 hòn đảo Chừng 90% dân c sốngchủ yếu trên 11 hòn đảo lớn nh: Luson, Minđanao, Nefros, Palaoăn…11 hòn11 hòn
đảo này chiếm 90% diện tích của đất nớc Đáng kể nhất trong số các đảo trên
là hai đảo Luson, và Minđanao
Trang 5Đảo Luson là đảo lớn nhất với diện tích 141.400km2, phần lớn diện tích
là đồi núi với đỉnh cao nhất là Palog (2.928m) Núi trên đảo thấp dần về phíaBắc và phía Đông Rìa phía Đông và phía Nam của đảo là một dải đồng bằnghẹp chạy men theo bờ biển Đồng bằng lớn nhất là đồng bằng Manila nằm ởtrung tâm của đảo với chiều dài 190km, kéo dài từ vịnh Lugain tới vịnhManila Đồng bằng này đợc cung cấp nớc bởi 2 con sông Pamganga ở phíaNam và Agnô ở phía Bắc Đây là vửa lúa chính của Philippin
Minđanao là đảo lớn thứ hai của Philíppin, với diện tích 102.000km2 ởphía Tây Nam của đảo này có đồng bằng Katobato rộng lớn nó đợc cung cấpnớc bở con sông Cagaran ở đây ngời ta trồng rất nhiều dừa ở phía Nam có
hồ Buluan cũng là một nguồn nớc quan trọng Đỉnh núi cao nhất của đảo cũng
là đỉnh cao nhất Philippin là đỉnh Apo với độ cao 2.965m
Đảo Luson đợc coi nh là đại diện, là trung tâm của đất nớc Trớc đâythủ đo chính thức của đất nớc là Kêsơn (Kêsơn City) song trên thực tế thìthành phố Manila lại là trung tâm kinh tế, chính trị, thơng mại và văn hoá của
đất nớc Ngày nay Manila đã trở thành thủ đô của Philippin Hải cảng Manilacũng là lớn nhất
- Khí hậu: Nằm trong vành đai khí hậu xích đạo với nhiệt độ trung bìnhhàng năm lên hơn 250C, Philíppin đợc coi là dất nớc của mùa hè Sự vắng mặtcủa mùa đông giá rét tạo điều kiện cho động, thực vật ở đây rất phong phú vàtơi tốt Sự biến động của nhiệt độ theo mùa ở Philíppin hầu nh không thể nhậnbiết đợc, nó chỉ giao động ở 2 đến 30C Nhiệt độ trung bình mùa hè khoảng26,90C đến 28,10C Còn mùa đông nhiệt độ trung bình lên tới 25,40C - 26,50CCho nên quanh năm nhân dân vẫn sản xuất đợc hai đến ba vụ mùa Tuy nhiên
ở những vùng núi thì nhiệt độ giảm xuống rõ rệt và biên độ thay đổi cũng cảmthấy rõ nét hơn
Khí hậu ở Philíppin mang những đặc trng nhiệt đới - biển - gió mùa Là
đất nớc đa đảo nên ảnh hởng của biển đối với khí hậu ở đây là tất yếu Yếu tốgió mùa đợc thể hiện rõ ở chỗ: Từ tháng 6 đến tháng 8 đầy gió mùa Tây Nam,còn từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau là sự thống trị của gió mùa Đông Bắc,tháng 5 và tháng 9 là gió mùa chuyển chiều
Trên thực tế ở Philíppin chủ yếu đợc phân biệt theo lợng ma: Chia làmhai mùa rõ rệt là mùa ma và mùa khô Với lợng ma hàng năm rất lớn từ 1.000
đến 1.400 ly Chủ yếu tập trung vào mấy tháng mùa ma
Trang 6- Về mặt địa hình: Là đất nớc có nhiều đồi núi Các dãy núi và caonguyên chiếm hầu nh 3/4 diện tích của đất nớc Các dãy núi đa phần chạy dàitheo hớng Tây Bắc - Đông Nam Bởi vậy nó làm cho chế độ gió mùa ởPhilíppin trở nên phức tạp hơn.
Đặc tính đảo và địa hình núi ở Philíppin đã tạo nên ở đây những đồngbằng nhỏ hẹp, với kích thớc chiều rộng ít khi lớn hơn 10 đến 15km Đó lànhững giải đất thấp chạy dọc ra bờ biển, hoặc là những thung lũng giữa núi.Các đồng bằng ven biển đặc trng hơn ở phía Tây của quần đảo nơi mà bờ biển
bị chia cắt bởi vô số những vùng vịnh ăn sâu vào đất liền Do vậy mà phần ởphía Tây hầu nh không có các cụm san hô gây nguy hiểm cho tàu bè đi lại,nên các hải cảng của Philíppin đa phần đầu nằm ở phía Tây
Do có nhiều đảo, nhiều núi non hiểm trở cho nên ở Philíppin cũng cónhiều sông, sông ở Philíppin thờng ngắn, chạy xiết Các sông lớn và quantrọng là sông Pampanga, Agno, Cagoayan và Pasig trên đảo Luson, sôngAngusan và Minđanao trên đảo Minđanao
Ngoài ra Philíppin còn là quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên quý hiếm
và trữ lợng khá nh Đồng, Sắt, Nike, Prôm, Mangan, Thuỷ ngân, Vàng, Bạc,Uranium và Địa nhiệt Philippin đứng đầu Châu á về khai thác Vàng, Bạc, nh-
ng lại rất ít tiềm năng về Dầu khí và Than
ở Philíppin các cây trồng chính trong nông nghiệp là lúa, ngô, dừa,mía, chuối, dứa, cà phê, thuốc lá, bông, đay, các loại đậu và cây lấy sợi Dừa
là cây trồng cho thu nhập cao nhất trong nông nghiệp Cây dừa đợc xem là câycủa đời sống bởi hầu hết các tỉnh đều sản xuất dừa và khoảng 1/3 dân số có
đời sống liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến ngành công nghiệp dừa
Tất cả những điều kiện tự nhiên, vị trí đại lý của Philíppin đã chi phối
đến sự hình thành văn hoá và phát triển của đất nớc Philíppin
1.1.2 Dân c Philippin:
Philippin là nớc đông dân thứ ba Đông Nam á (Sau Inđônêsia và ViệtNam) với dân số năm 1998 là 70,3 triệu ngời Mặc dù tỷ lệ tăng dân số hiệnnay (Trên 2,3%) đã giảm nhiều so với tỷ lệ 3,0% trong thập kỷ 60 và 2% trongthập kỷ 80, nhng Philippin là một trong những nớc ở Châu á có dân số tăngnhanh Hơn 40% dân số ở Philíppin sống ở đô thị [5,13]
Ngời ta thờng chia ngời Philíppin ra làm 3 nhóm: Những nhóm c dânvùng thấp theo đạo Cơ đốc, những c dân theo đạo Islam và những c dân bản
Trang 7xứ theo thuyết vật linh Đó là cách chia nhóm theo tôn giáo, đặt cơ sở trên sựkhác biệt về văn hoá hơn là trên cơ sở khác biệt về chủng tộc
Khoảng 90% ngời Philíppin là c dân vùng thấp theo đạo Cơ đốc [8,55].Phần lớn làm nghề nông và nghề cá, sống ở thành phố là số đông những ngời
có nghề nghiệp chuyên môn, hoặc là công nhân Nhóm ngời đông nhất lànhóm Tagan sống ở miền Trung và miền Nam của đảo Luson, đặc biệt là ởManila Còn nhóm nói tiếng Visaya thì chiếm đại đa số ở miền Trung trongkhi một nhóm hỗn hợp những ngời di c của đảo Luson và đảo Visaya thì định
c ở Minđanao
Ngời Philippin theo đạo Islam, đôi khi đợc gọi là ngời Mô rô sống ởmiền Nam đảo Miđanao và đảo Sulu Họ gồm có 4 nhóm Nhóm Tansug vàSamal sống ở ven biển, trong khi nhóm Maguiđanao và Maranao sống ở trong
đất liền
Ngời Philíppin bản xứ theo tín ngỡng vật linh sống ở nhiều vùng sâuvùng xa Họ gồm những ngời khoẻ mạnh mặc khố của quần đẩo Cordilleras,nhóm vùng cao ngời Aeta nhút nhát sống trong hang núi ven biển, nhóm các
bộ lạc vùng cao Minđanao có trang phục và các nghi lễ đồng màu sắc vànhóm ngời Mangya hiền lành ở Minđanao
Ngoại kiều chủ yếu là Hoa kiều tiếp đó là ngời Mĩ và Tây Ban Nha, họsống tập trung ở Manila và một số trung tâm buôn bán khác
ở Philíppin c dân sử dụng hơn 65 ngôn ngữ và thổ ngữ khác nhau Songchỉ gồm những thứ tiếng Visayan (44%), tiếng Tagalog (25%) [11,15] Mặc
dù vậy tiếng Tagalog lại đợc coi là ngôn ngữ chính thống ở Philíppin Hiệnnay trên thực tế các loại văn kiện giấy tờ, công văn chính thức của Nhà nớc
đều dùng bằng tiếng Anh
Nh vậy điều kiện tự nhiên và c dân có ảnh hởng và tác động trực tiếp
đến nền văn hoá Philíppin Với sự đa dạng về chủng tộc, ngôn ngữ cùng với sựphức tạp về địa hình đã tạo cho Philíppin một sự đa dạng về các nền văn hoá,chẳng khác gì những ngôi sao muôn màu của bức tranh địa lý, môi trờng củaPhilíppin
Về lịch sử văn hoá của Philíppin ta có thể thấy các tầng văn hoá trầmtích lên nhau theo thời gian lịch sử Lớp văn hoá nguyên sơ (bản địa) trớc khiTây Ban Nha xâm lợc, lớp văn hoá từ khi Tây Ban Nha vào Philíppin (1564 -1900), lớp văn hoá khi Mỹ vào Philíppin (1890 - 1946) và văn hoá Philíppinsau khi dành đợc độc lập (1946 đến nay) Những lớp văn hoá ấy hoà quyện
Trang 8vào nhau, để lại những dấu tích đến hôm nay Đó là văn hoá của nhân dânPhilíppin, mang đặc thù riêng trong nền văn hoá khu vực Đông Nam á.
1.2 Khái quát tiến trình phát triển của lịch sử Philíppin
1.2.1 Từ thời tiền sử đến trớc khi thực dân Tây Ban Nha xâm lợc -
1564.
Các bằng chứng khảo cổ học tìm thấy ở Philíppin đã chứng minh conngời xuất hiện ở đây vào sơ kì đồ đá - vào khoảng 50 ngàn năm trớc côngnguyên Ngời hiện đại thuộc đại chủng Ôxtralôit xuất hiện trên quần đảo nàyvào khoảng 25 - 22 ngàn năm trớc công nguyên Từ hai ngàn năm trớc côngnguyên bắt đàu xuất hiện làn sóng nhập c vào Philíppin của ngời thuộc tiểuchủng Môngôlôit phơng Nam Vào những thế kỷ sau công nguyên, ngờiMôngôlôit nhập c ồ ạt vào Philíppin từ lãnh thổ Inđônêxia Họ định c, trồnglúa nớc có áp dụng thuỷ nông, họ còn khai khẩn các sờn đồi để làm ruộng bậcthang Làn sóng nhập c vào Philíppin chấm dứt vào thế kỷ V Nhng từ đó cuộcsống của ngời Philíppin lại chịu ảnh hởng bởi các giá trị văn hoá của các bộtộc trên quần đảo Inđônêxia
Từ thế kỷ IX, ngời Philíppin bắt đầu có quan hệ trực tiếp với ngời Hoa.Ngời Hoa đến quần đảo này ngày một đông và nhanh chóng chiếm vị trí u thế
ở Philíppin
Trớc khi ngời Tây Ban Nha đến Philíppin, dân chúng sống tập trungthành những cộng đồng khoảng một ngàn gia đình Công xã lãng giềngBarangay (giống nh một xã) là đơn vị kinh tế - chính trị của cộng đồng Một
đơn vị có thể có từ 30 - 100 gia đình quý tộc (Đato) đứng đầu Một vài nơi đãxuất hiện liên minh công xã, nhng các liên minh công xã đó chỉ có tính chấttạm thời chứ cha có yếu tố mang tính chất liên minh vững chắc ở các đảomiền Nam đã có sự hình thành các quốc gia đầu tiên Khi Hồi giáo đến đây nó
đã nhanh chóng biên các quốc gia Kholô và Minđanao thành những vơngquốc Hồi giáo có quan hệ chặt chẽ với bán đảo Malayxia
Chế độ công xã nguyên thuỷ vẫn tiếp tục thống trị ở các vùng bên trongquần đảo ở một số vùng tại Luson và Cebu đã hình thành các quan hệ phongkiến sơ kì, nhng vẫn bảo lu những quan hệ thị tộc - bộ lạc ở đây đã có sựphân chia giai cấp
Xã hội Philíppin có các giai cấp quý tộc, nông dân tự do và một tầnglớp thứ ba giống nh mục phu ở Châu Mỹ - La Tinh Các nhà nghiên cứu chorằng ở Philíppin có nô tì nhng không có phơng thức sản xuất nô lệ
Trang 9Ruộng đất theo hình thức phổ biên nhất là sở hữu Barangay do bọn
Đato sử dụng cùng với số nông dân phụ thuộc Nền kinh tế mang tính chất tựnhiên đã bắt đầu bị phân hoá Ngành thủ công nghiệp đã bắt đầu tách ra khỏinông nghiệp, tuy nhiên kỹ thuật canh tác còn thô sơ và trình độ phát triển sảnxuất cũng còn tháp kém
1.2.2 Thời kì bị thực dân Tây Ban Nha chiếm đóng (1564 - 1898).
Hơn 300 năm bị thực dân Tây Ban Nha đô hộ, đây là thời kỳ đen tốinhất trong lịch sự Philíppin Bọn thực dân Tây Ban Nha bắt đầu xâm lợcPhilíppin vào năm 1564 Năm 1571 Tây Ban Nha tuyên bố Manila là thủ đôcủa toàn thuộc địa này Đến thập kỷ 80 của thế kỷ XVI việc chinh phụcPhilippin coi nh đã hoàn tất Tuy nhiên, các bộ tộc miền núi và các vùng thuộc
c dân Hồi giáo vẫn không chịu sự kiểm soát của bọn thực dân Tây Ban Nha
Khác với các thuộc địa khác của Tây Ban Nha ở châu Mỹ - La Tinh, ở
đây Tây Ban Nha không xác lập quyền cai trị trực tiếp của nhà vua mà thihành chế độ bảo hộ do một viên toàn quyền đứng đầu với một số quan chứcthực dân Chúng cố giữ lại một số thiết chế chính trị, kinh tế, xã hội cổ truyềnsau khi đã làm cho nó biến tích và thích ứng hơn đối với họ Bọn thực dân đãcấu kết với bọn cai trị bản xứ áp dụng chính sách chia để trị, gây mâu thuẫn vàxung đột chủng tộc, tôn giáo, thực hiện ngu dân, nhà thờ và sức mạnh huyền
bí của cây Thánh giá là công cụ cai trị của thực dân Tây Ban Nha
Thực dân Tây Ban Nha chia quyền cai trị cho bọn quý tộc (Đato) bản
xứ, mở rộng quyền hành của bọn Cacxic (Thủ lĩnh và chúa đất) và bọn hào
mục Do đó ảnh hởng của bọn hào mục tăng lên nhanh chóng, các nhóm “Gia
đình trị” ở từng địa hạt đợc hình thành.
Đạo Cơ đốc là một công cụ đắc lực trong việc thống trị Philíppin.Chúng đã dùng Cơ đốc giáo chống lại Hồi giáo gây ra các cuộc xung đột tôngiáo kéo dài hàng mấy thế kỷ, chúng biến nhà thờ Cơ đốc thành cơ quanquyền lực, nhà tù tinh thần và phơng tiện bóc lột
Mặt khác, Tây Ban Nha đã thiết lập chế độ phong kiến xét về mặt lịch
sử thì tiến bộ hơn trớc đó nhng tàn bạo hơn, gây nên tổn thất nhiều hơn về mọimặt, huỷ hoại nền văn hoá các dân tộc Philíppin
Suốt hai thế kỷ XVII - XVIII, Tây Ban Nha đã cô lập đợc Philíppin vàtránh đợc hai cuộc xâm nhập của Hà Lan (1600 -1648) và của ngời Anh (1762-1764) Đến cuối thế kỷ XVIII giữa Tây Ban Nha và Philíppin vẫn cha có quan
hệ buôn bán trực tiếp với nhau Đứng trớc nhu cầu và quyền lợi phát triển t
Trang 10bản ở chính quốc vào thập kỷ 80 của thế kỷ XVIII các cuộc cải cách kinh tế
đã diễn ra tại Philíppin Quan hệ buôn bán đợc mở rộng
Bớc vào thế kỷ XIX, trớc sự phát triển của Mỹ, Anh, Pháp, Tây BanNha không đủ sức cô lập Philíppin nữa và buộc phải mở cửa Các nớc t bảnphơng Tây đã đặt đợc các văn phòng thơng mại của mình tại Manila và đếnthập kỷ 60 của thế kỷ XIX thì tất cả các cảng của Philíppin đều đợc tự do hoáthơng mại Do vậy mà quan hệ sản xuất t bản ra đời, đối lập với quan hệ sảnxuất phong kiến bảo thủ đang duy trì ở đó Thị trờng nội địa đợc hình thành,cơ cấu nông nghiệp đợc thay đổi theo hớng xuất khẩu nông sản và tiền tệ hoá
đất đai, xuất hiện các xởng sản xuất ở đô thị và kinh tế đồn điền đợc thiết lập
Sự phát triển kinh tế đó đã dẫn tới những biến đổi về xã hội, giai cấp t sản
th-ơng nghiệp, cho vay nặng lãi, vô sản thành thị và tiểu t sản ra đời
Lịch sử giai đoạn này là lịch sử đấu tranh kiên cờng của Philíppin vì
độc lập dân tộc Làn sóng khởi nghĩa chống bọn xâm lợc liên tiếp nổ ra, đặcbiệt là phong trào nông dân Nhng phong trào khởi nghĩa của nông dân trớcthế kỷ XIX đều mang tính tự phát, thiếu sự thống nhất, không có sự lãnh đạo
đúng đắn nên đều thất bại, cuộc đấu tranh cũng diễn ra quyết liệt trên mặt trậntôn giáo
Mãi đến nửa sau thế kỷ XIX thì cuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc
mới đủ điều kiện chuyển sang một giai đoạn mới Ngời ta gọi đó là sự “Thức tỉnh” dân tộc.
Đáng lu ý nhất là sự ra đời của hội Katipunan (hội cao cả nhất và
đáng kính nhất của những ngời con dân tộc) ra đời vào năm 1892 do AnđrâyBonipaxio (1863 -1897) lãnh đạo Hội này mau chóng trở thành ngời tổ chức
và lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc của Philíppin
Ngày 23/3/1894 Philíppin tuyên bố độc lập, nớc cộng hoà Philípil ra đời.Aginado đợc cử làm tổng thống Nhng sau đó Aginado đã phản bội nhân dân
Ông và nhóm t bản địa chủ đã giết chết Bonipaxion và giải tán hội Katipunan.Sau đó ông chạy sang Hồng Kông và cầu viện sự giúp đỡ của Mỹ
Ngày 20/4/1898 quốc hội Mỹ thông qua quyết định về Philípin và tuyênchiến với Tây Ban Nha, Aginado trở về nớc lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, dới sựgiúp đỡ của Mỹ và nhanh chóng dành đợc thắng lợi Ngày 12/6/1898 một lầnnữa Philípin tuyên bố độc lập
Đây là một sự kiện trọng đại Philípin là nớc thuộc địa đầu tiên trongvùng dành đợc độc lập Sau khi Philíppin tuyên bố độc lập Mỹ đã nhảy vào
Trang 11quần đảo này, ngày 13/8/1898 cuộc chiên tranh Mỹ - Tây Ban Nha kết thúc,Tây Ban Nha tuyên bố đầu hàng quân Mỹ Hiệp ớc Pari, ngày 10/12/1898 TâyBan nha đã nhợng lại Philípin cho Mỹ với giá 20 triệu đô la Mỹ tuyên bố sátnhập Philípin vào lãnh thổ của Mỹ và khẳng định là trong thực tế không có n-
ớc Philíin
Ngày 4/2/1899 Aginalđo tuyên bố đi theo Mỹ kể từ giờ phút đóPhilíppin năm dới sự đô hộ của Mĩ và lịch sử Philíppin chuyển sang một giai
đoạn mới
1.2.3 Thời kì đế quốc Mỹ chiếm đóng (1899 - 1946).
Vẫn nh Tây Ban Nha trớc đây, sau khi chiếm đợc Philíppin ngời Mỹ tìmcách cấu kết chặt chẽ với bọn tay sai bản xứ và thực hiện thí điểm ở đâynhững chính sách của chủ nghĩa thực dân mới
Nhằm hợp pháp hoá sự cai trị, thể chế hoá chế độ bù nhìn ngời bản xử,
Mỹ đã công bố hai đạo luật quan trọng: Đạo luật 2/7/1902 và đạo luật29/4/1916 Theo các đạo luật này thì quốc hội Philíppin nắm quyền lập pháp.Viên toàn quyền ngời Mỹ nắm quyền hành pháp có quyền bổ nhiệm các bộ tr-ởng và có quyền phủ quyết các Bộ luật do quốc hội Philíppin công bố Phótoàn quyền ngời Mỹ nhất thiết nắm Bộ giáo dục Quốc hội Philíppin có quyền
cử hai đại diện tham gia vào hạ viện Mỹ, có quyền phát biểu ý kiến nhngkhông có quyền biểu quyết Rõ ràng là chính quyền Philíppin là một chínhquyền bù nhìn
Các đảng phái chính trị t sản, địa chủ đợc phép thành lập theo khuônmẫu của Mỹ và không đợc phép đòi lại độc lập dân tộc
Mỹ đã thi hành các chính sách kinh tế, chính trị làm cho Philíppin lệthuộc hẳn vào Mỹ Mỹ đã thiết lập chế độ mậu dịch tự do ở đây nhng vẫn duytrì tầm quan trọng của khu vực nông nghiệp thâm canh, kìm hãm công cuộccông nghiệp hoá của Philíppin
Tiếng Anh đợc đa vào giảng dạy, nền giáo dục rập khuôn theo kiểu Mỹ
Đến năm 1939, 52% dân số từ 10 tuổi trở lên mù chữ, mặc dù vậy so với cácnớc trong khu vực thì tỷ lệ biết chữ ở Philípin vẫn là cao nhất
Mỹ hoàn toàn độc quyền về ngoại giao Vào đầu thập kỷ 30 vấn đề traoquyền tự trị cho Philíppin đợc đặt ra Ngời Mỹ tuyên bố rằng phải chuẩn bịcác điều kiện để trao trả độc lập cho Philíppin khi mà ở đó có một chính phủvững chải, một nền kinh tế phồn vinh
Trang 12Hai đạo luật về trao quyền độc lập cho Philíppin là đạo luật HarơhaoCớttinh (1932) và đảo luật Tydin Mac Dupy (1934) và đợc Quốc hội Mỹthông qua nội dung của hai đạo luật ghi rõ: Quy định sau 10 năm tính từ năm
1934 Philíppin mới đợc thực hiện chế độ tự trị nhng quyền lợi của ngời Mỹvẫn đợc giữ nguyên
Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra Ngày 10/12/1941 Nhật nhảy vàoPhilíppin và ngày 2/1/1942 Philíppin đầu hàng Nhật Ngày 23/1/1942 Nhật lậpchính phủ bù nhìn ở Philíppin Các đảng phái chính trị bị giải tán ở Philíppin.Queson yêu cầu Mỹ trao trả độc lập hoặc trung lập hoá Philíppin nhngRudơven đã từ chối và đến 6/5/1942 quân Mỹ tại Philíppin đã đầu hàng quânNhật còn Queson bỏ chạy sang Mỹ
Thành phần trong chính phủ Queson ở lại Philíppin đứng đầu là JôdeLoren dới áp lực của quân Nhật đã thông qua bản hiến pháp mới vào ngày14/10/1943 và tuyên bố thành lập nền cộng hoà do Loren làm Tổng thống.Chính phủ này tuyên chiến với Mỹ một cách hình thức vào ngày 22/9/1944
Từ khi Nhật nhảy vào Philíppin đã bùng nổ phong trào chống quân Nhậtrất quyết liệt mà những ngời Cộng sản là lực lợng tiên phong Họ đã thành lậpcác tổ chức bí mật có lực lợng vũ trang và thành lập các đơn vị du kích củamình Đến tháng 3 năm 1942 họ bắt đầu tấn công quân Nhật Chiến tranh sắpkết thúc Nhật đã đại bại quân đồng minh và sắp sửa đầu hàng, nền độc lập củaPhilíppin cũng sắp tới
Ngày 4/7/1946 Philíppin tuyên bố độc lập, nhng trớc đó Mỹ đã áp dụngnhiều biện pháp và âm mu làm cho Philíppin vẫn tiếp tục phụ thuộc vào Mỹ vànền độc lập đó vẫn chỉ là hình thức
Ngày 30/9/1946, Mỹ thông qua đạo luật bồi thờng chiến tranh choPhilíppin Nhng kỳ lạ thay đạo luật này quy định ngời Philíppin sẽ không đợcnhận tiền bồi thờng nếu họ không chấp nhận các điều khoản của một hiệp
định khác đã đợc ký đúng vào ngày trao trả độc lập, đó là Hiệp định thơng mạigiữa hai nớc
Theo hiệp định thơng mại, sau khi nhận đợc nền độc lập Philíppin phải
có một quá trình "thực tập" quyền độc lập đó và trao đổi mậu dịch giữa hai
n-ớc sẽ tồn tại cho đến ngày 4/7/1954
Nh vậy, gần 400 năm bị ngoại bang đô hộ, Philíppin là một trong nhữngnớc đáng lẽ ra dành đợc độc lập sớm nhất Ba lần tuyên bố độc lập (1894;1898; 1946) đều là những mốc lịch sử có ý nghĩa và đặc biệt quan trọng, nhng
Trang 13cái giá phải trả cho nó thật đắt làm sao Cuối cùng nền độc lập đó vẫn phảikèm theo bao nhiêu điều ngặt nghèo và trong lịch sử mới vẫn còn phải ghi
nhận những ớc vọng thiêng liêng của con ngời về quyền sống, về hai chữ "Tự
do" và "bình đẳng".
Ch ơng 2:
Một số đặc điểm của sự phát triển nền văn hoá Philíppin
trớc nửa sau thế kỷ XIX.
2.1 Nền văn hoá bản địa:
Văn hoá bản địa là văn hoá tại chỗ, có nguồn gốc tại chỗ do c dân tạichỗ sáng tạo ra Philíppin là đất nớc có sự tiếp xúc văn hoá bên ngoài từ rấtsớm phần lớn là chịu ảnh hởng của văn hoá ấn Độ, Trung Hoa và sau này là
Âu - Mỹ Vì vậy có thể nói văn hoá bản địa Philíppin là văn hoá trớc ấn, Hoa.Ngày nay văn hoá Philíppin đã chịu ảnh hởng từ nhiều nguồn bên ngoài, nênrất khó nhận ra những yếu tố bản địa ở văn hoá Philíppin
Tài liệu khảo cổ học đã chứng minh rằng, con ngời xuất hiện ở quần
đảo Philíppin vào thời tạo kỳ đá cũ (50 ngàn năm trớc công nguyên) mà công
cụ sản xuất là các mảnh đá thô sơ đợc gọi là Chóp pher
Vào thời đá giữa (Khoảng 25 - 22 ngàn năm trớc công nguyên) trênlãnh thổ Philíppin đã xuất hiện ngời hiện đại thuộc các chi nhánh khác nhaucủa chủng tộc lớn Ôxtralôit cổ đại C dân cổ đại chủ yếu làm nghề hái lợm,săn bắt khi xuất hiện cung tên thì làm nghề săn bắn các loài động vật nhỏ
Đến thời đá mới (từ thiên niên kỷ II trớc công nguyên) những ngời Ôxtralôit
cổ đại bị đẩy ra khỏi miền duyên hải đến các vùng núi trong nội địa bởi nhữngdòng ngời di c mới thuộc chủng tộc Nam Môngôlôit nhỏ và nói bằng các ngônngữ Ôxtranêdiêng Sự định c của họ trên quần đảo gắn liền với sự phát triểncác nền văn minh cổ vật nh chiếc rìu có vai và rìu tứ diện Các loại công cụnày tìm thấy khắp nơi trong khu vực Đông Nam á Nghề nghiệp chính của họ
là làm ruộng nớc, đánh bắt cá, chế biến gỗ, làm đồ gốm
Từ cuối thiên niên kỷ thứ nhất trớc công nguyên đến những thế kỷ đầusau công nguyên, ngời Môngôlôit đã di c từ miền nam Inđônêxia đếnPhilíppin Những ngời di c vào những thế kỷ sau cùng trớc công nguyên đãmang đến quần đảo này đồng và sắt Trong giai đoạn này (Từ thiên niên kỷthứ III - II trớc công nguyên đến thế kỷ IV sau công nguyên) sức sản xuất pháttriển rõ rệt, trong nông nghiệp với hai hình thức canh tác: Trồng lúa trên các
Trang 14lãnh thổ vùng duyên hải và trồng lúa trên các sờn núi (ruộng bậc thang) Tổtiên của dân tộc Iphugao hiện nay chính là những ngời sáng tạo ra ruộng bậcthang ở miền bắc đảo Luson.
Đến hậu kỷ đồ sắt (thế kỷ IV - V) sự di c hàng loạt đã chấm dứt, song
sự di c của các bộ lạc từ lãnh thổ Inđônêxia vẫn tiếp tục cho đến tận thế kỷXIV Do có trình độ cao hơn c dân bản địa, cho nên các bộ lạc mới đến đây có
ảnh hởng rất lớn đối với đời sống kinh tế, văn hoá và sự hình thành các dân tộcchính của c dân Philíppin
Các làn sóng di c đến quần đảo trong một thời gian dài đã làm cho sựphát triển không đồng đều của các nhóm c dân định c trên quần đảo Philíppin.Các vùng trong nội địa - Nơi c trú của con cháu ngời bản địa Ôxtralôit cổ đại
và các chi nhánh của c dân Môngôlôit thời kỳ đá mới lạc hậu nhiều so vớivùng đồng bằng ven biển ở các vùng nội địa các hình thức kinh tế nguyênthuỷ nh hái lợm, săn bắn, hệ thống canh tác đốt rẫy là chủ yếu ở vùng duyênhải hình thức kinh tế chủ đạo là trồng trọt, chăn nuôi và kinh tế ở đây càngngày càng phát triển là nhờ đất đai phì nhiêu và khí hậu thuận lơị Hàng loạtnghề thủ công phát triển nh đóng tàu, nghề mộc, nghề gốm, chế tạo vũ khí vàdệt vải
Về văn hoá tinh thần của ngời dân Philíppin đợc thể hiện qua cánh ănmặc, các vật linh giáo hay những phép ma thuật của các thầy phù thuỷ Cùngvới sự tiến bộ về công cụ sản xuất, ngời dân biết nấu chín thức ăn, biết chếbiến các món ăn hợp khẩu vị, biết dệt vải may quần áo, biết dùng đồ trangsức…11 hòn Do nhận thức còn hạn chế nên họ đã thần thánh hoá các hiện tợng tựnhiên để thờ cúng nh thờ thần sấm, thần ma, thần mặt trăng…11 hòn Họ tin vào th-ợng đế là chúa của muôn loài - ngời đã sáng tạo ra vũ trụ, con ngời, làng mạc.Ngoài ra họ còn tin vào những giấc mơ, mộng báo để đoán định điều lành giữ
Để tránh đợc những điềm giữ họ tìm đến các thầy phù thuỷ để trừ tà, vì vậy trò
ma thuật và phù thuỷ rất phổ biến ở Philíppin và tồn tại cho đến ngày nay ởmột số vùng của Philíppin nh ở Xêbuano, Sêbulan…11 hòn Đây là một bằng chứng
ấn tợng về sự bền bỉ trờng tồn của nền văn hoá dân gian trong những bối cảnhthay đổi về văn hoá xã hội
Tóm lại, tất cả những gì mà ngời bản địa tạo dựng cho mình một nềnvăn hoá trớc khi tiếp xúc, giao lu với các nền văn hoá bên ngoài đợc coi là cáigốc, nền tảng của nền văn hoá Philíppin mà sau này khi tiếp xúc với các nềnvăn hoá ở Châu á, Tây Ban Nha, Mỹ nó không mất đi mà đợc kết hợp với các
Trang 15nền văn hoá đó để tạo nên sự đa dạng cho nền văn hoá dân tộc mình Vì vậy
ngời ta gọi "cái riêng" đó là nền văn hoá bản địa của Philíppin.
2.2 Sự giao thoa với các nền văn hoá bên ngoài.
Văn hoá Philíppin ngoài yếu tố văn hoá bản địa là cái gốc cho sự nảy nở
về văn hoá sau này, nó còn bắt nguồn từ sự giao lu với các nền văn hoá khác
mà phần lớn từ ấn Độ, Trung Hoa, ả rập - Hồi giáo và văn hoá phơng Tây(Tây Ban Nha và Mỹ)
Trong cách ăn mặc của ngời Philíppin ta cũng nhận thấy khá rõ nét sựchịu ảnh hởng văn hoá ấn Độ Việc dùng Polong (khăn quấn đầu) và Sarông(đồ trang sức bằng đồng) đây là những nét văn hoá của ngời theo đạo Hinđu ở
ấn Độ
Chữ viết cổ Philíppin cũng ảnh hởng chữ Sankit của ấn Độ Ngày naytrong ngôn ngữ của ngời Philíppin có nhiều từ San kit liên quan tới các lĩnhvực nh luật pháp, khoa học, thực vật học, kỹ thuật nông nghiệp, công nghiệpbắt nguồn từ ngôn ngữ ấn Độ
2.2.2 ảnh hởng văn hoá Trung Hoa.
Quần đảo Philíppin đợc ngời Trung Hoa biết đến từ rất sớm, ngay từ
đầu công nguyên Đến thế kỷ XIII - XIV thì giao lu buôn bán của ngời Hoa ở
đây đã đạt đến độ cực thịnh (nhiều hiện vật khảo cổ học tìm đợc trên lãnh thổPhilíppin có niên đại vào thời kỳ này nh: Đồ sứ, gốm, vũ khí và sản phẩm kimhoàn có nguồn gốc từ Trung Quốc) mặc dù vậy nhng sự ảnh hởng của văn hoáTrung Hoa tới Philíppin lại không sâu sắc nh ấn Độ Vì những ngời TrungHoa đến Philíppin đều vì mục đích buôn bán, họ chủ yếu lo buôn bán hơn là
du nhập văn minh Trung Hoa vào đây
Trang 16Nhng trong một thời gian dài giao lu nh vậy thì sự ảnh hởng qua lại đốivới văn hoá là điều không thể tránh khỏi ảnh hởng của văn hoá Trung Hoa đ-
ợc thể hiện trong các lĩnh vực nh: Ngôn ngữ, tập tục của ngời Philíppin, đặchiệt trong đời sống kinh tế
Ngời Philíppin học ở ngời Trung Hoa trong lĩnh vực sản xuất nôngnghiệp, khai khoáng, luyện kim và chế tác kim loại…11 hòn Trong cách ăn mặc -quần áo, nh quần thắt dây đai và áo có tay hoặc là việc sử dụng màu trắngtrong tang lễ Trong đời sống văn hoá tinh thần đó là sự kính trọng đối với ng-
ời già, đối với tổ tiên và bố mẹ, bố mẹ là ngời sắp xếp hôn nhân cho con cái…11 hònNgoài ra trong ngôn ngữ cũng ảnh hởng văn hoá Trung Hoa nh: Linghay (dầu
đèn), Susi (chìa khoá)…11 hòn
2.2.3 ảnh hởng văn hoá ả rập - Hồi giáo.
Góp phần lớn nhất của văn hoá ả rập đối với Philíppin đó là đạo Islam(đạo Hồi) Có khoảng nửa triệu ngời Philíppin theo đạo Hồi, họ là ngời Môrôsống ở miền nam Philíppin ở Minđanao và Sulu
Văn hoá ả rập đợc du nhập vào Philíppin do những ngời theo đạo Hồi
từ Malaixia mang đến Thể hiện trên những mặt chủ yếu sau: Chữ viết của cácdân tộc Môrô, luật pháp của ngời Môrô, những luật này đều dựa trên cơ sở củakinh Koran (kinh thánh của đạo Hồi) ảnh hởng đó còn thể hiện trên mặt vănhọc: Nhiều truyện ngụ ngôn, thơ ca, cổ tích, thần thoại đều lấy chủ đề từ Hồigiáo có nguồn gốc từ ả Rập
Giống nh ngời ả Rập - Hồi giáo, ngời Môrô kiêng ăn thịt lợn, khônguống rợu và thực hiện tất các mọi nhiệm vụ của một tín đồ Hồi giáo
2.2.4 ảnh hởng văn hoá phơng Tây:
Philíppin là nớc Đông Nam á chịu ảnh hởng phơng Tây sớm hơn cả.Gần 400 năm bị phơng Tây đô hộ, lúc đầu là Tây Ban Nha sau đó là Mỹ Vớitrình độ văn hoá thấp kém, Philíppin đã nhanh chóng bị động hoá bởi các giátrị văn hoá của phơng Tây Văn hoá phơng Tây đã dần dần chiếm vị trí quantrọng trong đời sống xã hội của đất nớc Philíppin
ảnh hởng của văn hoá phơng Tây đối với Philíppin là quá trình thẩmthấu sâu rộng trên tất cả các mặt của đời sống xã hội của ngời dân Philíppin,
từ tôn giáo, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc cho đến chínhtrị và luật pháp Điều này chứng tỏ xã hội Philíppin trớc khi ngời phơng Tây
đến là một xã hội mà trình độ phát triển văn hoá đang ở mức thấp, tính cấu kếtdân tộc cha bền vững và ý thức dân tộc cha hình thành Điều này cũng lý giải
Trang 17một thực tế là trớc khi ngời phơng Tây đến đây thì đất nớc này cha có một nhànớc thống nhất mà đang ở trong tình trạng phân tán, cán cứ Philíppin là một
quốc gia đa đảo và tính chất "đảo" đã chi phối rất lớn đối với xã hội Philíppin
trong đó văn hoá là một trong những yếu tố bị chi phối lớn nhất
Chính vì vậy, cho nên khi văn hoá phơng Tây phát triển hơn xâm nhậpvào đây nó đã nhanh chóng đồng hoá văn hoá bản điạ và đã làm thay đổinhiều quan điểm của c dân bản địa đối với xã hội và chi phối mọi mặt trong
đời sống xã hội Philíppin Điều này đợc thể hiện qua bảng so sánh dới đây:
- Đất đai: Con ngời có một mối liên
hệ chặt chẽ gắn bó với môi trờng
mình sống
- Nền kinh tế: Nhân nhợng đùm bọc
lẫn nhau
- Giáo dục: Đợc xem nh mối quan hệ,
sự giải thoát, sự hoà hợp
- Sức khoẻ: Là kết quả của một tổng
thể hài hoà (mỗi tơng quan giữa thân
thể, trí tuệ và tinh thần)
- Tinh thần: Nguyên khởi, có tính chất
nội tại
- Đất đai: Nh một loại hàng hoá
- Nền kinh tế: Bị chi phối bởi lợinhuận và kỹ thuật
- Giáo dục: Nh là một sự chuyển ợng có tính kỷ luật, lý lẽ
nh Sức khoẻ: Đợc phân biệt theo lối nhịnguyên (phân biệt giữa trí tuệ và thểxác)
- Tinh thần: Có tính siêu việt
[6, 242]Qua bảng so sánh trên ta thấy đợc một nền văn hoá bản địa đã bị thaythế bởi một nền văn hoá hớng về phân tích, chia biệt, bị chi phối bởi lợi nhuận
và kỹ thuật - đó là nền văn hoá t duy theo kiểu phơng Tây, hay nền văn hoáPhilíppin đã bị văn hoá phơng Tây đồng hoá, không còn giữ đợc cái gốc củamình
Tóm lại: Văn hoá Philíppin là một nền văn hoá hỗn hợp bao gồm nhiềunền văn hoá khác nhau Do hoàn cảnh lịch sử chi phối mà trong đó văn hoáchịu ảnh hởng phơng Tây chủ yếu là văn hoá Tây Ban Nha và Mỹ đã chi phốixã hội Philíppin trong một thời kỳ lịch sử dài Hiện nay trong x thế hội nhậpkhu vực Philíppin đang tìm cách khôi phục lại những giá trị văn hoá truyềnthống đã mai một, đó là một việc làm khó bời vì những giá trị văn hoá ph ơngTây đã ăn sâu vào tiềm thức của ngời Philíppin không dễ gì phai nhạt
2.3 Vai trò của văn hoá trong đời sống đất nớc.
Trang 18Trong tiếng Tagalog từ Kalingan có nghĩa là văn hoá, từ Kalingan lạibắt nguồn từ từ Lingan, có nghĩa là cày cấy, trồng trọt, từ này cũng có nghĩa là
đồng lúa tuỳ theo mục đích diễn đạt Nh vậy, từ văn hoá Kalingan trong tiếngTagalog cũng có nghĩa nh từ Cultuara trong tiếng La Tinh vừa có nghĩa trồngtrọt, vừa có nghĩa văn hoá
Với ý nghĩa đó, văn hoá ngay từ đầu đã có liên hệ mật thiết đối với đờisống con ngời Cũng nh hầu hết các quốc gia trên thế giới, văn hoá là nhữnggiá trị tiêu biểu nhất của một xã hội, vào những thời điểm lịch sử nhất địnhvăn hoá lại mang những ý nghĩa khác nhau của một dân tộc Một nền văn hoáphát triển sẽ gắn với một xã hội phát triển Với Philíppin một đất nớc đợc coi
là nền văn hoá phát triển thấp so với các nớc trong khu vực, văn hoá lại càngtrở nên quan trọng
Đối với hầu hết các quốc gia phơng Đông, đặc biệt là các quốc gia bịcác nớc thực dân phơng Tây xâm lợc, văn hoá là một trong những yếu tố quantrọng thúc đẩy qúa trình phát triển lịch sử dân tộc Philíppin cũng vậy nền vănhoá cũng đã trở thành động lực cho sự phát triển lịch sử dân tộc Một nền vănhoá đậm đà bản sắc dân tộc cùng với phong cách hiện đại là niềm tự hào, làkết quả của một chẳng đờng đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nớc của nhândân Philíppin
Chính vì vậy mọi thế hệ nhân dân Philíppin đều ra sức xây dựng chomình một bản sắc văn hoá riêng trong bối cảnh nền văn hoá của mình chịunhiều ảnh hởng nền văn hoá bên ngoài Chính những cố gắn đó ngày càng xây
đắp nên tâm hồn và ý chí con ngời Philíppin và không biết từ bao giờ nó đã trởthành động lực cho quá trình xây dựng một đất nớc Philíppin ổn định và pháttriển, cho nên sau này khi đất nớc bị ngoại bang đô hộ, những giá trị văn hoá
ấy vẫn không bị mai một và vẫn gìn giữ đợc cho đến ngày nay
Cùng với việc ra đời và phát triển văn hoá dân tộc đã giáo dục cho ngờidân Philíppin ý thức về cội nguồn và sự thống nhất Bởi vậy mặc dù chínhsách cai trị tàn bạo và ngu dân của chính quyền thực dân Tây Ban Nha vẫnkhông phá vỡ đợc sự cấu kết trong cộng đồng dân tộc Philíppin Điều đó đã đ-
ợc phản ánh rõ trong phong trào dân tộc ở Philíppin nửa sau thế kỷ XIX
Cần phải nói thêm rằng, ở Philíppin đa phần c dân theo đạo Cơ đốc,niềm tin tôn giáo có ảnh hởng sâu sắc tới mọi mặt trong đời sống của ngờiPhilíppin Từ niềm tin tôn giáo ngời Philíppin đã hớng tới "Chân - Thiện -Mỹ" biết trân trọng và nâng niu những giá trị vật chất và tinh thần của cha ông
Trang 19và không dễ làm thay đổi trớc những cám dỗ của vật chất đời thờng Điều đólại một lần nữa khẳng định những giá trị văn hoá dân tộc có tác dụng hữu hình
đối với sự phát triển xã hội
Ch ơng 3:
Văn hoá Philíppin cuối thế kỷ XIX đến nữa đầu thế kỷ XX
3.1 Một vài nét về các dân tộc ở Philíppin cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:
Philíppin là một quốc gia đa dân tộc, với gần 100 tộc ngời và nhóm tộcnói gần 100 ngôn ngữ khác nhau thuộc ngữ hệ Nam á (Austronesian) Đa số
họ là ngời Mogôlôit phơng Nam Các dân tộc phát triển không đồng đều trongmọi mặt đời sống xã hội, dẫn đễn những khác biệt trong thành phần cơ cấu xãhội và văn hoá giữa các nhóm và trong nhóm riêng biệt Các dân tộc này cóthể chia làm hai nhóm lớn: Nhóm các dân tộc đồng bằng và nhóm các dân tộcmiền núi
1 - Lớn nhất trong các dân tộc đồng bằng là ngời Tagan (21%), Vixaia(41%), ngời Bican (5,6%), Pampango (2,8%), Pangsinan (1,8%)…11 hòn [11,46]
Tất cả các dân tộc này c trú tại miền ven biển tơng đối bằng phẳng Họ
là những thổ dân đầu tiên của quần đảo bị bọn thực dân phơng Tây chinh phục
và dày xéo hàng trăm năm Phong tục, ngôn ngữ bản sắc dân tộc và văn hoácủa họ chịu ảnh hởng phơng Tây sâu sắc (Tây Ban Nha và Mỹ) Tuy nhiên ở
Trang 20các vùng nông thôn vẫn còn thể hiện các tàn d phong kiến và tính chất của nềnkinh tế tự nhiên.
Các dân tộc đồng bằng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nớc.Song do điều kiện gần biển nên việc đánh bắt cá cũng đóng vai trò không nhỏ.Nghề thủ công của các dân tộc này phát triển khá mạnh (dệt, gốm…11 hòn.), songngày nay dới sức cạnh tranh của hàng công nghiệp Mỹ, Nhật Bản nên nhiềungành nghề thủ công truyền thống của các dân tộc này cũng bị mai một dần
Trang phục cổ truyền của các dân tộc đồng bằng nói chung đơn giản:
Đàn ông mặc quần dài ống hẹp, hoặc rộng, bỏ áo ngoài quần, cổ đứng nhỏ.Phụ nữ mặc Sarông, áo khoác ngắn có tay dài rộng hoặc ngắn tay Ngày naytrang phục đợc hiện đại hoá theo lối Âu - Mỹ Tuy bị ảnh hởng sâu sắc vănhoá Âu - Mỹ nhng các dân tộc đồng bằng Philíppin vẫn bảo tồn đợc các tậptục cổ truyền của mình
Về hôn nhân, các dân tộc đồng bằng Philíppin chủ yếu theo chế độ một
vợ một chồng Họ không có tục làm mối Đôi trai gái yêu nhau báo cho bố mẹbiết về ý định xây dựng gia đình Thông thờng lễ cới đợc tiến hành trong 3ngày Các nghi lễ nhà thờ đợc tiến hành trớc Còn lễ cới thì bắt đầu bằng màn
"Đánh cắp cô dâu", sau đó chú rể và cô dâu cùng ăn một bát, cùng uống một
cốc, rồi họ tuyên bố kết tóc xe duyên nên vợ thành chồng
Lễ hội của các dân tộc đồng bằng thật phong phú và nhiều màu sắc
Đặc biệt là lễ hội của ngời Tagan - những ngày lễ náo nhiệt và ấn tợng với cácphong tục cổ truyền độc đáo và vui mắt
2- Các dân tộc thiểu số miền núi (chừng 12%) Đó là các dân tộc vànhóm tộc Iphugao, Bontec, Tingian, Calinh…11 hòn (ở miền núi Luson), Bukitnon,Bilaan, Sibanon…11 hòn(miền núi Minđanao); Môro (Minđanao, Sulu và Palavan);Negrito (Luson, Minđanao và Palavan) [11,58]
Các dân tộc thiểu số miền núi cách đây không lâu còn đang ở thời kỳchuyển tiếp từ nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế T bản chủ nghĩa Quan hệphong kiến trong cộng đồng của họ mới chỉ là hình thức sơ khai mặc dù chịu
ảnh hởng của làn sóng văn minh hiện đại ùa vào các dân tộc này nhng họ vẫnbảo lu đợc các yếu tố văn hoá truyền thống của mình
3- Ngoài những dân tộc chính kể trên, ở Philippin còn có cộng đồngnhiều dân tộc di c từ các nớc khác đến sinh sống, chủ yếu là ngời Châu á nhTrung Quốc, ấn Độ, ngời Âu nh Tây Ban Nha, Anh, Mỹ Việc kết hôn hỗn
Trang 21hợp giữa họ với các dân tộc bản địa Philíppin đã tạo nên nhóm ngời lai đóngvai trò không nhỏ trong đời sống kinh tế chính trị và văn hoá xã hội ở đây.
Nhiều nhất trong số đó là Hoa kiều, họ là những ngời xuất thân từ vùngPhúc Kiến và Quảng Đông (Trung Quốc) Họ c trú rải rác khắp Philíppin, tậptrung nhất là Manila và các trung tâm thơng mại lớn Nh ở bất kỳ đâu ngờiHoa ở Philíppin sống biệt lập và thành từng khu chủ yếu theo nguyên tắc đồnghơng Họ thờng kết hôn với nhau, nhng cũng không ít trờng hợp kết hôn vớingời bản địa Theo luật pháp Philíppin dù cho họ có sống chung bao đời ở đây
đi nữa thì mãi mãi vẫn là ngời nớc ngoài và do vậy họ phải nộp thêm mộtkhoản thuế Vì lẽ đó con cháu các gia đình hỗn hợp thờng nhận mình là ngờiPhilíppin do đó số liệu về ngời Hoa ở Philíppin bao giờ chính thức vẫn thấphơn thực tế
Số lợng các dân c Châu á khác và ngời Âu không nhiều lắm, song ảnhhởng của ngời Âu khá lớn đối với đời sống chính trị, kinh tế và văn hoáPhilíppin
Là một quốc gia đa dân tộc, trong điều kiện địa lý tự nhiên không thuậnlợi, c dân c trú trên các đảo và quần đảo cách biệt, vấn đề dân tộc ở Philíppinluôn nóng bỏng trong tiến trình đi tới một Philíppin thống nhất
Vấn đề dân tộc còn thể hiện ở nhiều điểm Trớc hết là việc điều hoàtrình độ kinh tế xã hội cho các dân tộc Hơn thế nữa các vấn đề tôn giáo càngtrở nên phức tạp trong tình hình xã hội hiện nay Các vấn đề khác nh phổ cậptiếng Tagalog đợc quốc gia hoá dới tên gọi tiếng Filipino gặp nhiều trở ngạikhông chỉ từ góc độ văn hoá xã hội mà còn do các nguyên nhân về địa lý
Kinh nghiệm giải quyết vấn đề dân tộc của Philíppin là rất đáng quantâm, tuy nhiên nó cha đợc chúng ta quan tâm đúng mức Hi vọng rằng trongmột tơng lai gần chúng ta sẽ có điều kiện đi sâu nghiên cứu về vấn đề này
3.2 Văn hoá Philíppin cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX.
3.2.1 Ngôn ngữ - chữ viết.
Philíppin là một quần đảo nằm ở phía Tây Thái Bình Dơng Tính chất
đảo đã ảnh hởng đến cảnh huống ngôn ngữ rất rõ nét Ngoài các dân tộc thiểu
số và một số dân tộc có nguồn gốc nớc ngoài (hơn 100 ngàn ngời) tất cả c dânPhilíppin nói các thứ tiếng cùng ngữ hệ Mã lai - Pôlinêdi, hay chính xác hơn
là một nhánh Inđônêdi, nhánh này đợc xác định nh tiểu nhánh Gexperinedi
-có nghĩa là tiểu nhánh Ôstronêdi Tây
Trang 22Cho tới nay vẫn cha có số liệu chính xác các th tiếng trên quần đảoPhilíppin Đầu những năm 50 Khili đã đa ra cách phân loại chi tiết Ông phân
ra 92 ngôn ngữ Inđônêdi của quần đảo, trong số đó có 43 ngôn ngữ đợc phânthành các phơng ngữ, tổng cộng 123 ngôn ngữ và tiếng địa phơng lớn [11,105
- 106]
Theo quan điểm về nguồn gốc, các ngôn ngữ Ivatan ở cực BắcPhilíppin, các ngôn ngữ Xama ở cực Nam và Tây Nam, các thứ tiếng ở phíaNam đảo Minđanao và tiếng Xănghin không thuộc tiểu nhóm Philíppin trongkhuôn khổ tiểu nhánh đã nói ở trên của ngôn ngữ Ôstronêdi
Dới thời thống trị của thực dân Tây Ban Nha ở Philíppin Để phục vụcho mục đích xâm lợc và truyền bá đạo Thiên chúa của mình, thực dân TâyBan Nha đã cho truyền bá chữ viết và tiếng Tây Ban Nha Thực ra lúc đó tiếngTây Ban Nha đã quen thuộc với ngời dân Philíppin, vì nó đã dần thay thế cơbản cho các thứ tiếng địa phơng
Đến trớc cách mạng giải phóng dân tộc (1896 - 1898) tiếng Anh đãxâm nhập vào quần đảo Philíppin, mở đầu cho một ảnh hởng ngôn ngữ nớcngoài mới ở Philíppin Khi mới vào Philíppin tiếng Anh không có ảnh hởng gì
đáng kể đối với các thứ tiếng địa phơng Nhng sau khi đợc công nhận là ngônngữ giảng dạy ở các trờng Đại học và Trung học, nó đã thay thế nhanh chóngtiếng Tây Ban Nha Cho đến những năm 20 của thế kỷ XX, tiếng Anh đã đợcdùng trong các lĩnh vực tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, trên các phơng tiệnthông tin đại chúng cùng với tiếng Tây Ban Nha và tiếng Tagalog Có thể nóitiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ chính thức của cộng hào Philíppin từ nhữngnăm 20 của thế kỷ XX
Sau khi dành đợc độc lập năm 1946 và cho tới nay tiếng Anh vẫn giữvai trò quan trọng trong nhiêù lĩnh vực của đời sống xã hội Về mặt lịch sử,
đây chính là kết quả của việc truyền bá và tích cực sử dụng tiếng Anh của đếquốc Mỹ ở Philippin Ngoài ra các nhà ngôn ngữ học ngày càng khẳng định sựhình thành một dạng tiếng Anh đặc biệt, có thể gọi là tiếng Anh - Philippin
Do Philíppin nằm trên một quần đảo lớn trên các đảo lại có rất nhiềutộc ngời khác nhau sinh sống và mỗi dân tộc hay tộc ngời đều có tiếng nóiriêng của mình, cho nên việc cai trị về hành chính bộ máy thực dân sẽ rất khókhăn nếu nh không có một ngôn ngữ chung cho cả nớc Vì thế, giữa nhữngnăm 20 của thế kỷ XX, bộ máy hành chính của Mĩ ở Philíppin đã buộc phảiquan tâm một cách nghiêm túc đến vấn đề ngôn ngữ chung trong toàn quốc
Trang 23Hội đồng nghiên cứu ngôn ngữ do Paola Mônrô làm chủ tịch đã kết luận làkhông có một ngôn ngữ Philíppin nào đợc chuẩn bị sẵn sàng để giữ vai tròngôn ngữ quốc gia và hầu nh không có thể soạn thảo đợc một ngôn ngữ chungbằng cách hoà nhập tất cả hay một số tiếng địa phơng Hội đồng này đề nghịdùng tiếng Anh làm ngôn ngữ chung giảng dạy ở mọi cấp.
Nhng do trình độ văn hoá thấp, ít tiếp xúc với bên ngoài nên dân c ởnhững vùng hẻo lãnh của Philíppin hầu nh không quan tâm và không dùng đợccác thứ tiếng nớc ngoài đợc tuyên bố là ngôn ngữ quốc gia Ogióc Bát - Phótoàn quyền Philíppin ngời đứng đầu bộ giáo dục xã hội cơng quyết ủng hộ sựcần thiết phải có một ngôn ngữ Philíppin toàn quốc Điều này đã trở nên cầnthiết bởi vì đến năm 1934 sẽ tiến hành việc trao trả cho các đảo ở Philíppin
quyền tự trị hạn chế trong khuôn khổ cái gọi là "hợp tác Mỹ - Philíppin".
Trong hiến pháp Philíppin năm 1935, chơng XIV, điều 3 có ghi: "Quốc hộicần tiến hành những biện pháp hớng tới việc phát triển và lĩnh hội ngôn ngữtoàn quốc đợc xây dựng trên cơ sở một trong các ngôn ngữ địa phơng hiện có,trớc khi ngôn ngữ mới nhất đợc pháp luật công nhận thì tiếng Anh, tiếng TâyBan Nha vẫn là các ngôn ngữ chính thức" [11,110]
Để tiến hành thực hiện điều luật cơ bản nêu trên, ngày 12/1/1937 Việnngôn ngữ quốc gia thành lập Nhiệm vụ của viện là xây dựng một ngôn ngữtoàn quốc dựa trên cơ sở một trong các ngôn ngữ bản địa Viện đã tập trung đ-
ợc tất cả các đại diện của tất cả các nhóm ngôn ngữ dân tộc Philíppin Chủtịch đầu tiên của viện là Manuen.L.Kêsơn
Ngày 12/12/1937 viện đề nghị công nhận tiếng Tagalog là cơ sở củangôn ngữ quốc gia Tháng 6/1940 cùng với tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha,tiếng Tagalog đã đợc công bố là ngôn ngữ chính thức của cả nớc Ngôn ngữnày chính thức đợc sử dụng từ ngày 4/7/1946 - khi Philíppin đợc Mỹ trao trả
độc lập Cũng từ năm đó tiếng Tagalog là ngôn ngữ bắt buộc trong các trờngphổ thông đặc biệt là vùng không nói tiếng Tagalog
Năm 1940 còn đánh dấu một sự kiện quan trọng nữa đó là sự ra đời của
cuốn "Ngữ pháp ngôn ngữ quốc gia", sách do viện ngôn ngữ quốc gia biên
soạn Đến năm 1959 tên của ngôn ngữ quốc gia đợc đổi là Pilipino
Việc chọn tiếng Tagalog làm ngôn ngữ quốc gia đã không gây nên mộtphản ứng nào từ các dân tộc khác trong nớc, tuy nhiên nói nh vậy không cónghĩa là hoàn toàn không có những ý kiến, những t tởng chống lại việc luậtpháp thừa nhận tiếng Tagalog nh một ngôn ngữ toàn quốc - ngôn ngữ giao tiếp
Trang 24giữa các dân tộc Sự chống đối đó nảy sinh là do việc thi hành chính sáchngôn ngữ thiếu lôgíc và sự phức tạp của cảnh huống ngôn ngữ Ví dụ: NgờiBisai chống lại việc luật pháp thừa nhận tiếng Tagalog với t cách là ngôn ngữtoàn quốc bởi vì họ cho rằng ngời Bisai chiếm số đông ở Philíppin và tiếngSêbuano có tính phát triển cao.
Tiếng Tagalog thuộc nhánh Indonedi trong ngữ hệ Mãlai - Pôlinêdi,theo sự phân loại dựa trên ý nghĩa ngôn ngữ, tiếng Tagalog thuộc nhóm ngônngữ trung Philíppin
Về mặt hình thái học, tiếng Tagalog thuộc ngôn ngữ có kết cấu chắcdính và có thể xếp nó vào loại các ngôn ngữ có cấu trúc sở hữu, đây chính là
sự quy định về mặt hình thái và ngữ pháp của thứ tiếng này Nếu ở tiếng Việt
ta miêu tả một sự vật hay một hiện tợng thông qua hành động, thì tiếng
Tagalog lại thông qua tính sở hữu Ví dụ: Ngời Việt nói "Tôi đọc sách" thì
ng-ời Tagan lại nói "Ako ay bumabasang aklát" - tôi là ngng-ời đọc của quyển sách.
Chữ viết tiếng Tagalog dựa trên bảng chữ cái La tinh Có năm chữ cáidùng biểu thị nguyên âm (6 nguyên âm) và 15 chữ cái dùng biểu thị phụ âm(17 phụ âm) Nh ở tiếng Việt, khi viết tên riêng nớc ngoài có hai cách để biểuthị các âm không có trong tiếng Tagalog: 1- giữ nguyên các chữ cái nớc ngoài,2- thay thế chúng bằng các chữ cái tơng ứng với các âm thanh do các chữ cáitiếng nớc ngoài biểu thị Ngày nay ngời ta có xu hớng thiên về cách thức biểuthị thứ nhất
Trật tự từ trong câu ở tiếng Tagalog khá tự do Để biểu thị một nội dungthông báo, ngời ta có thể dùng câu có trật tự thuận hoặc đảo Câu có trật tự
đảo đợc dùng thờng xuyên hơn Đây là điều khác biệt với nhiều thứ tiếng, đặcbiệt là tiếng Việt, thứ tiếng mà trật tự từ trong câu phải tuân thủ theo một quytắc nghiêm ngặt Ví dụ:
a Ang es tudyante ay bumabasa: Anh sinh viên đang đọc
b Bumabasa ang es tudyante: Đang đọc là một anh sinh viên
Tóm lại: Tuy còn nhiều vấn đề cha đợc giải quyết ổn thoả, nhng chínhsách ngôn ngữ của Philíppin có nhiều triển vọng và chính vì thế mà ngôn ngữquốc gia - tiếng Pilipino hoàn toàn có khả năng trở thành ngôn ngữ hoànchỉnh, hiện đại, có đầy đủ mọi yếu tốt đáp ứng mọi yêu cầu giao tiếp trong xãhội và trong các ngành khoa học ở Philippin
3.2.2 Văn học và nghệ thuật:
Trang 25Quần đảo Philíppin nằm trong khu vực Đông Nam á nhng khá biệt lậpvới các nớc láng giềng trong khu vực Nói chung do hoàn cảnh địa lý, tronglịch sử Philíppin chủ yếu có quan hệ gần gũi với các nớc láng giềngInđônêxia Những nền văn hoá lớn nh ấn Độ, Trung Quốc xâm nhập vàoPhilíppin không nhiều, không mạnh nh nớc láng giềng Inđônêxia Những yếu
tố văn hoá Trung Quốc, ấn Độ có ở Philíppin chẳng qua cũng trung chuyểnqua Inđônêxia và do vậy nó mang tính yếu ớt, không sâu đậm Chính nhữngyếu tố trên làm cho văn hoá Philíppin thành một tiểu khu riêng, ít tơng đồngvới văn hoá các nớc Đông Nam á Khi văn hoá Âu - Mỹ vào đây văn hoáPhilíppin bắt đầu có những chuyển biến về chất Đặc biệt là về lĩnh vực vănhọc nghệ thuật
Đến thời kỳ Mỹ thống trị quá trình này lại diễn ra hết sức mạnh mẽ và thu đợcnhiều thành tựu hết sức đáng kể
Cũng do hoàn cảnh địa lý - lịch sử quy định mà văn học Philíppinchuyển sang thời kỳ cách tân hiện đại sớm hơn các nớc trong khu vực ĐôngNam á Những thể loại hiện đại nh tiểu thuyết, truyện ngắn (văn xuôi) ởPhilíppin hình thành và phát triển sớm Cuối thế kỷ XIX ở Philíppin đã có tiểuthuyết hiện đại, truyện ngắn và những năm đầu thế kỷ XX, thể loại kịch ởPhilíppin rất phát triển
Một đặc thù nổi bật của văn học Philíppin thời kỳ này là các tác phẩmvăn học đợc sáng tác bằng các thứ tiếng nớc ngoài nh Tây Ban Nha, tiếng Anh
và tiếng Tagalog Vấn đề ngôn ngữ trong văn học là nét nổi bật làm choPhilíppin cũng khác biệt rõ rệt với các nền văn học khác ở Đông Nam á Họsáng tác văn học bằng các thứ tiếng khác nhau, bởi vậy nó tạo ra màu sắc rấtsôi động trong nền văn học Philíppin
1 - Văn học dân gian: Ngọn nguồn văn học dân tộc Philíppin là văn họcdân gian Nhiều tác phẩm khuyết danh ở Philíppin hầu nh không xác định nổithời gian ra đời của tác phẩm Những nghiên cứu về văn học dân gian khôngphải lúc nào cũng có cơ sở đầy đủ và đáng tin cậy, để xác nhận những sáng
Trang 26tác nào thuộc thời kỳ xa xa do những ngời bản địa sáng tác, sáng tác nào làdiễn dịch các nguồn của nớc ngoài, hoặc thuần tuý dịch thuật của nớc ngoài.
Sự pha trộn các văn bản truyền miệng bản địa và nớc ngoài chắc chắn xẩy ra
và tạo ra những mạng mờ ảo, khó có thể phân biệt rạch ròi Những khó khăn
ấy cha đợc khắc phục và chúng tôi cha có đủ cơ sở cần thiết để tiến hànhnghiên cứu phần này một cách tỉ mỉ, đủ căn cứ khoa học Chính vì vậy màchúng tôi cũng không xác định chính xác các sáng tác dân gian nào đợc ra đờitrong thời kỳ này mà chỉ nghiên cứu một cách tơng đối qua các những tácphẩm đợc sử dụng rộng rãi ở thời kỳ này
Đó là những bài hò lao động khoẻ khoắn, nhịp điệu gắn liền với những
động tác lao động tạo ra một không khí lao động sôi nổi, vui tơi đem lại sứcdẻo dai, bền bỉ cho con ngời Khởi đầu là những bài ca đánh cá:
Này, hãy tơi tỉnh lên
Này, hãy sáng khoái ra
Nào, chúng ta cùng ra xa Đại DơngNào, chúng ta cùng ra xa Đại DơngHoặc bài nói về công việc của nhà nông Tính cảm của con ngời rấthoang sơ, mộc mạc nhng thắm đợm tình ngời Bài ca hái củi nói hết nỗi nhọcnhằn để kiếm kế sinh nhai:
Vợ tôi có những mời con dại
Chúng đều đói đòi ănPhải đốn cây trong rừng
Đốn củi bán lấy tiềnMột phần rất lớn trong nội dung của ca hát dân gian là tính trữ tình.Những bài ca trữ tình ở Philíppin cũng không thể nói là ít Song có điều đọclên ta thấy khá độc đáo trên phơng diện hình thức và nội dung Trớc hết phảidẫn ra bài hát ru con của ngời thiếu phủ ở bộ tộc Tagan với những lời lẽ nhẹêm:
Ngủ đi con, con ngủ yên điHãy nghĩ về con chim câu có đôi cánh nhẹ xinhNgủ đi con, con ngủ yên đi
Hãy nghĩ về con chim câu có đôi cánh nhẹ xinh
Đang gật gù cái đầu mỏi mệt
Đêm yên tĩnh đang cúi đầu trớc con