Dùng nấu ăn thì ngọt, ngon, không độc, dùng thay lương thực.. Sử dụng làm thuốc: củ từ được Lý Thời Trân thế kỷ 16 ở Trung Quốc xếp vào loại rau với tên cam chư.. Sách Lĩnh nam bản thảo
Trang 1Củ từ cường thận dương
Củ từ, khoai từ, khoai bướu - Dioscorea esculenta (Lour.) Burk., thuộc
họ củ nâu - Dioscoreaceae Cây thảo có củ mọc thành chùm hình cầu, dạng trứng hay có thùy, nhẵn hay có gai (ở một số thứ mọc hoang), có rễ cứng và biến thành gai Củ có vỏ mỏng, trong có chất bột dính màu ngà
Thân tròn mảnh, có gai nhỏ ở gốc, to và cong về phía trên Lá đơn, mọc
so le, nhọn hay có mũi dài và rộng khoảng 8 cm; mép nguyên Cụm hoa dạng bông đơn tính, bông đực dài đến 20 cm, bông cái mang rất ít hoa Quả nang cong xuống có cánh rộng đến 12 mm; hạt cũng có cánh
Cây được trồng ở nhiều nước nhiệt đới và ở nước ta Khắp các vùng nông thôn từ Bắc vào Nam đều có trồng Do trồng trọt lâu đời mà người ta tạo được những giống trồng không gai và trồng bằng hạt
Chế biến làm thực phẩm: củ từ to bằng củ khoai tây trung bình, có vỏ
ngoài bong ra, tróc thành khoanh vàng đều Thịt trắng, ngon hơn và không có vị
Trang 2nhạt và nhầy như khoai vạc Dùng nấu ăn thì ngọt, ngon, không độc, dùng thay lương thực
Sử dụng làm thuốc: củ từ được Lý Thời Trân (thế kỷ 16) ở Trung Quốc
xếp vào loại rau với tên cam chư Nó có vị ngọt, tính bình, bổ hư phạt (mệt mỏi), ích khí lực, kiện tỳ vị, cường thận dương
Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông cũng xếp nó vào các loại rau Sách
Lĩnh nam bản thảo ghi:
“Cam chư tục gọi là củ tía (khoai lang tím)
Ngọt bình, không độc, tính hòa hài
Bồi bổ lao thương, tỳ thận khỏe,
Tác dụng so ra giống củ mài”
Ta gọi nhầm tên nên nhiều khi hiểu sai Đối chiếu với các tài liệu cũ thì như đã trình bày ở trên, tác dụng của củ từ cũng tốt như củ mài
Trong khi đó các vị tiền bối còn gọi củ từ với tên thổ noãn
“Thổ noãn vốn tên thực củ từ,
Ngọt cay, tính lạnh mà hơi độc,
Trang 3Giải các thứ độc, bổ vị trường
Ho nhiệt họng khô nên dùng gấp”
Thực ra thổ noãn dùng ở Trung Quốc, ngày nay gọi là hoàng dược tử, tức
là khoai dái
Trang 4Củ đậu làm mịn da
Củ đậu hay củ sắn - Pachyrrhizus erosus (L.) Urb., thuộc họ đậu - Fabaceae Dây leo, có rễ phình thành củ Lá kép có ba lá chét Hoa màu tím nhạt mọc thành chùm ở nách lá Quả có lông Hạt dẹt
Ở nước ta, củ đậu được trồng khắp nơi Trồng bằng hạt, thời gian từ lúc hạt nảy mầm đến khi thu hoạch củ là 110 - 120 ngày
Chế biến làm thực phẩm: củ đậu ăn được nhưng hạt lại rất độc Cành lá
dùng làm phân xanh Củ đậu là loại rau được ưa chuộng từ Bắc vào Nam Củ đậu
ăn tươi mát, có tác dụng giải khát Dùng xào thịt, tôm tép, nấu thay rau ăn ngon miệng Người ta còn dùng củ đậu kho với thịt, hầm thịt, làm gỏi, làm nhân bánh đa nem, lẫn với thịt nạc băm, thịt cua biển, thịt tôm tươi và mộc nhĩ, bún tàu làm nhân bánh xèo (lẫn với tép bạc, thịt ba rọi)
Củ đậu chứa các thành phần tính theo g%: protid 1,0, glucid 6,0, cellulose 0,7 và theo mg%: calcium 8, phosphor 16 và vitamin C 6,0
Trang 5Sử dụng làm thuốc: củ đậu, hạt, lá, hoa được dùng làm thuốc Củ có vị
ngọt, tính mát, có tác dụng sinh tân chỉ khát, được dùng trị bệnh nhiệt khát nước, trường phong hạ huyết (đi ngoài ra máu) Hạt cây củ đậu chỉ dùng giã nhỏ nấu với dầu mè để nguội bôi chữa ghẻ Có thể phối hợp với quả bồ hòn và hạt máu chó…
Lá cây có chất độc, nên cũng chỉ dùng chữa bệnh ngoài da Hoa củ đậu dùng trị trúng độc rượu cồn mạn tính
Phụ nữ thường dùng củ đậu tươi xắt lát xoa hoặc ép lấy nước bôi mặt cho mịn da, khỏi nứt nẻ Củ đậu khô có thể tán bột dùng làm phấn bôi mặt, xoa rôm, sảy