đã được dân gian dùng nhiều làm thực phẩm; nhiều loại nấm mốc đơn giản đã được sử dụng để chế tạo những thực phẩm lên men như rượu, giấm, nước tương và rau trái muối chua.... Họ đã tìm t
Trang 1Nấm trong Đông y
Nấm đóng một vai trò quan trọng trong đời sống Đông phương từ hơn 7.000 năm trước
Nhiều thế kỷ qua, các loại nấm thông thường như nấm Rơm, nấm Mèo (Mộc nhĩ), nấm Mối, Tuyết nhĩ đã được dân gian dùng nhiều làm thực phẩm; nhiều loại nấm mốc đơn giản đã được sử dụng để chế tạo những thực phẩm lên men như rượu, giấm, nước tương và rau trái muối chua Nấm cũng được dùng làm thuốc tại Nhật, Triều Tiên và Việt Nam nhưng có lẽ thông dụng nhất là tại Trung Quốc
Từ 1883, một số nhà nghiên cứu đã thu góp những tài liệu về dược thảo do dân Ainu sinh sống tại đảo Hokkaido (Nhật) sử dụng Họ đã tìm thấy nhiều loại nấm, tuy nhiên chỉ xác định được vài loại như bào tử của nấm Bọc (loài Lycoperdon) được đắp bên ngoài để trị vết thương, trị phỏng và “trị cơ thể đau
nhức” hay nấm Fomitopsis officinalis dùng làm thuốc sắc trị đau bao tử
Việc sử dụng các loài nấm như Phục linh, Đông trùng hạ thảo, nấm Cựa gà (mạch giác) đã được ghi chép trong các sách thuốc đông y cổ truyền Điển hình
là hai tập sách cổ điển Thần nông bản thảo kinh (Shen nung Pen t’sao king) hay
Trang 2Bản thảo kinh, còn gọi tắt là Bản kinh (Pen king) và Minh y biệt lục, gọi tắt là Biệt
lục (Pie lu) thường được xem là bản bổ túc cho Thần nông bản thảo
Bản kinh, được cho là do Vua Thần Nông (2.800 năm trước Công nguyên) viết, nhưng có lẽ là do tổng hợp ở các y thư vào khoảng các năm 202 - 221 sau
Công nguyên Bản kinh ghi chép một số nấm như Ganoderma lucidum (Linh chi),
Poria cocos (Phục linh), Griffola umbellata, Polyporus mylittae, Calvatia lilacina
và Tremella fuciformis
Thường trong văn tự Trung Quốc danh từ “chi” dùng để gọi những dược thảo giúp “khỏe mạnh và sống lâu” Trong Bản kinh và Biệt lục, từ “chi” được dùng để chỉ một số nấm trong đó có 6 loài được mô tả như sau:
- Thanh chi (xanh lá cây = ts’ing), cũng gọi là Long chi, được cho là có vị
chua, không độc, giúp làm sáng mắt, bổ gan, an thần, tăng trí nhớ và tăng tuổi thọ
- Xích chi (nấm đỏ), vị đắng, không độc, tác dụng vào tâm, cũng có những
tính bổ và an thần như Thanh chi
- Hoàng chi (nấm vàng), còn gọi là Kim chi, vị ngọt, không độc, tác dụng
vào tỳ, bồi bổ cơ thể
- Bạch chi (nấm trắng), vị cay, không độc, tác dụng vào phế, đả thông các
khí khẩu
Trang 3- Hắc chi (nấm đen), vị mặn, không độc, tác dụng vào đường tiết niệu, bồi
bổ
- Tử chi (nấm tím = Mộc chi), vị ngọt, không độc, tác dụng bổ xương, gân
cốt
Một số tài liệu cho rằng 6 loại nấm trên là những dạng khác nhau của nấm
Linh chi (Ganoderma lucidum), một loại nấm được ghi chép lần đầu tiên vào thế
kỷ 11 trong Linh nguyên phương (Ling yuan fang, “Linh” có nghĩa là linh hiệu
hay linh thiêng) - một bản sách thuốc quan trọng nhất của Đông y, cũng có thể là
Bản thảo cương mục (PenTs’ao Kang Mu) do Lý Thời Trân (Li Shih Chen) ghi
chép và phát hành từ 1578 Một số tác giả Anh, Mỹ như Porter Smith (1911), Bernard Read (1938) đã giúp xác định một số tên khoa học cho các dược liệu
trong Bản thảo cương mục và đã ghi nhận được một số loài nấm ghi trong Bản thảo Trong đó có Linh chi là Ganoderma lucidum (Xem Chinese Medicinal Plants
from the Pen Ts’ao Kang Mụ AD 1596 của B Read)
Các loại nấm thường dùng nhất trong Đông y cổ truyền gồm: Linh chi, Đông trùng hạ thảo, Trư linh, Phục linh Nhóm nấm này được xem là những dược liệu thượng đẳng có tác dụng trị liệu khá cao Chúng đã được nghiên cứu khá
kỹ lưỡng theo các phương pháp khoa học hiện đại và hiện đang được sử dụng rộng rãi tại Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên
Trang 4Linh chi (Ganoderma lucidum), thật sự là loại nấm nổi tiếng nhất của Đông
y Nấm được gọi là Linh chi (Linzhi) tại Trung Quốc hay Reishi tại Nhật Nấm đã được dùng từ hàng ngàn năm trước để trị những bệnh về gan (như sưng gan, vàng da), bệnh về thận (sưng thận), huyết áp cao, thấp khớp, yếu thần kinh, mất ngủ,
sưng phổi, suyễn và ung loét bao tử (Y Kabir - J Nutr Sci Vitaminol, số 34 -
1998) Trước đây, nấm Linh chi rất đắt tiền vì chỉ có thể thu hái trong thiên nhiên
nhưng từ 1980 đến nay, nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật nuôi trồng, nấm Linh chi trở nên thông dụng và giá cả giảm rất nhiều, nên việc sử dụng cũng trở nên phổ biến hơn Hiện nay Linh chi được dùng trị những trường hợp suy nhược do tuổi già, ung thư và giúp kích hoạt (gia tăng) hệ miễn dịch
Vài loại nấm trong loài Đông trùng hạ thảo (Cordyceps) có một đặc điểm lạ
là quả thể phát sinh từ cơ thể của một loài côn trùng, do đó được đặt tên là Đông trùng hạ thảo (côn trùng trong mùa đông, cây cỏ trong mùa hè) Nấm này rất hiếm trong thời cổ Trung Quốc, chỉ có vua chúa mới có cơ hội thưởng thức Nấm có đặc tính làm tăng lực như Sâm, nên được dùng để bồi bổ, tái tạo “nguyên khí” khi kiệt
sức hoặc sau thời gian đau ốm kéo dài Ngày nay Cordyceps ophio glossoides
được dùng trong Đông y để kích thích lưu thông máu huyết và để trị những bệnh
về kinh nguyệt bất thường, trong khi đó Cordyceps sinensis được dùng để làm
thuốc bổ phổi và bổ thận, tráng dương, cũng dùng làm thuốc hỗ trợ dinh dưỡng để tạo thêm năng lực nơi người suy yếu hay cao tuổi
Trang 5Một thông tin trên tạp chí Newsweek (số ra ngày 27/9/1993) ghi nhận một
nữ vận động viên chạy đường trường của Trung Quốc đã gây kinh ngạc cho giới thể thao quốc tế khi thắng một loạt những cuộc thi chạy tại kỳ tranh tài vô địch thế giới về điền kinh ngoài trời, tổ chức tại Stuggart Đức (1993) Sau khi Vương Quân
Hạ (Wang Junxia) phá liên tiếp 3 kỷ lục thế giới trong 6 ngày tranh tài, và Qu Yunxia - một vận động viên khác lại phá thêm một kỷ lục đã đứng vững từ lâu trong cuộc thi đấu toàn Trung Quốc
Các kết quả vượt mức này khiến giới thể thao quốc tế lên tiếng cho rằng các nữ vận động viên Trung Quốc có lẽ đã sử dụng các loại thuốc kích thích (doping) bị cấm, nhưng không có một bằng chứng nào được tìm ra! Và phía Trung Quốc đã lý giải rằng những kết quả đạt được là do ở sự khổ công tập luyện cùng một chế độ ăn uống đặc biệt, trong đó có loại “cháo” nấu với Đông trùng hạ thảo
Nấm Lentinula edodes, tức nấm Đông cô (Nấm hương), được giới tiêu thụ
tại Mỹ biết dưới tên Shiitake (Black Mushroom) là một loại nấm ngon ngoại hạng Đây là loại nấm được sản xuất nhiều vào hạng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau
Agaricus bisporus (nấm trắng = nấm mỡ): khoảng 14% tổng số lượng nấm sản
xuất trên thế giới (4,3 triệu tấn, số liệu năm 1991), trị giá 8,5 triệu đô la Mỹ, so sánh với 56% là Agaricus Lịch sử ghi nhận người Nhật đã biết dùng nấm Đông cô
từ năm 199 sau Công nguyên và cho rằng nấm đã được bộ lạc Kyusuyu dâng tiến cho hoàng đế Nhật Chuai Xa hơn nữa, Đông cô cũng đã được dùng phổ biến tại Trung Quốc Theo kinh nghiệm dân gian, nấm Đông cô được dùng để kích thích
Trang 6sự hoạt động của hệ miễn dịch trong các trường hợp đau yếu, từ cảm mạo đến ung thư Nhiều nghiên cứu y học đã chứng minh là nấm Đông cô có những tác dụng kháng siêu vi và chống ung thư cùng một số tác dụng khác
Tại Nhật, một chế phẩm từ nấm Vân chi (Trametes versicolor), đã được
dùng rộng rãi như một loại thực phẩm hỗ trợ sức khỏe Các thử nghiệm tại các phòng thí nghiệm tiên tiến cho thấy nấm có những đặc tính làm hạ cholesterol và tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch
Ngoài cách sử dụng riêng nấm dưới dạng trà thuốc hay nấu thành cháo trong y học dân gian, Vân chi cũng được chế tạo dưới dạng viên, phối hợp với các nấm dược liệu khác để dùng trong các bệnh viện tại Nhật và Trung Quốc Nấm được chế biến thành dạng bột khô do đông lạnh, gói thành dạng trà bột, khi dùng pha trong nước sôi, hoặc bột khô đóng thành viên
Hiện nay, bằng những phương pháp lên men tân tiến, một số các hoạt chất như các polysaccharid có phân tử lượng cao, các polysaccharid kết nối với protein đã được ly trích từ quả thể, bào tử, khuẩn ty (sợi nấm) của một số nấm thông dụng đã được ứng dụng đưa vào bào chế nhiều sản phẩm có giá trị trong việc phòng và chữa bệnh
Tóm lại, ngày nay các nhà khoa học đã ghi nhận chi tiết khoảng 300 loài nấm ăn được, thu hái trong thiên nhiên hoặc nuôi trồng, trong đó khoảng 117 loài
có đặc tính trị liệu Phần lớn các loài nấm này được nuôi trồng tại Trung Quốc,
Trang 7Nhật, Hàn Quốc và một số quốc gia Đông Âu Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu di thực thành công và hiện đang triển khai nuôi trồng đại trà nhiều loài nấm quý như Linh chi, Vân chi, Thái dương, Hầu thủ mở ra những tiềm năng quý báu cho nguồn nguyên liệu làm thực phẩm hoặc các chế phẩm làm thuốc
DS TRẦN VIỆT HƯNG
BS TUẤN ANH