Xuất khẩu hàng hoá Trong những năm gần đây, chúng ta đẩy nhanh các hoạt động kinh tế đốingoại với các nớc ASEAN, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, mở rộng đợc thị trờng ra các khu vực, có những
Trang 1Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến hoạt động ngoại thơng Việt Nam trong những năm gần đây
I vàI nét về hoạt động xnk của Việt Nam từ 1996 đến nay
Công cuộc đổi mới quản lý kinh tế ở nớc ta trong hơn 15 năm qua đã giành
đợc những thắng lợi có tính chiến lợc, tạo tiền đề và điều kiện để nớc ta hội nhậpvới các nền kinh tế khu vực và thế giới Tổng thu nhập quốc dân hàng năm tăng
từ 7%-8%, riêng năm 2003, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việtnam là một trong hai nền kinh tế tăng trởng nhanh nhất thế giới (sau TrungQuốc) với mức tăng tơng ứng là 7%; lạm phát đợc kiểm soát, năm 1996 lạmphát là 4,5%, giá cả ổn định, năm 2000 lạm phát là -1,7% Riêng trong lĩnh vựcxuất nhập khẩu đã có những bớc tiến quan trọng
1 Về xuất khẩu.
1.1 Xuất khẩu hàng hoá
Trong những năm gần đây, chúng ta đẩy nhanh các hoạt động kinh tế đốingoại với các nớc ASEAN, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, mở rộng đợc thị trờng
ra các khu vực, có những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, kim ngạch xuất khẩu nămsau tăng nhanh hơn năm trớc Từ năm 1996 đến năm 2002 tốc độ tăng kimngạch xuất khẩu bình quân đạt 15,03%, riêng 9 tháng đầu năm 2003 ớc tính đạttrên 14,9 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trớc
Trang 2Bảng 4: Kim ngạch XNK của Việt Nam từ 1996 đến nay
Tỷ trọng các mặt hàng chế biến sâu (trong đó có hàng chế tạo) năm 1994 chỉchiếm 8,5 % năm 1997 đã lên đến 25%, năm 1999 đã tăng lên thành 30%, năm
2000 là 50% và năm 2001 là 55%
Năm 1995, nhóm nông, lâm, thuỷ sản chiếm 46,3% kim ngạch xuất khẩunhóm hàng thì đến năm 2000 nhóm nông, lâm, thuỷ sản giảm xuống còn 30,1%còn nhóm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng lên và đạt 34,3%
Trong thời gian này, xuất khẩu các mặt hàng đạt giá trị, khối lợng, tốc độtăng đáng kể là dầu thô, gạo, hàng dệt may, cà phê, thuỷ sản, than đá, cao su, hạttiêu… Đặc biệt là xuất khẩu gạo đã đem lại cho đất n Đặc biệt là xuất khẩu gạo đã đem lại cho đất nớc nhiều ngoại tệ, tính từnăm 1989 đến hết ngày 16/10/2003, nớc ta đã xuất khẩu đợc 40 triệu tấn gạo,
đạt kim ngạch 8 tỷ USD Với con số này, Việt Nam trở thành một trong nhữngnớc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, chiếm khoảng 11-16% thị phần gạo thếgiới
Trang 3Trong 9 tháng đầu năm 2003, hầu hết các mặt hàng chủ yếu có kim ngạchxuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2002 Kim ngạch xuất khẩu dầu thô ớc đạt2,8 tỷ USD tăng 23,7% và đóng góp vào mức tang xuất khẩu chung là 18,1%;hàng dệt may xuất khẩu trên 2,9 tỷ USD tăng 53,1% và đóng góp 34%; giày déptăng 24,4% và đóng góp 11%; cà phê tăng 57,5% (lợng xuất khẩu giảm 7,8%)
và đóng góp 4,2%; cao su tăng 39,6% (lợng xuất khẩu giảm 3,3%); điện tử ,máy tính tăng 37,3%; sản phẩm gỗ tăng 38,6%; dây điện và dây cáp điện tăng57,7%; xe đạp và phụ tùng xe đạp tăng 28,6%; hạt điều tăng 32,3% (lợng tăng34,7%) Riêng mặt hàng rau quả giảm 24,2% và chè giảm 40,4% so với cùng kỳnăm trớc
Về thị trờng xuất khẩu, trong những năm gần đây, chúng ta tăng cờng quan
hệ giao lu buôn bán với các nớc ASEAN, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, bớc đầu
mở cửa sang các thị trờng mới, trong đó có Mỹ
Tỷ trọng xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang cácnớc châu á liên tục giảm qua các năm: 70,9% năm 1996; 63,8% năm 1997;61,3% năm 1998; 55,1% năm 1999 Năm 2000 có tăng nhng với tỷ lệ không
đáng kể và chiếm 57,2%
Xuất khẩu của nớc ta sang châu Âu liên tục tăng từ 15,4% năm 1996;22,7% năm 1997; 27,7% năm 1998 và đạt 28,1% năm 1999; năm 2000 giảmxuống còn 24,5% Trong đó EU chiếm vị trí rất quan trọng trong cơ cấu thị tr-ờng xuất khẩu của Việt Nam, chúng ta cũng bắt đầu nối lại quan hệ buôn bánvới các nớc trong khối SEV nhng kim ngạch xuất khẩu cha lớn
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ đã tăng dần Năm 1997 hàngxuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng Mỹ đạt 273 triệu USD, năm 2000 đạt388,189 triệu USD; năm 2001 đạt 553,408 triệu USD, năm 2002 đạt 2394 triệuUSD
Với chính sách kinh tế mở, mở rộng mối quan hệ đa phơng và song phơng,Việt Nam đã dần hội nhập với nền kinh tế thế giới Thị trờng xuất khẩu của ViệtNam đợc mở rộng hơn, nhất là thị trờng EU, Bắc Mỹ, thị trờng Trung Cận Đông
và nhiều khu vực khác mà hàng hoá Việt Nam trở thành đối thủ cạnh tranh
1.2 Xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là một chiến lợc phát triển đợc Đảng và Nhà nớc ta hếtsức coi trọng, vì nó không những góp phần giải quyết vấn đề việc làm, thu hútthêm nhiều ngoại tệ về cho đất nớc mà qua thời gian làm việc ở nớc ngoài, ýthức làm việc, tay nghề và trình độ quản lý của ngời lao động đợc nâng cao từ đó
Trang 4nâng cao khả năng sản xuất và chất lợng sản phẩm Trong những năm qua, ápdụng nền kinh tế mở, từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiếtcủa Nhà nớc, Đảng và Nhà nớc ban hành nhiều chính sách mới nhằm khuyếnkhích và hỗ trợ ngời lao động có nhu cầu đi xuất khẩu lao động nh nghị định số370/HĐBT ngày 09/11/1991, nghị định số 07/CP ngày 10/11/1995, nghị định81/CP ngày 27/07/2003, nghị định 320/CP về việc cho ngời lao động vay vốn đixuất khẩu lao động dới 20 triệu không phải thế chấp… Đặc biệt là xuất khẩu gạo đã đem lại cho đất n đã đem lại những tác
động tích cực đến hoạt động xuất khẩu lao động Số lợng lao động và chuyên gia
đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài ngày một tăng và thị trờng xuất khẩu cũng
đợc mở rộng
Với cơ chế mới, đến nay cả nớc đã có trên 160 doanh nghiệp đợc Bộ Lao
động Thơng binh và Xã hội cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động sanggần 40 nớc và lãnh thổ khác nhau, trong đó ngoài những thị trờng cũ nh LiênXô, CHLB Đức, Tiệp Khắc, Bungary, Irắc, chúng ta còn khai thác thêm đợcnhững thị trờng mới nh các nớc Đông Bắc á, Đông Nam á, Tây á, Trung Đông,Bắc Phi
Từ năm 1996 đến nay, xuất khẩu lao động đã đạt đợc những thành tựu sau:
- Về số lợng: tăng đều và tăng rất nhanh qua các năm, năm 1991 mới chỉxuất khẩu đợc 1.022 lao động nhng đến năm 2001 con số này là 37.000 lao
động với thời hạn hợp đồng từ 3-5 năm, riêng năm 2000, dự kiến là 3 vạn lao
động Hiện nay số ngời Việt Nam đang lao động tại nớc ngoài vào khoảng 9 vạnngời Với thu nhập bình quân đầu ngời khoảng 5.000 USD/năm, ớc tính kimngạch xuất khẩu lao động năm 2000 sẽ đạt 450 triệu USD
Bảng 5: Số lợng lao động đi làm việc ở nớc ngoài từ năm 1996 tới nay
Đơn vị: ngời
Năm Số lợng lao động đa đi làm viêc ở nớc ngoài
Trang 51998 12.238
Nguồn: Cục quản lý lao động ngoài nớc
Trong số 160 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động,mời doanh nghiệp có số lợng lao động xuất khẩu đợc lên tới con số hàng nghìn(Xem Bảng 6)
Tính đến tháng 8/2003, chúng ta đã xuất khẩu đợc khoảng gần 200.000 lao
động đi làm việc ở nớc ngoài, với thời hạn thông thờng là 02 năm và mức thunhập ròng (thu nhập sau khi trừ đi các loại chi phí) khoảng 350 USD/tháng Nhvậy, trong những năm qua số lợng lao động đi làm việc ở nớc ngoài đã đem vềcho đất một nguồn ngoại tệ đáng kể, hơn 1,47 tỷ USD
Hơn nữa, nhờ tạo đợc công ăn việc làm cho một số lợng lớn lao động ở nớcngoài, đã giảm bớt đợc gánh nặng tạo công ăn việc trong nớc, nhất là Nhà nớc
có thể tiết kiệm đợc khoảng 800 tỷ đồng đầu t tạo việc làm mới cho lao độngnày (mức đầu t bình quân cho mỗi chỗ làm việc là 5 triệu đồng) và hàng ngàn tỷ
đồng khác liên quan đến các dịch vụ cho ngời lao động
Bảng 6: Tổng hợp số lao động theo Công ty Việt Nam 1999-01/2002 STT Công ty Việt Nam 1999 2000 2001 2002 Tổng số
Trang 610 sona 100 255 282 409 1046
Nguồn: Cục quản lý lao động ngoài nớc
1.3 Xuất khẩu dịch vụ
Việc thực hiện chủ trương "phát triển nhiều hình thức dịch vụ thu ngoại tệ,nhất l hoà ho ạt động du lịch" có nhiều tiến bộ Khách du lịch nước ngo i v o Vià ho à ho ệtNam tăng từ 250 ng n là ho ượt người v o nà ho ăm 1991 lên khoảng 2 triệu lượt người
v o nà ho ăm 2000, doanh thu đạt khoảng 450 triệu USD Các dịch vụ khác nhưngân h ng, h ng không, vià ho à ho ễn thông, xây dựng, y tế, giáo dục thu … Đặc biệt là xuất khẩu gạo đã đem lại cho đất n đượckhoảng 1 tỷ USD v o nà ho ăm 2000
Nhng trên thực tế ở ta ít chú trọng tới xuất khẩu dịch vụ, thậm chí không có
số liệu thống kê một cách có hệ thống Tuy nhiên qua tổng hợp số liệu của cácngành, có thể sơ bộ ớc tính thơng mại dịch vụ hai chiều của Việt Nam năm 2003
đạt 3,2 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 2,0 tỷ USD và nhập khẩu đạt 1,2 tỷ USD
bị lẻ để phục vụ Nhà máy thủy điện Hoà Bình, hệ thống đờng dây tải điện 500
KV và nhiều nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng , hiện nay việc nhập khẩu máymóc thiết bị còn để mở rộng các ngành công nghiệp chế biến nông sản, thuỷsản, công nghiệp dệt, may… Đặc biệt là xuất khẩu gạo đã đem lại cho đất n
Trang 7Hàng nguyên liệu, vật liệu phục vụ cho sản xuất - những mặt hàng trong
n-ớc cha sản xuất đợc hay sản xuất cha đủ - đợc nhập khẩu tăng lên rất nhanh từ57,8% năm 1995 lên 69% năm 1996, năm 1997,1998 đạt khoảng 63,3% và năm
2000 đạt 68%, 9 tháng đầu năm 2003 tăng 31,6% so với cùng kỳ năm trớc vàchiếm tới 93,7% kim ngạch nhập khẩu, cơ bản đáp ứng nhu cầu trong nớc nh:
- Sắt thép: năm 1997 nhập khẩu 700 nghìn tấn và 500 nghìn tấn phôi thép,năm 1998 nhập khẩu 1.900 nghìn tấn, năm 1999 nhập khẩu 2.800 nghìn tấn,năm 2000 nhập khẩu 2.700 nghìn tấn, năm 2001 nhập khẩu 2.867 nghìn tấn,năm 2002 nhập khẩu 4975nghìn tấn, 9 tháng đầu năm 2003 nhập khẩu 3.137nghìn tấn tăng 45,7 % so với cùng kỳ năm 2002
- xăng dầu các loại: năm 1996 nhập khẩu 5.700 nghìn tấn, năm 1997 nhậpkhẩu 6.600 nghìn tấn tăng 13,8% so với năm 1996, năm 1998 nhập khẩu 7.300nghìn tấn(kể cả tái xuất), năm 1999 nhập 7.400 nghìn tấn, năm 2000 nhập khẩu8.600 nghìn tấn, năm 2001 nhập 8.777nghìn tấn, năm 2002 nhập khẩu 9864nghìn tấn, 9 tháng đầu năm 2003 nhập khẩu 6.724 nghìn tấn tăng 25,3 % so vớicùng kỳ năm 2002
- Phân bón urê: năm 1996 nhập khẩu 1.467 nghìn tấn, năm 1997 nhập khẩu1.500 nghìn tấn, tăng 2,2% so với năm 1996, năm 1998 nhập 1.600 nghìn tấn,tăng 6,3% so với năm 1997, năm 1999 nhập 1.950 nghìn tấn, năm 2000 nhập2.023 nghìn tấn, năm 2001 nhập 2.108 nghìn tấn
- Xi măng: năm 1997 nhập khẩu 850 nghìn tấn, năm 2000 khoảng 1463nghìn tấn
Ngoài ra, trong những năm qua còn nhập khẩu nhiều mặt hàng khác nh ôtô,
xe máy và các linh kiện điện tử Nói chung đã đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùngtrong cả nớc, tránh đợc những cơn sốt “nóng lạnh” kéo dài
Hàng tiêu dùng thiết yếu đợc nhập khẩu thoả mãn nhu cầu đời sống nhândân, tuy nhiên giá trị nhập khẩu qua hàng năm có xu hớng giảm Năm 1996hàng tiêu dùng thiết yếu nhập khẩu trị giá 1.200 triệu USD chiếm 10,7% trongtổn kim ngạch nhập khẩu , năm 1997 chỉ còn 1.000 triệu USD chiếm 9%, năm
1998 chiếm 6%, năm 1999 chiếm 6,1%, năm 2000 chiếm 4,0% và năm 2001chiếm 5,9%
Bảng 7: Một số mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1996-2003
Trang 8ớc ASEAN là 3,15 tỷ USD chiếm 28,3% tổng giá trị nhập khẩu từ các nớc,trong đó nhập khẩu từ Xingapo 2.075 triệu USD chiếm 23,7% tổng giá trị nhậpkhẩu tính cho tất cả các nớc, sau đó là Thái Lan 569 triệu USD, năm 2000 thị tr-ờng các nớc ASEAN chiếm 29% và năm 2002 chiếm 30% Ngoài ra, năm 2000,Việt Nam còn nhập khẩu từ Hàn Quốc là 1,56 tỷ USD, Nhật Bản 1,43 tỷ USD,
Đài Loan 1,39 tỷ USD … Đặc biệt là xuất khẩu gạo đã đem lại cho đất n Năm 1997, Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Pháp0,548 tỷ USD, Đức 0,28 tỷ USD Trớc năm 1995, quan hệ buôn bán của ViệtNam với thị trờng Bắc Mỹ rất ít nhng từ năm 1996 trở lại đây có xu hớng tăng,năm 1997 Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ là 0,416 tỷ USD, năm 2000 là 0,278 tỷUSD Sự chuyển dịch cơ cấu thị trờng nh trên mang tính tích cực, phù hợp vớichiến lợc đa phơng hoá, đa dạng hoá thị trờng thế giới của hàng hoá Việt Nam.Cùng những thành tựu thu đợc trong xuất nhập khẩu của Việt Nam, nhậpsiêu trong những năm gần đây có xu hớng giảm cũng là một thành công khôngthể không kể đến của hoạt động xuất nhập khẩu Theo số liệu của Tổng cụcThống kê, năm 1996 nhập siêu là 3.888 triệu USD, năm 1997 là 2.407 triệuUSD, năm 1998 là 2.166 triệu USD, năm 1999 là 82 triệu USD, năm 2000 là1.184 triệu USD, năm 2001 là 1900 triệu USD và riêng năm 2002 khoảng 2.800triệu USD Tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu liên tục giảm từ mức 53% năm 1996
Trang 9xuống còn 26,2% năm 1997, 22,8% năm 1998, gần 10% năm 1999, 11% năm
2000 và mức 6,0% năm 2001
Tóm lại, trong giai đoạn từ năm 1996 đến nay, nền kinh tế Việt Nam đãthu đợc nhiều thành tựu đáng tự hào, nhất là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu Xuấtkhẩu có tốc độ phát triển cao bình quân đạt 19,1% Hình thành một số mặt hàngchủ lực có khối lợng và giá trị lớn nh gạo, dầu thô, hàng may mặc, hàng thuỷsản, cà phê, cao su, hạt điều, than, lạc, một số mặt hàng đã có sức cạnh tranhtrên thế giới nh gạo, hàng thuỷ sản, hàng may mặc, giày dép… Đặc biệt là xuất khẩu gạo đã đem lại cho đất n tạo đợc chỗ đứngtrên thị trờng thế giới Bên cạnh đó cơ cấu hàng hoá xuất khẩu có nhiều thay đổitheo hớng tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm nguyên liệuthô Về thị trờng xuất khẩu, chúng ta đã chủ động tham gia vào các tổ chức khuvực, khai thông mối quan hệ kinh tế đối ngoại với Mỹ, mở rộng hợp tác với EU
và nối lại quan hệ với các nớc XHCN trớc đây, nhờ đó thị trờng xuất khẩu của
n-ớc ta ở giai đoạn cuối này đã có bn-ớc chuyển dịch cơ bản so với trn-ớc đây Vềnhập khẩu, nói chung đã góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Việt Nam, thúc
đẩy sản xuất phát triển, đáp ứng nhu cầu hàng hoá tiêu dùng trong cả nớc, tốc độtăng bình quân của kim ngạch nhập khẩu là 12,95% Mặt hàng nhập khẩu củaViệt Nam chủ yếu là máy móc thiết bị, chiếm hơn 80% trong kim ngạch nhậpkhẩu, phần còn lại là hàng tiêu dùng
Bên cạnh các kết quả đã đạt đợc còn có một số mặt tồn tại chủ yếu sau:
- Kim ngạch xuất khẩu năm 1996 ở mức xấp xỉ 33% GDP và mới đạt 95USD/ngời/năm, bằng 55% số chỉ báo 170 USD/ngời/năm- chỉ số đã đợc cácquốc gia thừa nhận là chỉ tiêu của một nớc có nền ngoại thơng tơng đối pháttriển, năm 1997,1998 mới đạt xấp xỉ 121 USD/ngời/năm, bằng 70%
- Mặc dù cơ cấu hàng xuất khẩu có chuyển dịch tích cực theo hớng tăngdần tỷ trọng hàng chế biến và hàng chế biến sâu nhng cho tới nay xuất khẩuhàng thô và sơ chế vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 50%-60% tổng kim ngạch
- Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài bắt
đầu có tốc độ tăng đáng kể Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệpnày trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc còn thấp, năm 1997 mới đạt16,8%, năm 1998 đạt 18-20%, năm 1999 đạt 39%, năm 2001 đạt 45,1%
- Về cơ cấu thị trờng, tuy bớc đầu đã có sự chuyển biến tích cực, hàng nhậpkhẩu của Việt Nam đã vơn tới tất cả các châu lục trên thế giới nhng cơ cấu thị tr-ờng còn chậm đợc hoàn thiện Thị trờng châu á vẫn còn chiếm tỷ lệ cao(58,4%năm 2001, 51,9% năm 2002 giá trị xuất khẩu), thị trờng các châu lục khác còn
Trang 10Độc quyền của các doanh nghiệp Nhà n ớc chuyên doanh XNK Mở rộng cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và các địa ph ơng Cho phép các doanh nghiệp t nhân tham gia XNK
nhỏ bé Điều bất lợi hiện nay trong cơ cấu thị trờng còn thể hiện ở chỗ: hàng
xuất khẩu của Việt Nam vào các nớc trung gian vẫn chiếm tỷ lệ cao, dẫn đến
hiệu quả xuất khẩu thấp, hàng nhập khẩu từ các khu vực có nền công nghiệp
nguồn cha nhiều, do đó sự đổi mới công nghệ trong sản xuất hàng hoá nói
chung, hàng xuất khẩu nói riêng diễn ra còn chậm, ảnh hởng đến sức cạnh tranh
trên thị trờng quốc tế
Tuy nhiên, nhìn chung, về cơ bản chúng ta đã hoàn thành các chỉ tiêu mà
Đảng và Nhà nớc đề ra đối với hoạt động xuất nhập khẩu giai đoạn 1996-2000,
góp phần phục vụ quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, tạo đợc
những tiền đề vững chắc cho việc phát triển kinh tế, đặc biệt là ngoại thơng giai
đoạn 2001-2005
II Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến hoạt
động ngoại thơng Việt Nam trong những năm gần đây.
1 Thời kỳ 1986-1995 1.1 Những thành quả đạt đợc:
Công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế đợc Đảng Cộng sản Việt Nam khởisớng từ Hội nghị Trung ơng lần thứ 6(khoá IV) họp cuối năm 1986 đã có những
tác động mạnh mẽ làm biến đổi sâu sắc nền kinh tế Việt Nam Kinh tế ở nớc ta
từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng, có sự quản lý của
Nhà nớc, chính sách thơng mại đã thay đổi căn bản, đối với hoạt động ngoại
th-ơng : chuyển từ độc quyền ngoại thth-ơng sang từng bớc thực hiện tự do hoá thth-ơng
mại, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại Những thay đổi
đó là những điều kiện thuận lợi để nớc ta đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế,
mở rộng buôn bán và hợp tác kinh tế với các nớc và các tổ chức kinh tế khu vực
Dới đây là những kết quả mà việc đổi mới chính sách thơng mại đã đem lạicho hoạt động ngoại thơng nớc ta giai đoạn 1986-1995
1.1.1 Chính sách thơng mại đã thực hiện thành công vai trò thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc điều chỉnh chính sách XNK thể hiện ở các
Trang 11Trớc 1986 Từ 1986-1988 Từ 1989
Việc Nhà nớc xoá bỏ sự độc quyền trong kinh doanh ngoại thơng đã có tácdụng khuyến khích mọi thành phần kinh tế từ doanh nghiệp quốc doanh tới cácdoanh nghiệp t nhân vừa và nhỏ tham gia vào sản xuất kinh doang hàng xuấtkhẩu Năm 1981 chỉ có 12 doanh nghiệp đợc phép kinh doanh xuất nhập khẩu,
đến 1987 con số này là 35 doanh nghiệp và năm 1996 tăng lên 1400 doanhnghiệp Nhờ việc số lợng các doanh nghiệp đợc tham gia kinh doanh xuất nhậpkhẩu tăng lên, đồng thời phạm vi mặt hàng đợc phép sản xuất, kinh doanh củamỗi doanh nghiệp cũng đợc mở rộng và đa dạng đã làm cho giá trị xuất khẩucủa nớc ta giai đoạn 1986-1995 không ngừng tăng lên và đạt đợc tốc độ cao, liêntục qua các năm
Trang 12Bảng 8: Xuất nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ 1986-1995
Nguồn: Giáo trình Kinh tế ngoại thơng – 1997, trang 99 1997, trang 99
Tỷ lệ tăng trởng bình quân trong 10 năm của xuất khẩu vẫn cao hơn tỷ lệtăng của tổng kim ngạch buôn bán hai chiều và của nhập khẩu Trong khi tỷ lệtăng bình quân của xuất khẩu trong 10 năm là 23,9%/năm, thì của xuất khẩucông lại là 18,5%/năm, và của nhập khẩu là 15,9%/năm Tuy nhiên, tỷ lệ tăng tr-ởng của xuất khẩu có xu hớng tăng chậm lại so với tỷ lệ tăng của nhập khẩu.Trong 10 năm 1986-1995 tỷ lệ tăng bình quân/năm của xuất khẩu 32%/năm, củanhập khẩu là 6,1% thì trong 5 năm 1991-1995 tỷ lệ tăng tơng ứng là 36,6%/năm
và 27,1%/năm
- Chính sách thị trờng và mặt hàng XNK đã kịp thời chuyển hớng khiến cho thị
trờng buôn bán của Việt Nam trong 10 năm qua thay đổi rất cơ bản
Bảng 9: Sự thay đổi cơ cấu thị trờng xuất khẩu, nhập khẩu của
Việt Nam giai đoạn 1990-1995
6.318.156
Trang 13- Sự chuyển hớng thị trờng so với trớc đây đã tạo tiền đề cho nớc ta thực hiện đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu.
Trớc đây, khi buôn bán với các nớc trong khối SEV, hoạt động XNK mangtính thụ động theo các Hiệp định và Nghị định đã ký kết giữa Chính phủ ta vớicác nớc, các mặt hàng XNK đợc quy định theo các cân đối đôi bên, nên nhiềulợi thế về tài nguyên thiên nhiên và con ngời của Việt Nam cha đợc khai thác
Từ khi chuyển sang buôn bán với các nớc thuộc khu vực t bản chủ nghĩa, cáctiềm năng này đợc khơi dậy, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực nh gạo, thủy sản,may mặc… Đặc biệt là xuất khẩu gạo đã đem lại cho đất n đã xuất hiện góp phần tạo nên giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu lớn
và tốc độ tăng trởng xuất nhập khẩu cao so với thời kỳ trớc đây
Cơ cấu hàng xuất khẩu trong 10 năm qua có sự thay đổi khá mạnh ở nhómhàng công nghiệp nặng và khoáng sản Sự thay đổi này là do Việt Nam tăng dầnxuất khẩu dầu thô Năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu dầu thô với số lợng
là 1,5 triệu tấn; năm 1995 xuất khẩu mặt hàng này tăng lên hơn 7,6 triệu tấn.Nhóm nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu có xu hớng giảm dần trong cơ cấuxuất khẩu Năm 1986 nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản chiếm 63,2% trong tổng
Trang 14giá trị xuất khẩu; năm 1990 và 1995 giảm xuống còn 48% và 46,2% Xuất khẩuhàng công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp tăng nhanh về tổng giá trị nhng tỷ lệtrong cơ cấu xuất khẩu ít thay đổi.
Trang 15B¶ng 10: XuÊt khÈu ph©n theo nhãm hµng
Nguån: Th¬ng m¹i thêi më cöa, NXB Thèng kª, Hµ néi, 1996, trang 23
B¶ng 11: C¬ cÊu hµng xuÊt khÈu cña ViÖt Nam ph©n theo SITC
S¶n phÈm nhãm 2 bao gåm: s¶n phÈm c«ng nghiÖp chÕ biÕn
S¶n phÈm nhãm 3 bao gåm: s¶n phÈm ho¸ chÊt, m¸y mãc thiÕt bÞ vµ ph¬ngtiÖn vËn t¶i
Trang 16Trong giai đoạn này đã sớm chú ý đến việc xây dựng các mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực nh dầu thô, dệt may, thuỷ sản, gạo, giày dép… Đặc biệt là xuất khẩu gạo đã đem lại cho đất n
Bảng 12: Mời mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong
những năm 1991-1995 S
T
T Mặt hàng
Triệu USD
% Triệu USD
% Triệu USD
% Triệu USD
% Triệu USD
Nguồn: Vụ Xuất nhập khẩu- Bộ Thơng mại
1.1.2 Hệ thống công cụ của chính sách thơng mại bớc đầu đã sử dụng
có hiệu quả công cụ tài chính tiền tệ theo cơ chế thị trờng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và thúc đẩy xuất khẩu đạt mục tiêu tăng thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán và tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc.
Trớc đây, trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, việc trao
đổi mua bán hàng hoá với nhau chủ yếu là thực hiện trên cơ sở các hiệp định
th-ơng mại, tỷ giá lúc này đợc ấn định cố định trong một thời gian dài, các doanhnghiệp trong lĩnh vực XNK không quan tâm đến hiệu quả, hoạt động của mình
mà chỉ làm theo mệnh lệnh của Nhà nớc
Khi nền kinh tế ở Việt Nam thực hiện theo cơ chế thị trờng thì phải coi tiền
tệ là một loại hàng hoá đặc biệt, cho nên giá cả của nó phải lên xuống phụ thuộcvào quan hệ cung- cầu Từ năm 1989, với việc thực thi một chế độ tỷ giá thốngnhất theo sát với giá thị trờng, đã buộc các doanh nghiệp XNK phải chủ động,sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, nắm bắt kịp thời các diễn biến của thị tr-ờng, hạn chế tâm lý trông chờ, dựa dẫm vào chính sách u đãi của Nhà nớc
Trang 17Có thể nói, với chính sách nới lỏng va gần nh thả nổi tỷ giá trong giai đoạn1989-1992 đã góp phần rất quan trọng làm tăng kim ngạch xuất khẩu và cảithiện cán cân thơng mại của nớc ta trong những năm đó.
Bảng 13: Lạm phát, tỷ giá và cán cân thơng mại giai đoạn 1989-1995
10840
10832
11050 1096
5Cán cân thơng mại
(triệu USD)
-350 -41 -64 12 -972 -1771.8 -2702
Nguồn: Vụ Thống Kê - Bộ Thơng mại
Qua bảng 11 có thể nhận thấy, diễn biến của tỷ giá VNĐ/USD từ năm 1989
đến 1991 tăng lên liên tục, bám sát tốc độ lạm phát ở nớc ta đã có tác dụng tíchcực theo hớng tăng tỷ giá thực tế - tăng khả năng cạnh tranh quốc tế của hànghoá Việt Nam, làm cho xuất khẩu đợc đẩy mạnh góp phần giảm mức độ thâmhụt của cán cân thơng mại, đặc biệt năm 1992 kim ngạch xuất khẩu đã vợt quakim ngạch nhập khẩu 12 triệu USD
- Chính sách thuế không ngừng đợc bổ sung, sửa đổi theo hớng dành u đãi cho sản xuất - xuất khẩu và mở rộng số lợng khung thuế nhập khẩu đã tạo đợc
nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nớc, năm 1990 thuế XNK đóng góp67,5 triệu USD chiếm 9,8% tổng thu ngân sách, năm 1991 chiếm 11,3%, năm
1992 chiếm 14,0%, năm 1995 chiếm 27,0%
Thuế XNK đã tăng rất nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thuếcủa nớc ta Điều này đã góp phần khắc phục tình trạng mất cân đối trong thu chingân sách và là nguồn tích luỹ để đầu t phát triển vào các lĩnh vực quan trọngcủa nền kinh tế
Bảng 14: Mức đóng góp về thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Trang 18Bảng 15: Nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ 1986-1995
3
199 4
199 5 KNNK
2756, 7
2565, 8
2754, 4
2338, 1
2540, 7
392 4
500 0
750 0 Tốc độ
tăng(%
)
160 13,9 12,3 -7,0 7,3 -15,0 8,7 54,5 48,5 40,0
Nguồn: Vụ Xuất nhập khẩu – 1997, trang 99 Bộ Th ơng mại.
Ta thấy, tốc độ tăng nhập khẩu bình quân đạt 17,9% trong cả giai đoạn 10năm Đây chính là kết quả của việc kết hợp các công cụ chính sách khác nhau
nh thuế, quản lý, ngoại hối và các biện pháp mang tính tình huống nh dán temhàng nhập khẩu nhằm phục vụ cho mục đích u tiên nhập khẩu máy móc thiết bị,nguyên vật liệu cho sản xuất nên cơ cấu nhập khẩu đã có những chuyển biếntích cực
Nhập khẩu hàng tiêu dùng có xu hớng tăng trong 10 năm qua Trong nhómhàng t liệu sản xuất, nhóm máy móc,thiết bị, động cơ và phụ ting tăng nhanhtrong mấy năm gần đây Nguyên vật liệu vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng giátrị nhập khẩu
Trong nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng, tỷ lệ nhập khẩu lơng thực giảmmạnh Ngợc lại hàng tiêu dùng khác tỷ lệ nhập khẩu tăng đều qua các năm vànăm 1995 chiếm gần 11% giá trị nhập khẩu
Trang 1985,1 16,0 11,4 57,8 14,9 1,7 2,5 1,5 9,2 100
83,5 - 25,7 57,8 16,5 1,4 3,5 0,9 10,8 100
Nguồn: Thơng mại thời mở cửa, NXB Thống kê, Hà Nội, 1996, trang 223
Nh vậy, so với những năm trớc đó, thời kỳ 1986-1995 đánh dấu một bớcngoặt trong quá trình đổi mới chính sách thơng mại của Việt Nam, đặc biệt làchính sách XNK, từ độc quyền Nhà nớc về ngoại thơng sang từng bớc tự do hoáquyền kinh doanh XNK cho mọi doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế,
hệ thống công cụ chính sách XNK theo cơ chế thị trờng cơ bản đợc hình thành
và phục vụ có hiệu quả cho mục tiêu kinh tế đã đề ra
1.2 Một số hạn chế còn tồn tại:
Bên cạnh những thay đổi tích cực, chính sách thơng mại của thời kỳ nàycòn chứa đựng nhiều nội dung bất hợp lý, gây nhiều tác động tiêu cực đối vớihoạt động XNK
- Trong các Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI, VII đều hiện chủ
tr-ơng mở rộng quyền tham gia XNK cho mọi chủ thể sản xuất và kinh doanhXNK không phân biệt thành phần kinh tế, tuy nhiên những quy định cụ thể lạihạn chế rất lớn quyền này đối với khu vực kinh tế t nhân Ví nh, theo quy đinh
cụ thể của NĐ 114/HĐBT các doanh nghiệp t nhân muốn tham gia XNK phải cógiấy phép đặc biệt của Chủ tịch HĐBT, điều kiện về vốn, khả năng tập trungnguồn hàng xuất khẩu Nghị định 33/CP ngày 09/04/1994 quy định muốn đợccấp giấy phép đăng ký kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện về vốn lu động,