Chất lượng lao động nước ta còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.Theoliệu điều tra,số lượng công nhân được đào tạo nghề giảm sút nghiêm trọng,chỉ có 12% đội ngũ công nhân qua đào tạo
Trang 1Chương II Phân tích thực trạng thị trường lao động việt nam trong thời gian qua
II.1 Thực trạng về thị trường lao động Việt Nam
II.1.1.Đặc điểm về thị trường lao động.
a,áp lực lớn về việc làm:
Lực lượng lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây đã liên tục tăng vớitốc độ cao,một mặt tạo nguồn lực lớn cho phát triển đất nước nhưng mặt kháccũng tạo ra áp lực lớn về đào tạo nghề và giải quyết việc làm
Tác dụng cả tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế đối với việcthu hút , chuyển dịch cơ cấu lao động, nhưng hiện thực, tốc độ chuyển dịch cơcấu còn rất chậm , cụ thể :Trong vòng 10 năm kể từ năm 1990- 2000,khu vựccông nghiệp và dịch vụ lực lượng lao động tăng 14,2% trong khi đó lực lượnglao động nông nghiệp chỉ giảm 4%(từ trên 72% năm 1990 xuống 68% năm
1999 )
Những đặc điểm trên là luận chứng lý giải cho tình trạng : Thiếu việc làm và
dư thừa lao động càng trở lên bức xúc.Theo kết quả của cuộc điều tra về laođộng-việc làm cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ởkhu vực thành thị trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng.Nếu năm
1986 là 5,8% thì năm 1997 là 6,01%;năm 1998 là 6,85% và năm 1999 là7,4%(trong đó nữ chiếm 8,26%) Đồng thời tỷ lệ lao động thất nghiệp ở khu vựcthành thị chủ yếu tập trung ở lực lượng lao động có độ tuổi từ 15-24.Lực lượnglao động ở nhóm tuổi càng cao tỷ lệ thất nghiệp càng thất Tỷ lệ sử dụng thờigian thời gian lao động ở khu vực nông thôn chỉ đạt khoảng 65%-75% (thiếuviệc làm khoảng 30%-35%), càng chứng tỏ cho nhận định về tình trạng dư thừalao động nói trên
b, Cơ cấu về lao động bất hợp lý:
Trang 2Lực lượng lao động ở Việt Nam tăng nhanh, với mức cung về số lượng laođộng lớn, xong về trình độ chuyên môn tay nghề lại rất thấp dẫn đến tình trạngvừa thừa lại vừa thiếu ,thừa lao động phổ thông thiếu lao động có trình độchuyên môn kỹ thuật
Chất lượng lao động nước ta còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.Theoliệu điều tra,số lượng công nhân được đào tạo nghề giảm sút nghiêm trọng,chỉ
có 12% đội ngũ công nhân qua đào tạo , số công nhân không có tay nghề hoặcthợ bậc thấp chiếm 56% và khoảng 20% lao động công nghiệp không có chuyênmôn.Số công nhân thay đổi nghề chiếm 22,7% ,nhưng chỉ có 6,31% trong số đóđược đào tạo lại.Đặc biệt là ở các tỉnh miền núi các Nông -Lâm trường trình độvăn hoá và tay nghề của công nhân thấp hơn nhiều so với các nơi khác.Mặtkhác thể lực người lao động Việt Nam còn kém xa so với các nước trong khuvực về cân nặng và chiều cao,sức bền, như chiều cao của người lao động ViệtNam là 1,47m, cân nặng 34,4kg so sánh với một số nước như Philíppin là1,53m; 45,5kg; người Nhật là 1,64m; 53,3kg.Số người không đủ tiêu chuẩn vềcân nặng ở Việt Nam chiếm 48,7%.Bên cạnh đó kỷ luật lao động còn chưa caocòn mang tác phong sản xuất công nghiệp lạc hậu
Cơ cấu phân công lao động bất hợp lý, năng suất lao động và thu nhập cònthấp Nếu năm 1991 lao động nông nghiệp là72,6% năm 1995 là 69,73% đếnnăm 1999 là 67,7% và đến năm 2000 dự báo khoảng 62,27% trong tổng số laođộng được thu hút vào hoạt động trong nền kinh tế
Lao động nước ngoài làm việc chủ yếu trong các nghành nghề mà lao độngViệt Nam không đáp ứng được Việc xuất khẩu lao động tuy có tăng lên nhưngvẫn còn thấp,,năm 1999 xuất khẩu được hơn 30000 lao động nhưng lại chủ yếu
là lao động giản đơn
c,Tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động còn thấp.
ở Việt Nam, hiện nay thị trường lao động tập trung chủ yếu ở đô thị lớn:Thành Phố Hồ Chí Minh,thủ đô Hà Nội , các Trung tâm công nghiệp mới
Trang 3Gần đây Tổng cục thống kê điều tra mức sống dân cư Việt Nam cho thấy21,45% lao động so với tổng số lao động trong tuổi ở khu vực nông thôn thamgia làm công ăn lương (quan hệ thuê mướn) trong số đó số làm công ăn lươngchuyên nghiệp là 4,29%.Con số này ở thành thị là 42,81%b và 32,75% Laođộng làm công ăn lương ở nước ta từ 3 tháng trở lên trong năm nhìn chung cònchiếm tỷ lệ nhỏ (17% tổng số lực lượng lao động của xã hội , trong khi đó ởcác nước có nền kinh tế phát triển tỷ lệ này thường chiếm 60-80%).
Qua một số khái niệm và đặc điểm của dân số và thị trường lao động nêutrên, ta có đủ cơ sở, lý luận thực tiễn, để đi nghiên cứu tiếp sang phần thựctrạng của vấn đề đó Tuy nhiên để xem xét vấn đề được hoàn thiện ta phải đềcập đến,vấn đề sự tác động của dân số đến thị trường lao động
(trước năm 1986)
II.1.2.1 Về số lượng lao động:
Trước năm 1986 lực lượng lao động nước ta rất dồi dào do tốc độ tăng dân
số nhanh sau chiến tranh nhất là thời kỳ 1954-1984 do vậy nguồn lao động nước
ta đang trong thời kỳ tăng cao nhất mà các nhà kinh tế học thế giới đã kết luận
“có nguy cơ không sử dụng hết lao động”
Nhịp độ tăng bình quân hàng năm dân số - nguồn lao động trong các thời
Về mức tuyệt đối nếu 5 năm 1976-1980 bình quân mỗi năm tăng thêm
75-80 vạn người trong độ tuổi lao động; 5 năm từ 1981-1985 là 85-90 vạn người(1)
(1)(1) Th tr ư ng lao đ ng v gi i quy t vi c l m Vi t Nam (UBKH nh n ệc làm ở Việt Nam (UBKH nhà nước - Trung tâm thông tin) tr.28 ở Việt Nam (UBKH nhà nước - Trung tâm thông tin) tr.28 ệc làm ở Việt Nam (UBKH nhà nước - Trung tâm thông tin) tr.28 ước - Trung tâm thông tin) tr.28 c - Trung tâm thông tin) tr.28
Trang 4(*) Năm 1975 tổng số lao động trong khu vực nhà nước có 1761 ngàn ngườichiếm 8,2% tổng số lực lượng lao động Sang năm 1976 đã tăng lên 2475,3 nghìn người chiếm 11,05 tổng số lao động (so với 1975 tăng thêm 714,3 nghìn người chiếm 12,5% tổng số lao động xã hội (so với 1976 đã tăng thêm 840,2 nghìn người và chiếm tỷ trọng 13% tổng số lực lượng lao động xã hội (so với
1980 tăng thêm 551,4 nghìn người)
Còn nước ta ở tình trạng phân công lao động thấp nhất lao động nông nghiệp không những tăng tuyệt đối từ 15,11 triệu người năm 1980 lên 18,81 triệu người năm 1985, mà tăng cả tỷ trọng từ 69,84% năm 1980 lên 72,26% năm 1985 Lao động công nghiệp tỷ trọng tăng không đáng kể (từ 10,39% lên 10,76%), lao động các ngành khác tỷ trọng rất thấp và giảm (19,77% xuống 16,98%)
Bảng 2 cho thấy hiện trạng phân bổ lao động theo ngành nước ta từ năm 1976-1988
Trong cả thời kỳ tốc độ tăng nguồn lao động bình quân năm là 3,15%, riêng lao động nông nghiệp tăng 3,29% Tỷ trọng lao động nông nghiệp tăng từ 7,1% xuống 6,9% Nếu tính cả thời kỳ 1976-1988 thì đó là bước thụt lùi đáng kể
về phân công lao động xã hội ở nước ta (riêng 3 năm 1986-1988, thời kỳ bắt đầuđổi mới, các quan hệ tỷ lệ phân bố lao động, đã có chuyển biến tốt lên, mặc dù còn chậm Trong đó tỷ trọng lao động nông nghiệp đã giảm từ 72,3% năm 1985 xuống 72,2% năm 1988)
Nhìn chung lao động phân bố giữa các ngành kinh tế mất cân đối
II.1.2.2 Về chất lượng lao động:
- Thứ nhất là về chất lượng lao động quản lý:
Trong một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, mọi việc đều được thựchiện theo kế hoạch đã được nhà nước giao đều được thực hiện theo kế hoạch đã được nhà nước giao từ mặt hàng sản xuất, ngân sách, biên chế và lương, lực (*)(*) nt tr.48
Trang 5lượng lao động, vật tư, các điều kiện sản xuất cho đến việc tiêu thụ sản phẩm.Trong một cơ chế như vậy, người quản lý trở nên thụ động, máy móc, thiếu sáng tạo Việc quản lý chỉ xoay quanh mọi biện pháp để thực hiện kế hoạch nhà nước giao.
Mặt khác đội ngũ cán bộ quản lý của nước ta trước thời kỳ đổi mới chưa được qua các trường lớp đào tạo về quản lý mà từ đội ngũ cán bộ chủ yếu đảm đương nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc sang đội ngũ cán bộ chủ yếu làmnhiệm vụ quản lý
- Thứ hai là chất lượng của lao động kỹ thuật, công nhân lành nghề không
những không được nâng cao mà còn bị mai một đi do cơ chế quản lý tập trung sản phẩm làm ra theo chỉ tiêu dù tốt hay xấu đều được phân công hết Từ đó ta thấy kỹ năng của công nhân không được phát huy, tay nghề bị mai một đi và công nhân không có tính sáng tạo Mặt khác chế độ đào tạo công nhân theo chế
độ tuyển dụng suốt đời sẽ không tạo ra động lực để công nhân tự nâng cao trình
độ tay nghề của mình Công tác tuyển dụng và công tác đào tạo không theo đúng yêu cầu Chỉ cần học qua các trường là được nhận vào công tác không kể
đó là nghề đào tạo là gì Chính vì vậy chất lượng lao động không cao (do làm không phù hợp với ngành nghề đào tạo)
Thêm vào đó là thông tin về mọi mặt phục vụ sản xuất kinh doanh quản lý kinh tế không được mở rộng, không đáp ứng được nhu cầu mà chịu sự bưng bít của kế hoạch hóa tập trung Do vậy không có sự học hỏi từ các nước đi trước Đấy chính là sự thể hiện mặt hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung
II.1.2.3 Về chính sách bồi dưỡng đào tạo các loại hình lao động:
Trước đổi mới, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến 90% dân số
mù chữ sau khi dành được chính quyền, Đảng và Bác Hồ đã ra quốc sách là diệtgiặc đói, giặc dốt Các lớp bình dân học vụ và các lớp bồi dưỡng văn hóa lần lượt được mở và phổ cập trong dân, nâng cao trình độ dân trí nói chung, trình
độ cán bộ công nhân lao động nói riêng Hình thức này được duy trì khá lâu cho
Trang 6mãi tới những năm 1970 Đặc biệt trong những năm 50 hình thành trường bổ túc công nông, tuyển chọn những người đã có kinh nghiệm chiến đấu, bồi
dưỡng cấp tốc trình độ văn hóa cần thiết cử đi đào tạo hoặc đào tạo lại nghề phục vụ cho nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước Hầu hết cán bộ, công nhân kỹ thuật khoảng tuổi 50,60 hiện nay là những lớp người được đào tạo lại, bồi dưỡng trong thời kỳ đó
Năm 1958-1975, đây là thời kỳ bao cấp các chính sách được áp dụng chủ yếu cho khu vực nhà nước, khu vực quốc doanh Tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng các chính sách này là tập trung phục vụ cho việc xây dựng đội ngũ công nhân lao động cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam
Năm 1964 Thủ tướng chính phủ có thông tư số 2/TTg qui định về chế độ
bổ túc tại chức ngoài giờ là chính, theo nguyên tắc làm ngành nào học ngành ấy kém lý thuyết thì bổ túc thêm lý thuyết, yếu tay nghề thì bổ túc tay nghề Đến
1973 Bộ Lao động cũng ra thông tư số 1844 LĐ-TL “hướng dẫn công tác bổ túc
kỹ thuật nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân”
Đối với việc bồi dưỡng cán bộ quản lý, Ban Bí thư trung ương Đảng đã quy định các trường Đảng cao cấp cần tăng nhanh thành phần công nhân để đào tạo thành cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý Các lớp đào tạo cán bộ lãnh đạo cán bộ quản lý, chiêu sinh các trường Đảng cấp tỉnh bảo đảm từ 5-10%, trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc từ 25-30% thành phần công nhân cán bộ quản lý các ngành như điện, than, cơ khí, luyện kim, hóa chất, xây dựng, bảo dảm tỷ lệ 40-50% cán bộ thành phần công nhân Những Bộ, Tổng cục tập trung công nhân cần có kế hoạch đào tạo và đề bạt, đồng thời cung cấp cho trung ương một
số cán bộ thành phần công nhân
Tuy nhiên chính sách bồi dưỡng đào tạo lao động vẫn còn những tồn tại:
Trang 7- Vấn đề bồi dưỡng đào tạo lại chưa thực sự được coi là một chính sách quốc gia quan trọng, không có một kế hoạch tổng thể, chưa có những chính sáchmang ý nghĩa chiến lược mà còn manh mún thiếu đồng bộ.
- Việc thực hiện ở các ngành, các địa phương, các cơ quan xí nghiệp còn tùy tiện, do đó chất lượng chưa cao
- Mặt khác chưa có những chính sách chế độ phù hợp để khuyến khích người dậy, người học do đó việc bồi dưỡng đào tạo lại kém hiệu quả
II.1.2.4 Về việc tuyển dụng lao động qua đào tạo
Chính sách tuyển dụng dựa trên quan điểm là “sử dụng hết nguồn lao động
đã qua đào tạo” vào khu vực nhà nước, đã đào tạo là được phân công công tác, càng làm cho số lượng lao động kỹ thuật được tuyển dụng vào làm việc tại các
cơ quan xí nghiệp nhà nước, nhà nước tăng lên nhanh chóng
Bảng 3: Số lượng lao động có đào tạo tuyển dụng vào khu vực nhà nước từ1975-1985
(Nguồn: Niên giám thống kê 1975, 1985 của TCTK)
Thực hiện chính sách tuyển dụng theo nghị định 24/CP ở giai đoạn trước
1986, mặc dù đã đạt được yêu cầu về mặt số lượng, nghĩa là đã tuyển dụng được một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo cung cấp cho các ngành nhưng nhìn chung việc phân bổ sử dụng ở giai đoạn này chưa đều, mất cân đối giữa các ngành, các cấp giữa địa phương và thành phố lớn và vùng xa xôi hẻo lánh
Trang 8Bảng 4: Phân bố không đều lao động khoa học kỹ thuật giữa các ngành (số
(Nguồn: từ niên giám thống kê 1982 và báo cáo của Bộ xây dựng)
Qua số liệu trên cho thấy mặc dù tỷ lệ giữa số lượng cán bộ khoa học kỹ thuật nghiệp vụ có trình độ cao nhất là cán bộ nghiên cứu khoa học trên một vạndân nước ta so với các nước phát triển là quá thấp nhưng về cơ cấu phân bố thì bất hợp lý Tỷ lệ loại cán bộ này ở khu vực nhà nước còn quá cao so với ngành,lĩnh vực khác Mặt khác theo kết quả điều tra của chúng tôi thì tỷ lệ lao động khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề sử dụng không phù hợp với đào tạo
là 14,2% đây là tỷ lệ khá lớn, nói lên việc sử dụng loại lao động này còn tùy tiện, làm cho cán bộ công nhân viên không phát huy được năng lực, trình độ kinh nghiệm công tác
II.1.3.Thực trạng lao động sau đổi mới (sau 1986) đến nay.
II.1.3.1 Những điều kiện mới đòi hỏi người lao động
Trang 9Thứ nhất là khi bước sang cơ chế thị trường , nó đã tác động mạnh mẽ đến
mọi người lao động Sức lao động trở thành hàng hóa đã dẫn đến việc chấp nhận
sự cạnh tranh trong thị trường lao động, và bởi vậy người lao động muốn có việc làm phải không ngừng học tập nâng cao trình độ để khỏi tụt hậu,đấu tranh
để luôn là “món hàng “ có chất lượng hàng đầu Sự cạnh tranh gay gắt trong mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nhiều thành phần kinh
tế trong cơ chế thị trường đòi hỏi lao động phải hết sức năng động và phải không ngừng hoàn thiện kiến thức và kỹ năng lao động của mình để đáp ứng được với nhu cầu của thị trường đang không ngừng biến đổi Trong cơ chế thị trường không chỉ cần có kiến thức và kỹ năng lao động nghề nghiệp cón phải có
tư duy kinh tế phải biết “cách làm ăn” và phải biết tự tìm lấy công ăn việc làm
Cơ chế thị trường đòi hỏi người quản lý tìm hiểu thị trường tìm đầu vào, tìm đầu ra, tìm kiếm và bố trí các nguồn lực để hoạt động, phải luôn thay đổi mẫu mã, mặt hàng cho phù hợp với nhu cầu thị trường Bởi vậy, đòi hỏi nhà quản lý phải luôn năng động sáng tạo
Chủ trương “mở cửa” của nhà nước, đây là điều thuận lợi cung cấp thông tin phục vụ sản xuất kinh doanh, và có thêm nhiều máy móc thiết bị hiện đại thông qua các hình thức chuyển giao công nghệ, Trong khi đó đội ngũ lao động hiện nay của chúng ta hầu như chưa đủ trình độ và phong cách để giao lưu, làm
ăn với các công ty của các nước cũng như để xây dựng một nền sản xuất, dịch
vụ hiện đại của nhà nước trong cơ chế thị trường Do vậy, việc bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ lao động hiện có đang là một vấn đề cấp bách và nóng hổi hiện nay.Đòi hỏi của sản xuất kinh doanh trong những năm tới (đến năm 2000 và 2010) đối với đội ngũ lao động ở các doanh nghiệp nước ta là: đạt tỷ lệ cân đối hơn về số lượng giữa các loại lao động kỹ thuật và nâng cao chất lượng để có thể vận hành sản xuất kinh doanh trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế thế giới Như vậy yêu cầu đối với đội ngũ công nhân kỹ thuật có hiểu biết kỹ thuật,
và kỹ năng cao, có sức khỏe để vận hành được các máy móc và phương tiện tiên
Trang 10tiến có đạo đức lao động tốt Còn yêu cầu đối với đội ngũ lao động quản lý là:
có kiến thức chuyên môn, kỹ thuật và kiến thức quản lý hiện đại, có ngoại ngữ
đủ để giao tiếp bình thường trong công việc, thành thạo các kỹ năng quản lý hiện đại, có đạo đức lao động và đạo đức kinh doanh tốt
II.1.3.2 Thực trạng nguồn nhân lực.
Hiện nay giữa thực trạng nguồn nhân lực so với yêu cầu đặt ra ở nước ta cồn một khoảng cách quá xa0, có thể nêu thực trạng nguồn lao động trong các doanh nghiệp hiện nay như sau:
Một là, đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề còn rất thiếu so
với nhu cầu ( hiện nay chỉ có 13% so với tổng số lao động) và đang tồn tại mất cân đối nghiêm trọng về tỷ lệ giữa các loại lao động kỹ thuật (tỷ lệ thực tế là một kỹ sư/1,6 trung cấp và 3 công nhân, trong đó ở các nước phát triển, tỷ lệ này là một kỹ sư / 3 trung cấp và 10 công nhân Việc hình thành các khu công nghiệp khu chế xuất ngày càng tăng thêm tình trạng đó
Về nguồn lao động theo kết quả điều tra của Bộ lao động - thương binh và
xã hội năm 1996, số người trong độ tuổi lao động và là nhân khẩu thường trú từ 15-60 tuổi có 48,4 triệu người trong đó nhóm tuổi từ 15-24 có 13,7 triệu và nhóm từ 25-34 có 11.6 triệu Xét về lực lượng lao động về chuyên môn kỹ thuật và công nghệ trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân, thì trong tổng số 35,8 triệu ngươì ( trong độ tuổi lao động) số có trình độ trên đại học là 11.561 người , cao đẳng và đại học 816.098 người công nhân có trình độ sơ cấp
636,246 người và số không có trình độ chuyên ôn kỹ thuật , là lao động giản đơn gồm 31.452198 người Xét về phân bố số lao động này cho thấy , ở khu vực
đô thị, trên đại học có 9176 người , ở nông thôn chỉ có 2.393 người ( đô thị gấp
4 lần so với nông thôn) Số cao học và đại học ở đô thị có 560.097 người còn ở nông thôn chỉ có 256.008 người ( đô thị gấp 2 lần nông thôn) Số công nhân kỹ thuật có bằng cấp ở đô thị là 444.692 người ( số này chênh lệch không lớn giữa
2 khu vực ) Trong khi đó số người có trình độ chuyên môn sơ cấp ở đô thị chỉ
Trang 11có 183.418, còn ở nông thôn lại tới 452.831 người Tổng số lao động giản đơn
ở nông thôn có tới 26.771.862 người , trong khi ở đô thị chỉ là 4680333 người ( nông thôn gần gấp 6 lần đô thị)
Từ thực tế trên ta có nhận xét sau:
- So với trước đây , số lao động kỹ thuật có tay nghề chuyên môn cao trongphạm vi cả nước đã tăng nhiều về số lượng và chất lượng , đặc biệt là số công nhân kỹ thuật trong nhóm tuổi trẻ từ 20-34 tuổi
- Có sự phân bố không đều hoặc mất cân đối giữa nông thôn và đô thị
- Số có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học tuy đã tăng lên nhiều về
số lượng nhưng thực tế chưa đáp ứng đủ yêu cầu cho CNH,HĐH
- Riêng số công nhân kỹ thuật hoặc số cán bộ kỹ thuật trung cấp đã tăng lên về số lượng nhưng cũng còn qúa ít so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt có sự mất cân đối giữa cán bộ đại học, cán bộ trung học dvà công nhân kỹ thuật
Hai là, trình độ tay nghề của công nhân nói chung còn thấp, chưa đáp ứng
được yêu cầu vận hành máy móc kỹ thuật hiện đại để có thể cho ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới ( số công nhân bậc 1 bậc 2 chiếm 51% so với tổng số công nhân , số công nhân bậc cao cũng chưa có tay nghề thực tế tương xứng với cấp bậc)
Ba là,thái độ chấp hành kỷ luật lao động của công nhân còn kém, công
nhân chưa quen với tác phong công nghiệp và đặc biệt, ở nhiều doanh nghiệp công nhân có tâm lý không muốn nâng bậc( vì nếu nâng bậc phải làm công việc bậc cao hơn sẽ không đảm bảo năng suất, thu nhập sẽ bị giảm)
Bốn là, đội ngũ lao động quản lý tuy không thấp về trình độ sản xuất
nhưng năng lực thực tế cũng chưa tương xứng, chưa đáp ứng được nhu cầu của công việc hiện tại; chưa được trang bị kiến thức quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường; chưa được đào tạo để có được những
kỹ năng quản lý hiện đại; tác phong làm việc về cơ bản là chưa thay đổi
Trang 12Năm là, đội ngũ quản lý cấp cao của doanh nghiệp ( giám đốc) chưa thực
sự hướng tới đổi mới, một phần rất lớn ( 49%) còn chưa qua đào tạo về nghiệp
vụ quản lý
Trong khi đó, công tác đào tạo và phát triển nhân lực ở các doanh nghiệp trong những năm qua lại rất ít được quan tâm chỉ có một số ít doanh nghiệp nhận thức được vai trò của đào tạo và phát triển, còn hầu hết các doanh nghiệp
bỏ lơi công tác này Tình hình phổ biến ở nhiều nơi là cắt giảm chi phí đào tạo, hình thức đào tạo nghèo nàn, công tác thì nâng bậc ít được thực hiện Việc cử người đi học ở các trường lớp chính quy còn nặng nề hình thức, bằng cấp còn chưa thực sự có hiệu quả về sử dụng cán bộ chưa tạo ra được động lực về vật chất để thúc đẩy người lao động tham gia đào tạo
II.1.3.3 Công tác đào tạo giáo dục
Công tác đào tạo giáo dục ở các cơ sở giáo dục đào tạo cũng còn nhiều tồn tại Trước hết là sự mất cân đối đào tạo (nguyên nhân của sự mất cân đối trong
tỷ lệ giữa các loại lao động kỹ thuật hiện nay) Trong những năm qua, số trườngđại học (cả công lập và dân lập) đã gia tăng rất nhiều, trong khi các trường đào tạo và dạy nghề càng ít dần: sau 10 năm trong cả nước số trường dạy nghề đã giảm từ 360 xuống còn 174 trường (chủ yếu là giao thông vận tải, in, cơ khí xâydựng hóa chất 244 trường trung cấp chuyên nghiệp và hơn 500 trung tâm dạy nghề ( may mặc , sửa chữa xe máy, ti vi, vi tính , nghiệp vụ văn phòng )
Với hệ thống các trường và cơ sở dạy nghề như trên, ở đây chưa đề cập tới việc phải tăng thêm số trường lớp hoặc cơ sở dạy nghề mà cần phải xem xét lại việc dạy nghề đã gắn với thực trạng đòi hỏi nền kinh tế hay chưa Trước hết ở khu vực đô thị và khu công nghiệp: có thể thấy rất rõ là khả năng đáp ứng của lực lượng lao động trẻ cho nhu cầu của các khu công nghiệp tập trung còn rất hạn chế Ví dụ như khu công nghiệp nhà bè, Thủ đức hoặc Tân thuận (thành phố Hồ chí Minh) , số lao động địa phương mới chỉ đáp ứng được 2/3 , só còn lại phải tuyển nơi khác Hoặc đa số lao động kỹ thuật đang làm việc ở khu công
Trang 13nghiệp Nội bài, Sài Đồng ( Hà nội) là từ nơi khác đến, trong khi lao động địa phương lại dư thừa do không cótrình độ văn hóa ( tối thiểu là học hết cấp III), chưa được đào tạo nghề và công nghệ tiên tiến để có thể đáp ứng được về lao động kỹ thuật
Mặt khác, cũng cần phải có chính sách cụ thể mang tính khuyến khích đối với số lao động trẻ có trình độ tay nghề cao trở về quê nhà hoặc các vùng nông thôn tham gia lao động sản xuất trong các ngành kinh tế địa phương, góp phần giảm bớt sự tập trung ở các đô thị lớn hiện nay Thực tế có hàng chục ngàn sinh viên sau khi ra trường không về quê làm việc, như ở Tiền giang từ 1994-1997
có tới 6.070 sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng năm 1995 chỉ có 35 người , năm
1996 chỉ có 12 người về tỉnh công tác số còn lại ở lại thành phố Hồ chí Minh tìm việc làm Tương tự, ở Bến tre có trên 2.784 sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng chỉ có vài chục người trở về quê, hoặc ở Bình định từ 1994-1996 cũng chỉ có vài chục về quê làm việc trong tổng số hơn 6000 tốt nghiệp đại học ở Hànội nơi tập trung nhiều trường đại học, hàng năm cũng có tới hàng chục nghìn sinh viên tốt nghiệp ở lại tìm việc
Một số vấn đề khác nữa là việc đào tạo nghề ở nước ta hiện nay còn manh mún tản mạn, nhưng chưa theo một quy trình mang tính chiến lược lâu dài trong việc tạo lập một đội ngũ lao động kỹ thuật và công nghệ để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế Mặc dù việc dạy nghề ở các Bộ, ngành vẫn đang tiến hành nhưng khi ra trường vẫn có sự mất cân đối giữa nhu cầu và việc làm Về khía cạnh tự tạo việc làm một số cơ sở dạy nghề còn đáp ứng được , nhưng khi nhu cầu đòi hỏi có kỹ thuật cao hơn phù hợp với dây chuyền công nghệ hiện đại thì lại hoàn tòan không thỏa mãn hoặc phải đào tạo lại Chính việcđào tạo như vậy vừa gây tốn kém cho người học, vừa tốn khoản thời gian của việc dạy nghề mà hiệu quả chưa cao và không thiết thực
ở khu vực nông thôn: Những đòi hỏi của CNH-HĐH nông thôn cũng đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với đào tạo lực lượng công nhân kỹ
Trang 14thuật và công nghệ Hiện nay công nghệ và tiểu thủ công nghiệp nông thôn đang
có xu hướng phát triển, tuy nhiên quy mô và thiết bị sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm còn nhiều mặt hạn chế , lựcu lượng lao đông , kỹ thuật và công nghệ nông thôn rất cần đào tạo lại vì tổng số 31,8 triệu lao động ở khu vực này hiện có tới 29,4 triệu chưa qua đào tạo Đa số thợ trong các cơ sở sản xuất là do kèm cặp, tự học và tích lũy kinh nghiệm Nếu đặt vấn đề là tới đây đổi mới côngnghệ quy mô sản xuất hoặc cải tiến các quy trình công nghệ quy mô sản xuất hoặc cải tiến các quy trình công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hơn hiện đại hơn thì
số lao động cũ và mới sẽ đào tạo ở đâu học nghề như thế nào và chương trình dạy nghề cho lao động trẻ nông thôn ra sao? Đây có thể xem là một vấn đề bức xúc trong chương trình dạy nghề cho thanh niên nông thôn trong thời gian tới
mà không thể không đề cập Trong cơ chế thị trường, việc đào tạo lực lượng công nhân kỹ thuật nếu chỉ tập trung vào khu vực kinh tế nhà nước như trước đây thì không thể bảo đảm được do hạn chế kinh phí Từ thực tế đào tạo cán bộ công nhân kỹ thuật trẻ hiện nay, ta thấy nổi lên một số tình hình sau đây:
Một là, hầu hết số thanh niên có khả năng ( cả về kinh tế lẫn học lực ) đều
muốn vào đại học và tiếp tục học cao hơn Tâm lý chung là không muốn học trung học kỹ thuật Hậu quả như đã nói là nhiều nơi, nhiều lúc cán bộ có trình
độ đại học lại nhiều hơn cán bộ trung cấp và công nhân kỹ thuật bậc cao
Hai là, sự phân biệt giữa hệ thống đào tạo trung cấp và công nhân kỹ thuật
còn chưa rõ ràng Sự không phân biệt đó, hiện ở mức lương gần như tương đồng(thậm chí cán bộ kỹ thuật trung cấp còn thấp hơn công nhân) , ngoài ra công việc đôi khi lại rất giống nhau (trừ một số ngành y dược ) từ đó dẫn đến tâm lý đối với học sinh trẻ là học công nhân kỹ thuật bậc cao hơn là đi trung cấp, vì thời gian đào tạo gần như nhau, công việc đôi khi lại tốt hơn cho bản thân sau khi ra trường và hành nghề
Ba là, hệ thống quản lý nâng bậc kỹ thuật và đào tạo lại công nhân còn
chậm đổi mới và không linh hoạt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường Vì sự
Trang 15đòi hỏi ở người công nhân hiện đại không chỉ ở tay nghề mà còn ở thể lưc, vì điều đò có liên quan đến chất lượng sản phẩm và năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm
Bốn là, trong đội ngũ công nhân kỹ thuật và công nghệ của ta hiệnu nay
còn có nhiều người mù chữ và chưa có bằng cấp Thực tế , ở tất cả các nước tiêntiến, mọi công việc dù đơn giản nhất vẫn cần qua đào tạo, chỉ có như vậy mới nâng cao được chất lượng sản phẩm, đồng thời làm tăng tính năng động của đội ngũ lao động, giúp cho họ có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp
Năm là, đội ngũ công nhân kỹ thuật và công nghệ của ta, tính đơn nghề
còn phổ biến trong khi thực tế muốn có việc làm thường xuyên cần phải giỏi một nghề và biết nhiều nghề Điều này có được khắc phục hay không hoàn toàn phù thuộc vào trình độ văn hóa và kỹ năng đào tạo đội ngũ lao động này như thếnào trong thời gian tới
Điều thách thức lớn hơn còn là điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo, Hiệntrạng cả hệ thống dạy nghề, cũng như thương trường , trang bị cơ sở vật chất kỹ tyhuật, đội ngũ giáo viên, giáo trình giáo án dều rất thiếu thôn lạc hậu Công tác đào tạo còn nhiều vấn đề :
Một là, do tâm lý “sính” đại học của dân chúng (bắt nguồn từ tư tưởng
lánh nặng tìm nhẹ một tư tưởng phong kiến tham căn cố để ở nước ta ) do các
cơ sở dạy nghề còn quá ít và chất lượng kém trên nhu cầu đại học rất lớn Đồng thời do thiếu sự điều tiết vĩ mô về cơ cấu và quy mô các ngành đào tạo nên có tình trạng đào tạo ồ ạt, trùng lắp giữa các trường, quá tải về giảng đường, ký túc
xá và giáo viên cũng phải làm việc quá tải
Hai là, việc đổi ới nội dung giảng dạy chưa được đồng đều giữa các
trường ở khối kinh tế việc này đã được khá tốt , hầu hết các môn học đã được đổi mới, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường Song ở khối kỹ thuật, quá trình đổi mới chậm có những chuyên ngành giảng dạy những giáo trình quá lạc hậu
Trang 16Ba là, cơ sở vật chất ở các trường có được bổ sung thêm, góp phần cải
thiện điều kiện sống và làm việc của giáo viên và sinh viên nhưng các phương tiện giảng dạy thì hầu như chưa thay đổi
Bốn là, công tác phục vụ cho giảng dạy và học tập cũng chưa được đổi
mới - đặc biệt là hệ thống thư viện - nên chưa tạo được điều kiện để đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo trong khi đội ngũ giáo viên được quan tâm đào tạo và đổi mới kiến thức thì đội ngũ phục vụ giảng dạy còn được ít quan tâm
Năm là, nói chung sinh viên ra trường đều có kiến thức lý thuyết khá tốt
nhưng yếu về kỹ năng và rất thiếu thực tế Nguyên nhân của tình hình này có hai phía : phía nhà trường thì hầu như chưa có kinh phí cho việc thực tập hoặc kinh phí không đáng là bao và cần giảm quỹ thời gian dành cho thực tập , phía doanh nghiệp thì chưa nhận thức được trách nhiệm chung đối với quá trình đào tạo Tất cả những điều trên làm giảm sút chất lượng sinh viên khi ra trường, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp
II.1.3.4 Vấn đề sử dụng đội ngũ lao động sau đào tạo và bồi dưỡng
Đây chính là biểu hiện hiệu quả của đào tạo bồi dưỡng cán bộ Với cấp độ khác nhau, sử dụng số lao động này có khác nhau.Việc sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật được biểu hiện thông qua việc làm và không có việc làm của họ hoặc việc sử dụng không đúng ngành nghề ( bảng 5)
Bảng 5: Tình trạng việc làm sau khi tốt nghiệp