1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

VẢY PHẤN ĐỎ NANG LÔNG (Pityriasis rubra pilaris - PRP) doc

9 862 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 318,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một bệnh rối loạn sẩn vảy mãn tính chưa rõ nguyên nhân, đặc trưng bởi mảng vảy màu hung đỏ, dày sừng lòng bàn tay, sẩn... Griffiths chia PRP thành 5 typ: typ kinh điển ở người lớn

Trang 1

VẢY PHẤN ĐỎ NANG LÔNG (Pityriasis rubra pilaris - PRP)

Đại cương

Vảy phấn đỏ nang lông được Tarral mô tả lần đầu tiên vào năm 1828, được đặt tên bởi Besnier năm 1889 Đây là một bệnh rối loạn sẩn vảy mãn tính chưa rõ nguyên nhân, đặc trưng bởi mảng vảy màu hung đỏ, dày sừng lòng bàn tay, sẩn

Trang 2

sừng quanh nang lông Bệnh có thể tiến triển thành đỏ da toàn thân với những đảo

da lành

Griffiths chia PRP thành 5 typ: typ kinh điển ở người lớn (classic adult type), typ không điển hình ở người lớn (atypical adult type), typ kinh điển ở trẻ em (classic juvenile type), typ vòng tròn ở trẻ em (circumscribed juvenile type) và typ không điển hình ở trẻ em (atypical juvenile type) Gần đây, typ liên quan với HIV được thêm vào bảng phân loại này

Một vài thông báo còn mô tả PRP liên quan bệnh ác tính

Nguyên nhân: chưa rõ Một số có tính chất gia đình, một số có liên quan

đến nhiễm liên cầu

Dịch tễ học:

Tỷ lệ mắc bệnh: 1/3.500-5.000 bệnh nhân da liễu

Chủng tộc: bệnh ảnh hưởng đến bất kỳ dân tộc nào

Giới: tỷ lệ nam/nữ mắc bệnh ngang nhau

Tuổi:

+ Dạng PRP gia đình điển hình biểu hiện sớm và do gen trội

+ Dạng mắc phải: có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng nhiều ở hai lứa tuổi 0-10 và 50-59 tuổi

Triệu chứng lâm sàng

Trang 3

Dạng PRP gia đình khởi phát từ từ, dạng mắc phải khởi phát cấp tính Da: PRP đặc trưng bởi những mảng bờ rõ vảy màu hung đỏ, có khi lan toàn thân, thường có những đảo da lành Dày sừng quanh nang lông thường thấy ở vùng mu ngón gần, cổ tay, khuỷu tay Dày sừng lòng bàn tay gặp ở hầu hết các bệnh nhân Giai đoạn đầu của bệnh có thể có ngứa

Móng: bờ tự do móng màu vàng nâu, dày sừng dưới móng, dày giường móng, móng có thể bị lỗ rỗ

Niêm mạc: có thể có những mảng trắng ở niêm mạc má, trắng, trợt

Mắt: có thể có lộn mi

Các dạng lâm sàng:

Type I: type kinh điển ở người lớn (classic adult type) Dạng thường gặp

nhất của PRP, chiếm khoảng 50% các trường hợp PRP Khởi phát cấp tính, lâm sàng điển hình bao gồm đỏ da với những đảo da lành, dày sừng lòng bàn tay bàn chân, dày sừng nang lông Type này tiên lượng tốt nhất, khoảng 80% bệnh nhân thuyên giảm bệnh trong vòng 3 năm

Type II: type không điển hình ở người lớn (atypical adult type) Chiếm

khoảng 5% các trường hợp Đặc trưng bởi tổn thương dạng vảy cá, có thể chàm hoá, rụng tóc, kéo dài thường từ 20 năm trở lên

Trang 4

Type III: type kinh điển ở trẻ em (classic juvenile type) Chiếm khoản 10%

các trường hợp Rất giống type I nhưng khởi phát trong 2 năm đầu tiên của cuộc đời Bệnh thuyên giảm sớm hơn so với type I, trung bình là 1 năm

Type IV: type vòng tròn ở trẻ em (circumscribed juvenile type) Chiếm

khoảng 25% các trường hợp Xuất hiện trước tuổi dạy thì Đặc trưng bởi những vùng da giới hạn rõ ở khuỷu tay và đầu gối với sự dày sừng nang lông và đỏ Tiến triển không rõ

Type V: type không điển hình ở trẻ em (atypical juvenile type) Chiếm

khoảng 5% các trường hợp Hầu hết những ca PRP gia đình thuộc type này Bệnh khởi phát sớm và diễn biến mạn tính Đặc trưng bởi dày sừng nang lông, dày da ở lòng bàn tay, bàn chân hiếm khi đỏ da

Type VI: PRP liên quan với HIV Bệnh không đáp ứng với những điều trị

thông thường nhưng đáp ứng với liệu pháp kháng Retrovirus

Trang 7

PRP Type IV

Cận lâm sàng

Trang 8

Không có xét nghiệm cận lâm sàng nào có thể khẳng định chẩn đoán PRP Chẩn đoán dựa vào sự tương quan giữa lâm sàng và mô bệnh học

Mô bệnh học: không có đặc trưng về mặt mô bệnh học nhưng bệnh giúp loại trừ những bệnh sẩn vảy và đỏ da khác

Kiểm tra sự bất giải điện giải đồ, giảm albumin, nhiễm khuẩn thứ phát

Điều trị

Tại chỗ

Corticoid

Calcipotriol: đây là thuốc bôi điều trị bệnh vảy nến Tuy nhiên đã có thông báo về sự thành công trong điều trị PRP bằng Calcipotriol

Kem làm ẩm da làm giảm nứt, khô

PUVA

Toàn thân:

Vitamin A acid:

+ Acitretin (Soriatane) 25-50mg uống hàng ngày trong bữa ăn hoặc ngay sau bữa ăn, tránh thai ít nhất 3 năm sau khi dừng thuốc

+ Isotretinoin (Accutane, Acnotin): liều 0,5-2 mg/kg/ngày uống chia 2 lần Azathioprine (Imuran)

Methotrexate: 10-25 mg/tuần uống hoặc tiêm bắp

Trang 9

Cyclosporine (Neoral, Sandimmune)

Infliximab (Remicade)

PS: hơi lạ là quyển “Color Atlas and Synopsis of Clinical Dermatology” không có bài nào nói về PRP

Ngày đăng: 07/07/2014, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w