Tình cờ khi thấy đưa đáy chai qua nền vải thấy các sợi vải được phóng to lên và ông say mê tự mài các thấu kính và lắp nên những chiếc kính hiển vi đầu tiên.. Người quan sát phải dí mắt
Trang 1Lịch sử kính hiển vi
Vietsciences- Nguyễn Lân Dũng, Chung Chí Thành
Trang 2
Antoni van Leeuwenhoek
Trước dây khi làm việc tại Bảo tàng giống chuẩn Nấm men CBS ở Delft (Hà Lan) tôi có may mắn nhìn thấy chiếc kính hiển vi đầu tiên của Antoni van
Leeuwenhoek (1632-1723) Từ thuở thiếu thời ông làm công cho
Trang 3một chủ bán vải Tình cờ khi thấy đưa đáy chai qua nền vải thấy các sợi vải được phóng to lên và ông
say mê tự mài các thấu kính và lắp nên những chiếc kính hiển vi đầu tiên Ông đã lắp tới 400 chiếc kính hiển vi đầu tiên Một trong số này hiện được đặt trong một hang đá
được rọi sáng Nó chỉ nhỏ hơn nửa bàn tay và gồm một giá kim loại có tay cầm, ở giữa có lắp một thấu
kính nhỏ, bên cạnh có một cái cần
để đựng mẫu vật ngang tầm thấu
kính và được điều chỉnh xa gần nhờ một đinh ôc Người quan sát phải
dí mắt vào thấu kính và vật quan
sát được chiếu sáng bằng một ngọn nến Các kính hiển vi của ông có độ
Trang 4phóng đại khoảng 275 lần và có cái phóng đại được đến 500 lần Ông quan sát bựa răng, nước cống, máu
và mọi thứ có thể kiếm được Ông
là người đầu tiên nhìn thấy các vi sinh vật (vi khuẩn, động vật nguyên sinh) sợi cơ, tinh trùng và hồng
cầu… Ông gọi vi sinh vật là “các động vật nhỏ bé” (animalcules) và chứng minh là số lượng của chúng trong miệng đông đúc hơn cả dân
số Hà Lan (!) Thông qua một nhà khoa học trong suốt gần 50 năm
ông đã gửi 560 bức thư miêu tả các thứ ông nhìn thấy qua kính hiển vi đến Học hội Hoàng gia Anh và
năm 1680, Leeuwenhoek được bầu làm hội viên Học hội Hoàng gia
Trang 5Anh mặc dầu ông không được học hành gì và không biết ngoại ngữ
nào Ông xứng đáng được coi là
người khám phá ra “thế giới không nhìn thấy.”Cuộc sống riêng của ông rất đau khổ, Ông đã bỏ rơi 2 bà vợ,
có đến 7 người con, nhưng khi nằm xuống ở tuổi 90, chỉ còn 1 người
con duy nhất còn sống
Trang 6Robert Hook
Đầu năm nay khi làm việc tại Viện NITE (Nhật Bản) tôi lại được thấy chiếc kính hiển vi mô tả giống hệt chiếc kính của nhà bác học Anh Robert Hook(1635-1703), nhà khoa học Anh đã sử dụng
Trang 7nguồn sáng khi soi kính hiển vi
Ông mới chính là người được mệnh danh là “cha đẻ của kính hiển vi
quang học” Ông đã quan sát cấu
tạo của phần chất bần ở các cây
thủy sinh và phát hiên cấu tạo tế
bào Ông gọi là ”cell” và từ này vẫn được dùng để chỉ “tế bào” đến ngày nay Năm 1665 ông cho xuất bản cuốn “Hình ảnh hiển vi” giới thiệu rất nhiều đối tượng mà mắt thường không thấy rõ được
Trang 8
Tế bào qua quan sát của Robert
Hook
Đến những năm 30 của thế kỷ19, kính hiển vi đã được cải tiến gồm
có vật kính và thị kính, gắn ở 2 đầu ống kính, từ đó mới giải quyết triệt
để được hiện tượng sai lệch màu
sắc
Giovani Battista Amici
(1786-1863) đã phát minh kính hiển vi
phản xạ bằng cách lắp thêm một
thấu kính lõm 3 inch giữa vật kính
và thị kính, triệt tiêu được sai lệch màu sắc Ông đã quan sát được sự sinh trưởng của ống phấn hoa, tiếp cận dần sự phát hiện thụ tinh của
Trang 9thực vật vào những năm 80 TK 19
David Brewster Năm 1812, huân tước David
Brewster(1781-1868) ngâm vật
kính và mẫu vật trong một chất
lỏng có độ khúc xạ gần vời thủy
tinh, có thể triệt tiêu sự sai lệch và tán sắc khi ánh sáng đi qua các môi chất có độ khúc xạ khác nhau Ông cũng là người đâu tiên sử dụng
Trang 10kính lọc màu để thu được ánh sáng đơn sắc Chất lỏng sử dụng chủ yếu
là glycerine
Hai nhà khoa học Mỹ Ernst Abbe (1840-1905)và Carl
Zeiss(1816-1888) đã cộng tác với nhau tìm ra chất dầu ngâm kính tốt nhất qua thử
300 chất khác nhau, đó là dầu
Tuyết tùng (huile de cèdre) hiện
đang được dùng khi sử dụng vật
kính x100 Hai ông còn thay thế
thủy tinh truyền thống hồi đó bằng thủy tinh borate và thủy tinh
phosphate, gần với kính hiển vi
quang học hiện đại Năm 1886,
Abbe phát minh ra kính tụ quang
rọi sáng dưới vật kính
Trang 11Ernst Abbe
Frederik Zernike(1888-1966)
đã phát minh ra kính hiển vi tương phản pha, nhờ đó, có thể quan sát những vật thể sống trong suốt không màu, như xoắn thể gây bệnh giang mai mà không cần cố
định, nhuộm màu Ông đã nhận giải thưởng Nobel năm 1953 do những
Trang 12đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực
Sinh học
Từ những năm 80 của thế kỷ19,
kính hiển vi quang học ngày càng hoàn thiên và định hình, nhưng do hạn chế bởi nhược điểm bẩm sinh
là không quan sát được những vật thể nhỏ hơn một nửa bước sóng
ánh sáng , nên cần phải phát minh
ra kính hiển vi tử ngoại Nhờ tia tử ngoại có bước sóng chỉ bằng phân nửa ánh sáng thường, nên độ phóng đại được nâng cao gấp đôi Do thủy tinh có tính chất lọc tia tử ngoại,
nên kính hiển vi tia tử ngoại phải
phải dùng thấu kính thạch anh thay cho thấu kính thường Vì mắt người cũng không thấy được tia tử ngoại,
Trang 13nên lúc đầu người ta phải chụp trên phim cảm quang, về sau được quan sát bằng camera truyền hình Phiến lính (lame) và lá kính (lamelle)
cũng phải làm bằng thạch anh nóng chảy Mặc dù thấu kính thạch anh
có thể thay thế bằng fluorspar tổng hợp, nhưng kính hiển vi loại này
cũng hết sức phức tạp và đắt tiền Sau khi kính hiển vi điện tử ra đời, kính hiển vi tử ngoại chỉ còn bó
hẹp trong phạm vị nghiên cứu
ADN với bước sóng 260nm Hiên nay, tia tử ngoại và ánh sáng màu lam thẫm còn được dụng trong kỹ thuật hiển vi huỳnh quang để
nghiên cứu trong miễn dịch học
Tuy nhiên kính hiển vi quang học
Trang 14không thể quan sát được các vật có kích thước nhỏ hơn 200nm mà
virus và các bộ phận chi tiết của
các tế bào đều có kích thước đo
bằng nm (1nm=1/triệu mm) Chính
vì vậy việc phát hiện ra kính hiển vi điện tử là một bước tiến xa giúp
cho các khám phá sinh học và
nhiều lĩnh vực khoa học khác Kính hiển vi điện tử cho phép quan sát
hơn kính hiển vi quang học nhiều gấp 100 lần Nếu dùng kính hiển vi quang học quan sát virus thì chẳng khác gì dùng máy đào đất đi tìm
cây kim (Hawley, 1946) Nguyên
lý của kính hiển vi điện tử là dùng một chùm điện tử thay thế cho ánh sáng, do dòng điện tử không đi qua
Trang 15thấu kính được cho nên phải dùng những điện từ trường để hôi tụ
chùm điện tử, tất cả thiết bị phải đặt trong ống chân không
Năm 1938, kính hiển vi điện tử ra đời tại Mỹ Mắt thường chỉ có thể phân biệt vật thể tới kích thước 106 Å(angstrom), 1 Å = 0,1nm
(nanomètre), hay = 1.0 × 10-10
met
Kính hiển vi quang học thông
thường có thể phóng đại được 500 lần, tức phân biệt được 2000 Å
Kính hiển vi quang học hiện đại
nhất có độ phóng đại 2.500 lần
Kính hiển vi điện tử có thể phóng đại 40.000 lần, thậm chí có thể
phân biệt được 2-3 Å, nhưng chỉ có
Trang 16thể phân biệt rõ nét những hạt từ 20
Å trở lên
Optical microscope=KHV quang
học TEM=Transmission electron
microscope- KHV điện tử thấu
xạ SEM=Scanning electron microscope-KHV điện tử quét
Trang 17
Men bia dưới KHV điện tử
Ngày nay kính hiển
vi điện tử không còn cồng kềnh như trước nữa mà rất gọn nhẹ Hình ảnh hiện lên màn hình và chụp lại được ngay Các loại virus có thể
thấy rất rõ rừng chi tiết
Trang 18
Virus HIV gây bệnh
AIDS Virus Cúm
A/H1N1
Đã đăng trên tạp chí Kiến thức
ngày nay
Trang 19
©
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.org Nguyễn
Lân Dũng, Chung Chí Thành