Theo Đông y thì ngọc trúc có tác dụng tư âm nhuận phế, sinh tân dưỡng vị, nên chủ trị được vị âm hư, âm hư ngoại cảm, chứng tiêu khát, chứng ho lao phế táo.. Các nghiên cứu hiện đại còn
Trang 1Món thuốc từ ngọc trúc
Ngọc trúc (Rhijoma polygonati odorati) thuộc họ hành tỏi (liiaceae) là vị thuốc được
ghi đầu tiên trong sách Bản kinh với tên nữ ủy Bộ phận dùng làm thuốc là thân rễ
phơi hay sấy khô của cây ngọc trúc (polygonatum officinale All) hay (polygonatum odoratum - Mill - Druce) Sở dĩ có tên “ngọc trúc” vì cây này có lá giống lá trúc và thân rễ bóng như ngọc Ngọc trúc là loại cây mọc nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam (Trung Quốc) Đông y cho rằng cây ngọc trúc có vị ngọt,
tính bình, đi vào các kinh phế và vị Sách Bản kinh cũng nói vị ngọt, tính bình Sách Trấn nam bản thảo thì nói vị ngọt, hơi đắng, tính bình hơi ôn, nhập tỳ
Theo Đông y thì ngọc trúc có tác dụng tư âm nhuận phế, sinh tân dưỡng vị, nên chủ trị được vị âm hư, âm hư ngoại cảm, chứng tiêu khát, chứng ho lao phế táo Các chứng bất túc, da mặt đen sạm (uống lâu da trở nên tươi nhuận), trúng phong bạo nhiệt (theo sách
Bản kinh) Hay theo Bản thảo cương mục còn có thể dùng thay sâm kỳ, thuốc vừa
không hàn không táo lại rất công hiệu
Các nghiên cứu hiện đại còn thấy vị ngọc trúc có tác dụng bảo vệ nhất định đối với
trường hợp cơ tim bị thiếu máu, đồng thời còn phòng ngừa tăng cao triglyceride và làm giảm lipid máu giúp phòng chống xơ cứng động mạch Bởi vậy trên lâm sàng, ngọc trúc
đã được bào chế thành thuốc bổ dùng trong phòng ngừa bệnh tim mạch rất tốt
Để cùng tham khảo và có thể chọn lựa áp dụng có hiệu quả, sau đây xin giới thiệu một số phương thuốc và món ăn trị bệnh từ vị thuốc ngọc trúc
Các phương thuốc trị bệnh
Trị bệnh mạch vành và đau thắt ngực: ngọc trúc 20g, đẳng sâm 12 Sắc thành cao lỏng
chia 2 lần uống trong ngày
Chữa chứng ngoại cảm: bệnh nhân thấy ho, phế táo tức vốn âm hư thì dùng phương “Gia
giảm ngọc trúc thang”
Gồm các vị: ngọc trúc 12g, hành tươi 3 củ, cát cánh 2g, đạm đậu xị 16g, bạc hà (cho sau) 4g, chích cam thảo 2g, bạch vi 4g, táo 2 quả Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần
Trang 2Liều dùng trung bình vị ngọc trúc cho 1 thang thuốc là 10-15g, bào chế dưới dạng nấu cao hoặc hoàn tán Khi sử dụng tươi hoặc độc vị có thể dùng liều cao tới 40-80g Sử dụng làm cường tim lại cần liều cao hơn nữa
Các món ăn thuốc từ ngọc trúc
Ngọc trúc sắc: làm cường tim dùng cho người mắc bệnh về tim Dùng ngọc trúc 15g,
đường trắng một ít Sắc ngọc trúc lấy nước, cho đường trắng vào uống Mỗi ngày 1
thang
Canh táo nhân, ngọc trúc, hồng táo (chà là đỏ): món này có tác dụng dưỡng gan, kiện tỳ,
an thần cường tâm, nhuận táo Dùng thích hợp cho những người tỳ vị yếu, dạ dày nạp kém, miệng khô mất ngủ
Hồng táo 20 quả, ngọc trúc 10g, toan táo nhân 10g, đường trắng nửa thìa Ngâm hồng táo vào nước ấm một lát, rồi rửa sạch để ráo nước Toan táo nhân đập vỡ, cùng ngọc trúc và hồng táo cho vào ấm sành, đổ vào 1 bát tô nước, dùng lửa nhỏ sắc từ 20-30 phút, còn lại nửa bát, thấy hồng táo chín thì đem ra ăn điểm tâm Cần dùng nhiều ngày
Món thịt hầm ngọc trúc: Phương này có tác dụng bổ âm, nhuận táo, thích hợp cho những
người phế âm hư, ho lâu ngày, đờm ít
Ngọc trúc 15-30g, thịt lợn nạc 100-150g, thái miếng cho cùng ngọc trúc vào hầm nhừ, đem ra ăn thịt uống nước canh
Món canh ngọc trúc, bách hợp, thịt hến: Phương này có tác dụng bổ âm nhuận táo Dùng
phù hợp cho những người mắc chứng tâm phiền, mất ngủ, miệng khát do âm hư dẫn đến Ngọc trúc 20g, bách hợp 30g, thịt hến 50g Tất cả nấu hầm thành canh ăn cái uống nước Cần ăn nhiều ngày
Món canh chim bồ câu trắng, ngọc trúc, sơn dược: Dùng cho người ăn uống kém Có tác
dụng dưỡng âm bổ dịch hết khát
Chim bồ câu trắng 1 con, sơn dược 15g, ngọc trúc 15g, mạch môn đông 15g, thiên môn đông 15g, chim bồ câu trắng làm sạch bỏ ruột chặt miếng nhỏ, cho cùng các vị còn lại hầm nhừ thành canh, ăn cái uống nước canh Cần ăn một thời gian, tuần ăn 1-2 lần