Luồng di chuyển đến TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai từ Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang đã tăng lên nhiều, gắn với việc phát triển các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ở v
Trang 1VẤN ĐỀ DI CƯ Ở NƯỚC TA
I DI CƯ GIỮA CÁC TỈNH VÀ CÁC VÙNG Ở VIỆT NAM TỪ GIỮA THẬP KỈ 80 ĐẾN CUỐI THẬP KỈ 90 CỦA THẾ KỈ XX
1 Các luồng chuyển cư giữa các vùng
Tổng điều tra dân số năm 1989 cho biết trong thời kì 1984-1989 có 1429 nghìn người từ 5 tuổi trở lên
đã tham gia di chuyển giữa các tỉnh, bằng 2,6% dân số từ 5 tuổi trở lên năm 1989 Kết quả điều tra toàn diện dân số và nhà ở năm 1999 cho biết có 2116,6 nghìn người đã di chuyển giữa các tỉnh từ 1994-1999, bằng 3,1% dân số từ 5 tuổi trở lên của năm 1999 Các kết quả tổng hợp về chuyển cư giữa các vùng vào hai thời
kì này được trình bày ở các bảng dưới đây
Bảng 10 Sự di chuyển giữa các tỉnh gộp theo vùng 1984-1989 (người)
Nơi thường trú 1/4/198 9
Nơi thường trú 1/4/1984 (khác tỉnh)
MN-TD phía Bắc
ĐBSH
Bắc Trung Bộ
Nam Trung Bộ
Tây Nguyê n
Đông Nam Bộ
ĐB SCL
Tổng chuyển đến ngoại vùng MN-TD
phía Bắc
ĐBSH 108048 92895 21211 4626 4180 6488 4281 148834 Bắc
Trung Bộ
20508 22670 14329 10998 5741 9941 3723 73581
Nam Trung Bộ
6109 11732 25524 18804 10210 11173 3114 67862
Tây Nguyên 33531 118669 86912 54806 5181 15970 6285 316173 Đông
Nam Bộ 24205 76128 69129 50994 10251 76320 84344 315051
Tổng chuyển
đi ngoại vùng
194376 320607 218818 126291 32057 66049 103342 1061540
Trong bảng 10 và bảng 12, ta sẽ đọc được số người di chuyển nội vùng (ô giao nhau giữa cột và hàng)
và số người di chuyển ngoại vùng Đối với số người di chuyển ngoại vùng, theo cột dọc là số người chuyển
đi khỏi vùng, còn theo hàng ngang là số người chuyển từ vùng khác đến
Tính toán từ Kết quả điều tra toàn diện, Tổng điều tra dân số 1989, tập 1, H 1991.
Trang 2Bảng 11 Các tỉ suất di chuyển giữa các vùng 1984 - 1989 (‰)
Tỉ suất chuyển đi
Tỉ suất chuyển đến
Cán cân
di chuyển
Tỉ suất di cư tổng cộng
Đồng bằng sông Cửu
Long
Nguồn: Tính toán từ Kết quả điều tra toàn diện, Tổng điều tra dân số 1989, tập 1, H, 1991.
Về di chuyển giữa các vùng, có thể thấy một số xu hướng sau:
- Miền núi, Trung du phía Bắc (MNTDPB) cho tới đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX còn là địa bàn nhập cư, cán cân di chuyển dương, thì từ giữa thập kỉ 80 của thế kỉ XX về sau liên tục là địa bàn xuất cư Điều này có
liên quan khá rõ nét với tình trạng đời sống còn nhiều khó khăn của nhiều vùng cao, nhất là của các tỉnh biên giới trong thập kỉ 80, 90, việc chuyển cư sau hồ Hoà Bình, sức hút của đồng bằng sông Hồng đối với các luồng chuyển cư Việc phân tích kĩ ở cấp tỉnh, có thể thấy rõ hơn như sau
- Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) vẫn là vùng “trao đổi” các luồng chuyển cư với miền núi trung du phía Bắc mạnh nhất Ở đây, yếu tố cự li gần có ý nghĩa khá quan trọng Các luồng chuyển từ MNTDPB chủ
yếu đến thủ đô Hà Nội, còn các luồng từ ĐBSH (các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, TP
Hà Nội, TP Hải Phòng) chủ yếu là đến vùng mỏ Quảng Ninh Một số tỉnh khác cũng có sức hút khá đối với
cư dân từ ĐBSH là Hoà Bình, Phú Thọ và Thái Nguyên Nếu như vào nửa cuối thập kỉ 80 vẫn còn thấy các luồng chuyển cư từ ĐBSH đi xây dựng các vùng kinh tế mới ở MNTDPB (Hoàng Liên Sơn, Bắc Thái), thì đến giai đoạn này không thấy nữa
Bảng 12 Sự di chuyển giữa các tỉnh gộp theo vùng 1994-1999 (người)
Nơi
thường trú
1/4/1999
Nơi thường trú 1/4/1994 (khác tỉnh)
MN
-TD
phía
Bắc
ĐBSH
Bắc Trung Bộ
DH Nam Trung Bộ
Tây Nguyê n
Đông Nam Bộ
ĐBSC L
KX Đ
Tổng số chuyển đến ngoại vùng MNTDPB 51783 62007 7710 1087 2421 3001 650 701 77579
Đồng
bằng sông
Hồng
74421 15365
6
28086 3902 9180 11917 2412 105
0 130968
Trang 3Bắc Trung
Bộ
3504 6822 23506 10189 8026 9623 1895 24 40085
DHNTB 4350 7787 25739 54141 18105 21246 4034 104 81365
Tây
Nguyên
40825 88806 95495 58734 16519 22653 9826 17 316357
Đông
Nam Bộ
30536 15018
4
145973 99487 23088 14631
8
217416 166 666850 ĐBSCL 1106 9068 6966 2901 1007 34988 186135 111 56146
Tổng số
chuyển đi
ngoại
vùng
154742 32467
5
309970 176300 61828 10342
9
236233 217
3
136934 9
Nguồn: Tính toán từ số liệu gốc điều tra mẫu 3% Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999.
- Hai vùng khác có quy mô chuyển cư tăng lên, cũng thu hút mạnh di cư từ MNTDPB là Tây Nguyên (TN)
và Đông Nam Bộ (ĐNB) Đặc trưng chung là dòng di dân nông nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối, gắn với việc phát triển các vùng trồng cây công nghiệp, nhất là cây cà phê Vì vậy, các vùng nhập cư chính là Đắc Lắc, Lâm Đồng
và Bình Phước Các tỉnh chuyển đi chính là Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh Luồng di chuyển đến TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai từ Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang đã tăng lên nhiều, gắn với việc phát triển các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (thời kì 1994 - 1999, gần 15
000 người (49%) số người di cư từ MNTDPB tới các đô thị của ĐNB, phần khá lớn trong số họ là từ nông thôn)
Bảng 13 Các tỉ suất di chuyển giữa các vùng 1994-1999 (‰)
Tỉ suất chuyển đi
Tỉ suất chuyển đến
Cán cân di chuyển
Tỉ suất di cư tổng cộng
Đồng bằng sông
Hồng
Tính toán từ số liệu gốc điều tra mẫu 3% Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999.
- Đồng bằng sông Hồng vẫn là vùng xuất cư lớn nhất nước ta, mặc dù trong thời kì 1994 - 1999 thì quy
mô xuất cư từ Bắc Trung Bộ đã gần theo kịp ĐBSH Mặt khác, là một vùng kinh tế phát triển, lại có nhiều trung tâm công nghiệp, có Thủ đô Hà Nội, nên ĐBSH có sức hút khá lớn đối với dân cư và lao động từ các vùng khác trong nước Vào thời kì 1984 - 1989, ĐBSH với hơn 320 000 người chuyển đi và gần 149 000 người chuyển đến có số người tham gia di chuyển lớn nhất cả nước Đến thời kì 1994 - 1999, số người chuyển đi và chuyển đến có lẽ giảm chút ít so với thời kì trước đó (chú ý ở đây có sự thay đổi trong ranh
Trang 4giới ĐBSH) Di dân từ ĐBSH vẫn tiếp nối dòng di dân trong lịch sử là di dân đường dài, theo hướng Bắc Nam, nhưng hướng tới hai địa bàn chính là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Trong thời kì 1984 - 1989, hơn
118 000 người đến Tây Nguyên, 76 000 người đến ĐNB Các tỉnh thu hút nhiều nhất người di cư từ ĐBSH
là Đắc Lắc (47,6 nghìn người), rồi đến Lâm Đồng (45,6 nghìn người) và Gia lai – Kon Tum (25 500 người) Đến ĐNB, thì địa bàn quan trọng nhất lúc bấy giờ là tỉnh Đồng Nai (hơn 35 000 người), rồi đến tỉnh Sông
Bé (17 600 người) TP Hồ Chí Minh cũng đã có sức hút tăng dần đối với các luồng di dân từ ĐBSH: hơn 15
000 người đã nhập cư Nét đặc trưng nổi bật lúc bấy giờ là di dân có kế hoạch, có tổ chức của Nhà nước và trọng tâm là di dân đi các vùng kinh tế mới, nhằm hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp (cà phê, cao su); còn chuyển đến TP Hồ Chí Minh chủ yếu là cán bộ được điều động công tác
Đến thời kì 1994 - 1999 thì xu hướng đã thay đổi một cách rõ rệt: gần 89 000 người đến Tây Nguyên và hơn 150 000 người đến ĐNB Khoảng 75% số người từ ĐBSH đến Tây Nguyên là đến các vùng kinh tế mới
để phát triển nông lâm nghiệp Địa bàn nhập cư chính là Đắc Lắc (32 600 người), Lâm Đồng (25 300 người)
và Gia lai (13 400 người) Ngược lại trong số 150 000 người từ ĐBSH đến ĐNB, thì 106 nghìn người (hơn 70%) là đến các đô thị ở ĐNB, trong đó hơn 82 000 người là từ vùng nông thôn của ĐBSH Như vậy, một luồng di dân nông thôn - đô thị rất quan trọng đã diễn ra trên khoảng cách gần 2000km Một phần khá quan trọng trong số họ là những người di dân tự do Trong thời kì này đến TP Hồ Chí Minh là 61 000 người và Đồng Nai 29 600 người
- Bắc Trung Bộ (BTB) là vùng xuất cư lớn thứ hai ở nước ta và có tỉ suất chuyển đi lớn nhất, cán cân di
chuyển có thời kì đã đạt tới –30,2‰ (1994 - 1999) Đó là vì BTB là một vùng kinh tế có nhiều khó khăn, lại
thường xuyên có thiên tai, mức thu nhập của vùng nông thôn thấp bậc nhất cả nước.1 Sự phát triển công nghiệp của vùng cũng hạn chế, nên dòng người chuyển đến có quy mô nhỏ nhất so với các vùng khác và tỉ suất chuyển đến chỉ bằng 4,5‰ (1994 - 1999) Giống như ở ĐBSH, các luồng chuyển cư quan trọng nhất là tới Tây Nguyên và ĐNB, và trong thời kì 1994 - 1999 thì 47% luồng xuất cư là tới ĐNB
- Trong luồng di chuyển đến Tây Nguyên, thì tập trung nhất là ở Đắc Lắc (62,7/86,9 nghìn người, thời
kì 1984 - 1989; 57,4/95,5 nghìn người, 1994 - 1999); 72% trong số này là di dân nông thôn – nông thôn Trong luồng di dân đến ĐNB, thì 57% đến các đô thị, 43% đến vùng nông thôn, di dân nông thôn – đô thị chiếm 45% tổng số Các địa bàn nhập cư chủ yếu là Đồng Nai, Sông Bé (1984 1989) Đến thời kì 1994
-1999 thì địa bàn chủ yếu là TP Hồ Chí Minh (hơn 62 nghìn người, 43% tổng số) và Đồng Nai (40 nghìn người, 27% tổng số) Các luồng di cư từ BTB tới ĐBSH chủ yếu là từ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh đến Hà Nội Còn các luồng chuyển cư đến DHNTB chủ yếu tới Đà Nẵng và Khánh Hoà Di dân vào các đô thị chiếm ưu thế
- Duyên hải Nam Trung Bộ có các luồng di chuyển chủ yếu tới các vùng lân cận là Tây Nguyên và ĐNB
(158 nghìn người, bằng 90% số người chuyển khỏi vùng, 1994 - 1999), và tỉ suất chuyển đi đã tăng lên Các tỉnh chuyển cư chủ yếu là Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định Dòng nhập cư đến DHNTB (1994 -1999) là 81,4 nghìn người từ các vùng lân cận, trong đó lớn nhất là từ BTB
Bảng 14 Vùng nơi đã sinh ra và vùng cư trú hiện nay (%)
1 KÕt qu¶ ®iÒu tra giµu nghÌo 1993 cho thÊy thu nhËp b×nh qu©n nh©n khÈu 1 th¸ng ë B¾c Trung Bé lµ 81,72 ngh×n ®, thÊp ngang miÒn nói phÝa B¾c (81,67 ngh×n ®) vµ chØ b»ng 69% trung b×nh c¶ níc.
Trang 5Tây Nguyên Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn: Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam 1992 - 1993 UBKHNN, TCTK, H., 9-1994, tr.273.
- Tây Nguyên trong thời kì 1984 - 1989 là vùng nhập cư lớn nhất nước ta (316,2 nghìn người) Đến thời
kì 1994 - 1999 quy mô nhập cư vẫn không giảm (316,4 nghìn người), nhưng vùng đứng vị trí thứ hai sau ĐNB TN có tỉ suất di cư tổng cộng lớn nhất cả nước (169,7‰ thời kì 1984 1989 và 108,1‰ thời kì 1994 -1999) Sự phân bố người nhập cư theo tỉnh đến là Đắc Lắc 47,2%, Lâm Đồng 25,4%, Gia Lai 22,3% và Kon Tum 5,2% Như phân tích ở trên, di dân đến Tây Nguyên chủ yếu là để phát triển các vùng trồng cây công nghiệp, nhất là trồng cà phê Ở đây chúng tôi không đề cập đến các hậu quả về môi trường do di dân thiếu
kế hoạch và mở rộng diện tích cà phê tràn lan ở Tây Nguyên Có thể thấy một số thay đổi rất rõ nét trong cơ cấu dân cư, dân tộc của vùng Bảng dưới đây chỉ đề cập đến hai vùng nhập cư lớn nhất nước ta là TN và ĐNB Bảng số liệu rất ấn tượng là Tây Nguyên có tới 85% dân số không sinh ra tại vùng này; 50% dân số đang cư trú ở TN được sinh ra ở DHNTB, cho thấy vai trò của DHNTB trong việc bổ sung nguồn lao động cho TN
Bảng 15 15 dân tộc đông dân nhất Tây Nguyên năm 1999 (%)
Số thứ tự Các dân tộc Tỉ trọng trong cơ cấu
dân số Tây Nguyên 1999
Tỉ trọng trong cơ cấu dân số Tây Nguyên
1989
Trang 611 Thỏi 0,63 0,31
Nguồn: Tớnh toỏn từ Kết quả điều tra toàn diện, Tổng điều tra dõn số 1989 và Tổng điều tra dõn số và
nhà ở 1999
Trong cơ cấu cỏc dõn tộc ở Tõy Nguyờn, 4 tộc người Gia-rai, ấ-đờ, Ba-na, Cơ-ho vẫn giữ được vị trớ là cỏc dõn tộc cú số dõn đụng nhất, cũn cỏc tộc người Xơ-đăng và Mơ-nụng đó nhường vị trớ cho cỏc tộc người Nựng và Tày Sự di cư của cỏc dõn tộc ớt người từ MN - TDPB tới TN trong những thập kỉ qua là một xu hướng khỏ nổi bật Chỉ tớnh riờng 5 tộc người Nựng, Tày, Thỏi, Mường và Dao ở TN dõn số đó tăng từ
64100 người (1989) lờn 238 300 người (1999), tăng 3,7 lần, và tỉ trọng của cỏc tộc người này đó tăng từ 2,58% lờn 5,87%
TN là vựng chịu sức ộp lớn nhất về di dõn tự do nụng thụn – nụng thụn Theo bỏo cỏo của Vụ Nụng nghiệp và Phỏt triển nụng thụn (Bộ KH-ĐT) thỡ từ năm 1976 - 1998 hơn 126 000 hộ với hơn 589 000 nhõn khẩu đó di dõn tự do lờn TN (chiếm 43% cả nước) Những năm cuối thập kỉ 90 của thế kỉ XX hiệu quả kinh
tế cao của cõy cà phờ đó thỳc đẩy mạnh việc di dõn tự do lờn TN Chỉ tớnh từ năm 1996 - 1999 con số là 59,1 nghỡn hộ trong đú 37 000 hộ tới Đắc Lắc, 14 nghỡn hộ đến Lõm Đồng, 7,9 nghỡn hộ đến Gia Lai và chỉ hơn
100 hộ đến Kon Tum Đặc biệt vào quóng năm 1995, khi giỏ cà phờ tăng vọt, 2400 USD/tấn, thỡ cũng là quóng thời gian diện tớch cà phờ được mở rộng mạnh và diện tớch rừng bị chỏy, bị phỏ ở TN lờn đến cao điểm2 Thực hiện Chỉ thị 660/TTg (17/10/1995) về giải quyết tỡnh trạng di dõn tự do, Nhà nước đó đầu tư 76
tỉ đồng cho TN nhằm xõy dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ di dõn
- Đụng Nam Bộ là vựng nhập cư lớn trong suốt nhiều thập kỉ Trong thời kỡ 1994 - 1999, đõy là vựng cú
số người chuyển đến từ vựng khỏc lớn nhất (666 800 người, bằng 48,7% tổng số người di chuyển ngoại vựng của cả nước) Cộng với hơn 103 000 người di chuyển đi cỏc vựng khỏc, thỡ hơn 770 000 người đó tham gia di chuyển ngoại vựng, tỉ suất di cư tổng cộng là 83,2‰ Số người di chuyển ngoại tỉnh đến vựng ĐNB chia theo địa bàn nụng thụn và thành thị thời kỡ 1994 - 1999 phõn bố như sau:
2 Từ 1995 đến 1996, diện tích gieo trồng cà phê Tây Nguyên tăng 59 100 ha, còn năm sau đó tăng 69 300 ha Năm 1995 diện tích rừng bị cháy là 2344 ha, diện tích rừng bị phá là 12478 ha
Trang 7Bảng 16 Di chuyển ngoại tỉnh đến ĐNB phân theo hình thức di chuyển (1994 - 1999)
Di chuyển Số người tham gia
di chuyển
% tổng số
Đến thành thị
Nông thôn - Thành thị
Không XĐ - Thành thị
Đến nông thôn
Thành thị - Nông thôn
Nông thôn - Nông thôn
Không XĐ - Nông thôn
Tính toán từ số liệu gốc điều tra mẫu 3% Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999
- Ở ĐNB nổi bật là các dòng di dân vào đô thị chiếm ưu thế Di dân ngoại tỉnh đến các đô thị là gần 554
nghìn người, chiếm 68,1% tổng số người di chuyển Nhưng chỉ tính người di dân ngoại vùng đến các đô thị,
đã là 467 000 người (70,1% tổng số di dân ngoại vùng) Trong số này chủ yếu lại là dòng di chuyển nông thôn - đô thị, chiếm 52,2% tổng số di dân ngoại vùng Đây là một trong những nguồn quan trọng làm tăng nhanh dân số đô thị ở ĐNB, nhưng đồng thời cũng đặt ra rất nhiều vấn đề xã hội cho các đô thị của vùng, trước hết là TP Hồ Chí Minh
- Đồng bằng sông Cửu Long là vùng dân cư ít biến động hơn cả: tỉ suất di cư tổng cộng là 12,5‰ (1984
- 1989) và 19,8‰ (1994 - 1999), nhưng có thể thấy luồng xuất cư từ ĐBSCL đã tăng lên rất mạnh, chủ yếu
là đến ĐNB Thời kì 1994 - 1999, 217 400 người đã từ ĐBSCL đến ĐNB (32,6% dân nhập cư ngoại vùng đến ĐNB) Nếu như trong thời kì 1984 - 1989 còn tỉ lệ khá lớn người nhập cư từ ĐBSCL đến các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé, thì đến thời kì 1994 - 1999 chủ yếu (77,4%) là vào TP Hồ Chí Minh Thời kì 1994 - 1999 hơn
56 000 người đến ĐBSCL, trong đó 25 300 người từ TP Hồ Chí Minh
2 Di cư nông thôn - đô thị
Dòng di cư nông thôn vào đô thị, theo quy luật, đã tăng lên mạnh trong quá trình chuyển nền kinh tế từ
kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, với hàng loạt chính sách nới lỏng ở tầm quản lí vi mô Dòng
di dân nông thôn vào đô thị đã là nguồn quan trọng làm tăng trưởng dân số đô thị, nhất là các đô thị lớn ở nước ta Trong thời gian 1994 - 1999, 1182 000 người đã di chuyển từ nông thôn vào đô thị Trong số này chỉ tính độ tuổi 18-29 đã chiếm tới 54% tổng số người tham gia di chuyển Bảng số liệu dưới đây cho ta bức tranh khái quát về dòng di dân nông thôn vào đô thị nói chung và di dân nông thôn - đô thị giữa các tỉnh phân theo vùng Ở các vùng Đông Bác, Tây Bắc (MNTDPB), Bắc Trung Bộ, ĐBSCL luồng di dân nông thôn vào đô thị chủ yếu diễn ra trong tỉnh, còn đối với các vùng ĐBSH, DHNTB, Tây Nguyên, ĐNB thì dòng di chuyển nông thôn - đô thị giữa các tỉnh chiếm tỉ trọng lớn, nhất là ở ĐNB Ở TN và ĐNB, khoảng 4/5 số dân di cư ngoại tỉnh vào đô thị là từ vùng nông thôn
Trang 8Bảng 17 Di dân nông thôn vào đô thị 1994 – 1999 phân theo vùng
Vùng
Giữa các tỉnh và nội
tỉnh
Giữa các tỉnh
Tổng số từ nông thôn vào đô thị
% tổng số dân nhập cư vào đô thị
Tổng số từ nông thôn vào đô thị
% tổng số dân nhập cư ngoại tỉnh vào đô thị Đồng bằng sông
Hồng
Đồng bằng sông Cửu Long
Tính toán từ số liệu gốc điều tra mẫu 3% Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999
Hai dòng di cư nông thôn - đô thị lớn nhất là vào TP Hồ Chí Minh và Hà Nội Có thể thấy sức hút rất lớn với khoảng cách xa của TP Hồ Chí Minh đến các tỉnh nhập cư chủ yếu, trong khi địa bàn nhập cư vào
Hà Nội chủ yếu từ các tỉnh ĐBSH, Thanh Hoá, Nghệ An
Bảng 18 Mười tỉnh nhập cư chủ yếu vào Hà Nội và TP Hồ Chí Minh 1994-1999
Tỉnh, thành
phố
Tổng số đến HN
% Tổng số
Tỉnh, thành phố
Tổng số đến TP HCM
% Tổng số
Tp.Hải
Phòng
Trang 9Nguồn: Tính toán từ Kết quả toàn diện Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999.
Việc phân tích đặc trưng của những người di cư nông thôn - đô thị ngoại tỉnh trên 13 tuổi vào Hà Nội và
TP Hồ Chí Minh cho thấy những nét khác biệt lớn về tính chọn lọc của những người nhập cư Chẳng hạn,
về tình trạng việc làm 12 tháng qua của nhóm người này, thì tỉ lệ làm việc ở Hà Nội chỉ 36,7%, trong khi ở
TP Hồ Chí Minh 64,3% Ngược lại, tỉ lệ người đến học tập ở Hà Nội tới 47,5%, trong khi ở TP Hồ Chí Minh chỉ 16,4%, còn số người làm nội trợ ở Hà Nội là 7,6%, ở TP Hồ Chí Minh tới 11,5%
Về trình độ chuyên môn kĩ thuật, thì luồng chuyển cư vào Hà Nội có tỉ lệ lao động có trình độ KHKT cao hơn Tuy nhiên, do quy mô của các luồng chuyển cư vào TP Hồ Chí Minh lớn gấp 3,6 lần vào Hà Nội, nên TP Hồ Chí Minh vẫn thu hút nhiều hơn số lao động có chuyên môn kĩ thuật, ngay cả từ nông thôn vào thành phố
Bảng 19 Một số đặc trưng của người di cư ngoại tỉnh
từ nông thôn vào đô thị, tuổi trên 13, thời kì 1994 - 1999
Vào Hà Nội Vào TP Hồ Chí Minh
Số người Phần trăm Số người Phần trăm
1 Công việc chính trong 12 tháng qua
Không có nhu cầu làm
việc
2 Trình độ chuyên môn kĩ thuật cao nhất
Số người Phần trăm Số người Phần trăm Không có trình độ
CMKT
Công nhân kĩ thuật,
nhân viên nghiệp vụ có
bằng
Trung học chuyên
nghiệp
Nguồn: Tính toán từ Kết quả toàn diện Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999.
Kết luận: Việc nhận diện các xu hướng di cư giữa các vùng, các tỉnh ở nước ta trước đổi mới và trong
thập kỉ đầu của đổi mới là một căn cứ quan trọng để phân tích các biến đổi to lớn trong cơ cấu lãnh thổ nền
Trang 10kinh tế, đề xuất các định hướng và giải pháp trong phân công lao động, phân bố lại lực lượng sản xuất giữa các vùng trong nước Nó cũng là một căn cứ quan trọng để phân tích các mối quan hệ giữa việc phân bố lại dân cư, lao động với các vấn đề cần giải quyết về kinh tế – xã hội ở từng vùng cũng như cả nước
Trên đây mới là bức tranh tổng quát về các xu hướng đã diễn ra Những nghiên cứu tiếp sau ở quy mô từng tỉnh và cho từng nhóm đối tượng tham gia di chuyển chắc chắn sẽ cho nhiều nhận định sâu sắc
II DI CƯ VÀO CÁC ĐÔ THỊ LỚN Ở NƯỚC TA TRONG THẬP KỈ 90 CỦA THẾ KỈ XX PHÂN TÍCH TRƯỜNG HỢP CỦA TP HỒ CHÍ MINH VÀ HÀ NỘI
1 Khái quát chung
Di cư vào các đô thị (bao gồm cả di cư nông thôn và đô thị và di cư giữa các đô thị) đã là nguồn chủ yếu tạo ra sự tăng trưởng của dân số các thành thị, nhất là của các thành phố lớn Điều này có thể thấy rõ trong bảng số liệu dưới đây về sự tăng trưởng dân số của nước ta
Bảng 20 Tỉ lệ gia tăng dân số nước ta
phân theo khu vực thành thị và nông thôn, 1980 - 1999
nước
Thàn
h thị
Nông thôn
nước
Thành thị
Nông thôn
Nguồn: [8]; [2: tr 27-28].
Bảng số liệu cho thấy trong thập kỉ 80 quá trình đô thị hóa diễn ra rất chậm chạp, có những năm tỉ lệ gia tăng dân số đô thị thấp hơn cả mức gia tăng dân số chung, còn nhìn chung gia tăng dân số đô thị trong thời
kì này không cao hơn mức chung của cả nước là bao nhiêu Chỉ từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, thì tốc
độ tăng trưởng dân số đô thị mới cao Mức gia tăng dân số tự nhiên của thành thị luôn thấp hơn mức gia tăng dân số tự nhiên của cả nước Vì vậy, từ bảng 21 có thể thấy rằng từ nửa cuối của thập kỉ 90 của thế kỉ
XX, gia tăng cơ học đã chiếm hơn 1/2 mức gia tăng dân số chung của đô thị Sự gia tăng nhanh của dân số
đô thị còn do trong những năm gần đây một số xã đã chuyển thành phường và thị trấn (điển hình là năm 1997) Dù nhìn ở góc độ nào, thì sự tăng nhanh dân số đô thị trong những năm gần đây cũng là kết quả của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Kết quả toàn diện Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/1999 cho biết trong 5 năm tính từ thời điểm trước điều tra đã có hơn 4.537.000 người di chuyển, trong đó 2.279.000 người di chuyển đến các đô thị, nhiều hơn
số người di chuyển đến các vùng nông thôn (Bảng 21) Trong số người di chuyển vào thành thị, thì 1.117.000 người là từ các vùng nông thôn, 1.082 nghìn người di chuyển giữa các địa bàn trong khu vực thành thị Sự di chuyển người và lao động giữa các đô thị có liên quan rất lớn đến quá trình phát triển và