1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Các ngành công nghiệp chủ yếu

28 532 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 428,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân dẫn tới việc khai thác than sớm của thực dân Pháp: Trước hết, than ở nước ta là than antraxit nhiệt lượng cao, phân bố tập trung ở Quảng Ninh, nằm sát biển, dễ vận chuyển, th

Trang 1

CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU

1 CÔNG NGHIỆP NĂNG LƯỢNG (CNNL)

a Vai trò

CNNL bao gồm hàng loạt các ngành khác nhau từ việc khai thác các dạng năng lượng (than, dầukhí ) cho đến việc sản xuất điện năng nhằm tạo ra cơ sở động lực phục vụ cho quá trình CNH’ & HĐH’ đấtnước Có thể chia ra 2 nhóm ngành chính (nhóm ngành khai thác các mỏ nhiên liệu và nhóm ngành sản xuấtđiện) CNNL được coi như mảng CSHT quan trọng nhất trong toàn bộ kết cấu hạ tầng sản xuất Phát triểnngành này sẽ kéo theo hàng loạt các ngành khác như CN cơ khí; SXVLXD; xây dựng cơ bản khác Đồngthời nó cũng thu hút những ngành sử dụng nhiều điện năng như luyện kim màu; CB' kim loại; CB'TP; Hoáchất; Dệt Vì thế, CNNL thường là một tổng thể sản xuất có qui mô lớn, được xây dựng ở nơi có vị trí địa

lý thuận lợi, đầu mối giao thông quan trọng có khả năng tạo vùng rất lớn (tiêu biểu là TTCN Hạ Long, CẩmPhả) Ngành này từ lâu đã được Đảng và Nhà nước đã coi trọng và được đi trước một bước, vốn đầu tư chongành thường chiếm trên 1/2 vốn đầu tư cho CN Về GTSL, chỉ đứng sau CNCB LT-TP

b Quá trình phát triển

▪ Thời kỳ Pháp thuộc & kháng chiến chống Pháp ở miền Bắc

+ Công nghiệp khai thác than Thực dân Pháp rất chú ý đến việc phát triển ngành này, ngay từ khi

chưa hoàn thành việc xâm lược Bắc Kỳ Pháp đã chú ý đến dải than Đông Triều-Cái Bàn (1882), đến 1884chúng thành lập Công ty than Bắc Kỳ Việc khai thác than có sức cạnh tranh lớn, đạt hiệu quả kinh tế cao;

Vì vậy chỉ sau 10 năm xây dựng cơ bản, năm 1895 Công ty than Bắc Kỳ đã đi vào hoạt động với qui môlớn Trong vòng 30 năm sau (1895-1925) sản lượng than đã đứng thứ 5 châu Á, chỉ sau sau Nhật, TrungQuốc, Ấn Độ (thuộc Anh), Inđônêxia (thuộc Hà Lan) Cho đến khi rút khỏi vùng mỏ, trong vòng 60 năm,thực dân Pháp đã khai thác khoảng 50-60 triệu tấn, phần lớn là than lộ thiên, chất lượng tốt đưa về chính

quốc Nguyên nhân dẫn tới việc khai thác than sớm của thực dân Pháp: Trước hết, than ở nước ta là than

antraxit nhiệt lượng cao, phân bố tập trung ở Quảng Ninh, nằm sát biển, dễ vận chuyển, than lộ thiên, ít tốnkém trong khi xây dựng CSHT, tiết kiêm được vốn đầu tư, thuận lợi trong việc sử dụng lao động thủ công.Vùng mỏ Quảng Ninh nằm gần kề ĐB sông Hồng, đông dân, việc tuyển mộ công nhân dễ dàng và giá rẻ.Mặt khác, thời kỳ này thị trường ĐNÁ thiếu than, Pháp đẩy mạnh việc khai thác than để chiếm lấy thị

trường này và ngăn chặn sự xâm nhập của Anh Những hậu quả xấu khi Pháp khai thác than ở nước ta Với

nhiều lý do khác nhau, chúng thường hướng vào các mỏ dễ khai thác Do thiếu qui hoạch cụ thể nên tàinguyên này bị khai thác bừa bãi, lãng phí Các bãi thải đất đá đổ lên các khoáng sản chưa khai thác Môitrường bị huỷ hoại Nhân công bị bóc lột nặng nề

+ Công nghiệp điện lực.Ở miền Bắc,bên cạnh việc khai thác than, công nghiệp điện lực cũng ra đời

khá sớm (chỉ sau 2 thập kỷ so với sự ra đời của các nhà máy điện ở Bắc Mỹ và Tây Âu) Nhà máy điện đượcxây dựng đầu tiên là Sông Cấm (Hải Phòng-1882) Từ 1884-1902 xây dựng các nhà máy điện một chiều ở

Hà Nội và Sài Gòn (công suất mỗi nhà máy 500kw) Năm 1924, Công ty nước và điện khí Đông Dương xâydựng tiếp các nhà máy điện xoay chiều ở Khánh Hội (Sài Gòn), Yên Phụ (Hà Nội), Cọc 5 (Hòn Gai), NamĐịnh (công suất TB 22.500kw/1 nhà máy) Đường dây tải điện 3,5 kv được hình thành nối Hà Nội-HảiPhòng; Hà Nội-Hưng Yên-Thái Bình-Nam Định đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt, thắp sáng công cộng ở các

Trang 2

công sở và các TTCN mới Để phục vụ cho việc khai khoáng, một số trạm thuỷ điện nhỏ cũng được xây

dựng ở Tà Sa (825kw), Nà Ngần (750kw) thuộc Cao Bằng và Thạch Bàn (Thanh Hoá) Ở Miền Nam Các

Công ty chè và cà phê của Pháp đã xây dựng trạm thuỷ điện Ankroet (Suối Vàng) công suất 500 kw, phục

vụ cho khu du lịch Đà Lạt và nhà máy chè Cầu Đất Xây dựng trạm thuỷ điện Đrây-H’Linh (500kw) chovùng cà phê bao quanh Buôn Ma Thuột Gần 1/2 thế kỷ phát triển, sản lượng điện năm cao nhất (1942) đạt

102 triệu kw/h, đến 1945 chỉ còn bằng 75% sản lượng điện năm 1942

Nguyên nhân sự phát triển chậm chạp của ngành điện lực thời kỳ này: Trước hết, mục tiêu chủ yếu

là phục vụ cho các trung tâm hành chính, sinh hoạt của các quan chức thực dân và tay sai, ít chú ý đến sảnxuất (đặc biệt là những ngành CB' cần nhiều điện, có sức cạnh tranh với chính quốc), chỉ có duy nhất trạm

máy bơm nước Sơn Tây (10 KVA) là phục vụ cho nông nghiệp Thứ hai, toàn bộ cơ chế KT-XH phong

kiến vẫn được duy trì; bản thân nền kinh tế tự túc-tự cấp dựa trên cơ sở kỹ thuật cổ truyền, công cụ thô sơ và

sức lao động thủ công nên hầu như không có nhu cầu về động lực Cuối cùng, những năm chiếm đóng lại

nước ta (1846-1954) Pháp chỉ kiểm soát được các đô thị xung yếu Việc cung cấp than cho các nhà máynhiệt điện gặp nhiều khó khăn (chủ yếu dùng điện điêzen) Một số trạm thuỷ điện (Ankroet, Đ’rây-H’Linh)

đã nâng công suất từ 500kw lên 1.500kw, sản lượng điện tăng 4 lần so với 1930 (255,8 triệu kw/h), nhưngcũng không cải thiện được bao nhiêu so với tình hình phát triển của công nghiệp điện lực

▪ Từ 1955 - 1975

- Ở miền Bắc, Nhà nước có chủ trương phát triển CN điện lực, coi nó là động lực để khôi phục và phát triển nền kinh tế.

+ CN khai thác than: Qua 20 năm cải tạo và xây dựng, công nghiệp khai thác than đã có những

chuyển biến vượt bậc; Việc tìm kiếm, thăm dò được đẩy mạnh, một số mỏ mới được đưa vào khai thácHồng Gai-Cẩm Phả (Quảng Ninh); Na Dương (Lạng Sơn) Phấn Mễ, Núi Hồng (Thái Nguyên) và một số mỏnhỏ ở địa phương như Đầm Đùn, Suối Hoa, Khe Bố, Mộc Châu Kết cấu hạ tầng phục vụ cho ngành khaithác than được tăng cường như hình thành các đường cung cấp điện, nước, thông tin-bưu chính, các phươngtiện vận tải (xe tải có trọng tải lớn, băng chuyền ), các xí nghiệp sửa chữa, xưởng chế tạo ắc qui, mìn nổ,băng chuyền, tuyển lựa than, phương tiện bốc xếp, bến cảng Kết thúc KH 5 năm lần I (1965) sản lượngthan đã đạt 4,23 triệu tấn (gấp 2,2 lần so với 1930) Đã hình thành được một trục đô thị dọc QL18 từ ĐôngTriều-Cửa Ông Trong chiến tranh phá hoại, vùng mỏ cũng bị đánh phá ác liệt, song sản lượng than vẫn đạt2,6-3,4 triệu tấn/năm Năm 1975 sản lượng đạt 5,2 triệu tấn (gấp 1,23 lần so với 1965)

+ CN điện lực: Dựa vào nguồn nguyên liệu sẵn có, ở giai đoạn đầu từ (1955-1960) hàng loạt các nhà

máy nhiệt điện có qui mô vừa và lớn được xây dựng như Cao Ngạn (Thái Nguyên), Việt Trì (Phú Thọ), LàoCai, Vinh, Hàm Rồng (Thanh Hoá); Cùng với nó là việc mở rộng và nâng cấp các nhà máy điện cũ (Hà Nội,Hải Phòng, Nam Định) Sau 5 năm khôi phục và phát triển, sản lượng điện của miền Bắc năm 1960 đã đạt255,8 triệu kwh

Giai đoạn 1961-1965 và 1966 -1975, các nhà máy điện cỡ lớn được xây dựng như Uông Bí(153MW), Ninh Bình (120MW), Thác Bà (108MW) đã nâng sản lượng điện năm 1965 lên 633,6 triệu kwh(bằng 52% sản lượng điện của cả nước) Các nhà máy điện được liên kết với nhau bằng đường dây cao thế35KV và 110KV phủ khắp đồng bằng và trung du Bắc Bộ Để phục vụ cho xây dựng hậu phương lớn lúc

đó, trong cơ cấu sử dụng điện ở M.Bắc, ngoài việc tập trung cho công nghiệp còn dành một phần cho nông

Trang 3

nghiệp (đặc biệt là thủy lợi) Chúng ta đã XD gần 5.000km đường tải điện và gần 2.000 trạm biến thế vớitổng công suất 219.000KV, cũng trong thời kỳ này, Nhà nước đã thăm dò và chuẩn bị khai thác tổng thểtiềm năng thuỷ điện trên hệ thống sông Hồng, hàng loạt các trạm thủy điện nhỏ được XD ở miền núi (riêng

ở Hòa Bình đã có 200 trạm) Đầu thập kỷ 60 và tiếp theo đến nửa đầu thập kỷ 70, thủy điện Thác Bà(108MW) mới xây dựng đã thoát khỏi cuộc chiến tranh phá hoại và đưa nguồn điện vào mạng lưới điệnquốc gia Đây là giai đoạn chuẩn bị cần thiết cho các ch/trình khai thác hệ thống S.Hồng sau này

Bảng 3.4 Cơ cấu sử dụng điện ở miền Bắc thời kỳ 1966 - 1975

Năm Công nghiệpCơ cấu phân phối và sử dụng điện năng (%)Nông nghiệp Các ngành khác Sinh hoạt

- Ở miền Nam: Trong vòng 2 thập kỷ (1955-1975), công nghiệp điện lực chỉ phát triển mạnh khoảng

10 năm khi Mỹ đổ bộ quân vào Do thiếu cơ sở nhiên liệu độc lập, nên ngành điện phụ thuộc hoàn toàn vàonhiên liệu lỏng (nhập khẩu ~70 vạn tấn/năm) Ngoài một số nhà máy cũ (Khánh Hội, Chợ Quán, Đà Nẵng),các trạm điêzen đã phát triển ở khắp các đô thị Từ 1961-1965, xây dựng nhà máy thuỷ điện Đa Nhim doNhật Bản đầu tư thiết bị, kỹ thuật Nhưng do chưa hoàn chỉnh đường dây tải điện 66KV, nên nhà máy chỉcung cấp điện cho Nha Trang, Phan Rang và căn cứ quân sự Cam Ranh Đến 1975, sản lượng điện ở miềnNam đạt trên 1.088 triệu kwh (bằng 44,8% cả nước) Như vậy, từ năm 1955-1965 về công suất tăng 2,7 lần,sản lượng tăng trên 2,5 lần và từ 1965-1975 (3,8 lần & ~ 3,6 lần) Tuy nhiên, mục tiêu phát triển ngành nàykhác hẳn so với miền Bắc chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt ở đô thị và quân sự, khu vực nông thôn và nôngnghiệp không là đối tượng cung cấp điện

▪ Từ 1975 đến nay Các chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước và điều tra cơ bản được triển khai,

đã đi đến khẳng định tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho công nghiệp năng lượng ở nước ta tương đốiphong phú và đa dạng

- Về than, nước ta có 4 loại than: Than antraxit (than gầy) là loại than có chất lượng tốt nhất, nhiệt

lượng cao (7.000-7.500 kcal/kg), phân bố chủ yếu ở Quảng Ninh, trữ lượng ~ 3,5 tỉ tấn (tính đến độ sâu300m), ở < 300m chưa được nghiên cứu kỹ (trữ lượng ~ 6-7 tỉ tấn); Các mỏ quan trọng là Uông Bí, MạoKhê, Đông Triều, Hồng Gai (Hà Tu, Hà Lầm), Cẩm Phả (Cọc Sáu, Đèo Nai), Mông Dương, Cao Sơn, KheSim Than mỡ có một vài mỏ nhỏ ở Thái Nguyên (Làng Cẩm, Phấn Mễ ~ 4,2 triệu tấn, Núi Hồng ~ 5 triệutấn); đây là loại than cần thiết để luyện cốc dùng trong CN luyện kim, nhưng trữ lượng nhỏ Than nâu tậptrung ở ĐB sông Hồng, trữ lượng dự báo ở độ sâu ~ 3.500m là 210 tỉ tấn, chưa có điều kiện khai thác Thanbùn tập trung nhiều nhất ở ĐB sông Cửu Long (U Minh) vài trăm triệu tấn

- Về dầu mỏ - khí đốt: đã được thăm dò từ cuối thập kỷ 60 đến nay, dầu - khí tập trung trong các bể

trầm tích ở vùng thềm lục địa (trong đó bể trầm tích Nam Côn Sơn có trữ lượng lớn nhất) Trữ lượng dầu

mỏ khoảng 4 - 5 tỉ tấn dầu qui đổi, khí đốt ~ 250-300 tỉ m3

- Về thuỷ điện: Theo đánh giá của ngành điện lực, trữ lượng kinh tế về thuỷ điện của 10 lưu vực sông

chính và các lưu vực nhỏ khoảng 15,0 triệu kw và cho sản lượng điện ~ 82 tỉ kwh (riêng 10 lưu vực chiếm86,55%) Tiềm năng lớn nhất là hệ thống sông Hồng – sông Đà (37%), sông Đồng Nai (19%), 5 lưu vực

Trang 4

sông ở ven biển Trung Bộ (sườn Đông Trường Sơn) chỉ chiếm ~ 17,7% (Riêng hệ thống sông Hồng vàsông Đà chiếm 85,4% trữ lượng được đánh giá).

▪ Các nguồn dự trữ năng lượng chưa được đánh giá chính thức bao gồm

- Nguồn khoáng uranium với uran thiên nhiên, trữ lượng 18 vạn tấn, ở Lai Châu.

- Nguồn nhiệt suối khoáng (hay nguồn địa nhiệt) cũng có nhiều triển vọng, với 46 lỗ khoan của trên

400 nguồn suối khoáng thiên nhiên ở Tú Lệ, Bản Heo (Văn Chấn - Yên Bái), Kim Bôi (Hoà Bình), QuangHanh (Quảng Ninh), Lò Vôi (Lệ Thuỷ - Quảng Bình) thì nhiệt độ nước trên mặt đạt 75 - 1000C Ngay ởđồng bằng Bắc Bộ, nguồn nước khoáng có trong trầm tích Nêôgen dưới độ sâu 3.000 - 3.500m cũng cónhiệt độ 1950C - 2000C

- Nguồn năng lượng của sóng biển và thuỷ triều khá phong phú, ven biển cứ 10 km/1 cửa sông,

đường bờ biển dài 3260 km Sóng biển và thủy triều là nguồn năng lượng đáng kể Theo ước tính nănglượng sóng triều ở Biển Đông là 250kw (bán nhật triều) và 122kw (nhật triều)

- Năng lượng mặt trời và năng lượng của gió, nếu được sử dụng sẽ rất có lợi cho các vùng đảo xa và

các tỉnh cực Nam Trung Bộ, những vùng có chế độ gió và cường độ chiếu sáng mạnh của mặt trời ổn địnhquanh năm

▪ Tuy nhiên, nguồn năng lượng của nước ta phân bố không đều:Tập trung chủ yếu ở Bắc Bộ, đến

Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Các vùng ven biển Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều hạnchế Một sự phân hóa khác là các vùng nằm ở sườn Tây (dãy Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn Nam) có trữlượng thuỷ năng lớn Ngược lại ở phía Đông (kể cả đồng bằng, ven biển và thềm lục địa) lại có cơ sở nhiênliệu phong phú (dầu - khí)

▪ Chính sách của Nhà nước đối với ngành CNNL Do sớm nhận thức được vai trò động lực của

ngành CNNL Ngay từ khi miền Bắc được giải phóng, các kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế, cũngnhư các kế hoặc 5 năm đều ưu tiên đầu tư cho ngành công nghiệp này Vì thế, trong bất kỳ tình thế nào cơ

sở năng lượng vẫn đảm bảo, khi chuyển sang cơ chế thị trường, một số ngành công nghiệp mới cần sử dụngnhiều điện năng, đòi hỏi kỹ thuật cao đã có điều kiện thuận lợi phát triển Sự phát triển ngành CNNL theomột chính sách năng lượng độc lập, chủ yếu dựa vào nội lực Điều này được thể hiện ngay sau khi miền Bắcđược giải phóng, thông qua việc hướng vào nguồn than và thủy năng Khi đất nước thống nhất (1975), Nhànước đã mở rộng không gian tìm kiếm, thăm dò tài nguyên và phát triển CNNL trên phạm vi cả nước Banguồn lực lớn nhất (than, dầu khí, thủy năng) đã và đang được tiếp tục khai thác; đồng thời vẫn đẩy mạnhviệc chuẩn bị khai thác các nguồn khác (năng lượng hạt nhân, gió, mặt trời ) Tuy nhiên, hoạt động của CN

NL còn nặng về khai thác, chỉ có điện lực là CNCB’ Nguồn lực đưa vào CB’ thành điện năng chủ yếuhướng vào thủy năng (chiếm 3/4 sản lượng), sau đó mới tới điện SX từ dầu các loại nhập khẩu, than và khí

tự nhiên

Trang 5

c Tình hình khai thác và sự phân bố ngành CNNL từ sau 1975

▪ Ngành khai thác than

Ngành công nghiệp khai thác than tập trung chủ yếu ở Quảng Ninh, rồi đến Na Dương (Lạng Sơn),Đại Từ (Thái Nguyên) và Nông Sơn (Quảng Nam) qui mô nhỏ Ngoài ra, còn khai thác một số mỏ nhỏ ở cácđịa phương

Qui mô khai thác lớn nhất là Quảng Ninh Tại đây có 3 trung tâm khai thác lớn nhất được xem là 3tổng thể hoàn chỉnh nhất là Cẩm Phả, Hòn Gai và Uông Bí Gắn với 3 trung tâm là hàng loạt các công ty vàcác xí nghiệp bổ trợ Trong vùng có 7 nhà máy sàng tuyển, 6 nhà máy cơ khí cùng các xí nghiệp bổ trợ khácnhư (thăm dò, khảo sát, thiết kế, xây lắp, vật liệu mỏ, hoá chất, vận tải) và có 3 cảng chuyên dụng (CửaÔng, Hòn Gai, Điền Công) Về LLLĐ là 75,0 vạn Trong đó, 3.500 cán bộ có trình độ đại học và trên đạihọc; có 1 Viện nghiên cứu và đào tạo, 2 trường trung cấp mỏ và 8 trường đào tạo CNKT

Về sản lượng: Từ 1955 - 2002 khai thác được 250 triệu tấn than sạch (chủ yếu từ sau 1975) Phầnlớn được tiêu thụ trong nước và 30% cho xuất khẩu Năm 1995 xuất khẩu 2,82 triệu tấn (chiếm 33,6% sảnlượng), đến 1996 là (XK 3,65 triệu tấn và 37,2%), 2002 là (xuất khẩu 6,0 triệu tấn và 37,7%), 2005 (xuấtkhẩu 17,98 triệu tấn và 52,76%)

Tình hình khai thác than từ sau 1975 ít nhiều có biến động Thời kỳ 1975-1988 sản lượng tương đối

ổn định ở mức 6 triệu tấn; Thời kỳ từ 1989-1990 sản lượng giảm mạnh do chưa thích nghi với cơ chế thịtrường, từ 1995 trở đi, sản lượng than bắt đầu tăng mạnh Đến năm 2008, sản lượng đã đạt 39,7 triệu tấn.Hình thức khai thác lộ thiên chiếm 65% sản lượng, 35% là khai thác hầm lò Các mỏ khai thác lộ thiên là Hà

Tu, Cao Sơn, Đèo Nai, Cọc Sáu, Núi Hồng, Na Dương, ưu điểm là năng suất cao, hạn chế là môi trường bịđảo lộn do phải bóc lớp đất đá thải ra gây ô nhiễm nguồn nước - không khí do bụi than Các mỏ khai tháchầm lò là Mông Dương, Hà Lầm, Mạo Khê, Vàng Danh, Tân Lập (trong đó, các giếng lò đứng là MôngDương, các giếng lò nghiêng là Hà Lầm, Mạo Khê, còn lại là lò bằng, hạn chế lớn nhất là năng suất thấp dochúng ta chưa có thiết bị hiện đại, vẫn là lao động thủ công, sử dụng nhiều gỗ chống lò (cứ khai thác được1.000 tấn than cần 50 - 60m2 gỗ chống lò), tỉ lệ hao hụt còn rất lớn 40 - 50%

Nhu cầu than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện tăng nhanh (ví dụ, nhà máy nhiệt điện Phả Lại I,Uông Bí, Ninh Bình tiêu thụ 2,5 triệu tấn/năm), chưa tính hàng loạt các nhà máy nhiệt điện đang hoạt động

và xây dựng cùng với việc tăng nhanh của sản xuất xi măng, VLXD cũng đòi hỏi nhiều về than Với khảnăng khai thác như hiện nay thì ngành than cần phải tìm kiếm thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm,

hạ giá thành để đảm bảo cân đối giữa cung & cầu

Bảng 3.5 Sản lượng than từ 1975 - 2008 (triệu tấn)

Sản lượng 5,20 5,20 5,70 4,60 8,35 11,6 34,1 39,7

▪ Ngành khai thác dầu mỏ - khí đốt.

+ CN khai thác dầu mỏ: Đây là ngành còn non trẻ Năm 1986 khai thác tấn dầu đầu tiên, nhưng từ

đó đến nay ngành này đã trở thành ngành CNTĐ của đất nước Quá trình tìm kiếm dầu-khí được tiến hành

từ những năm 50 ở cả 2 miền Theo dự báo thăm dò hiện nay, khu vực có trữ lượng lớn nhất là từ miềnTrung vào đến Nam Bộ trên vùng thềm lục địa Trên diện tích ~ 318.000km2 được điều tra bằng phương

Trang 6

pháp địa vật lý đã xác định được 9.000km2 có triển vọng lớn, và khoảng 20 vạn km2 có triển vọng vừa vànhỏ Bước đầu dự báo trữ lượng dầu mỏ có thể lên vài tỉ tấn và hàng trăm tỉ m3 khí đốt (Lê Quốc Sử, 1998).

Ở miền Bắc, từ 1954 Nhà nước đã quan tâm đặc biệt đến việc tìm kiếm dầu mỏ Từ 1960-1975 đãphát hiện mỏ khí đốt ở Tiền Hải (Thái Bình) tuy không lớn nhưng được coi là giai đoạn mở đầu cho ngànhdầu - khí nước ta Ở miền Nam, trong giai đoạn này cũng có tiến hành thăm dò ở vùng biển Nam Trung Bộ

và Nam Bộ, nhưng chưa có kết quả cụ thể

Sau 1975, ngày 03/09/1975 Tổng cục dầu-khí được thành lập, sau đó Vietsopetro ra đời trên cơ sởHiệp định liên Chính phủ ký kết năm 1981 và đã phát hiện nhiều địa điểm có dầu khí như có mỏ Bạch Hổ,Đại Hùng và Rồng, tấn dầu đầu tiên (1986) được khai thác tại Bạch Hổ

Sau đổi mới (1986), chúng ta tiếp tục ký kết với nhiều Công ty nước ngoài trong việc thăm dò, khaithác dầu-khí Từ năm 1998 đến 1995, Tổng công ty dầu khí Việt Nam đã ký kết 29 hợp đồng với nhiều công

ty lớn trên thế giới với tổng số vốn đầu tư là 1,5 tỉ USD Nhiều mỏ mới đã phát hiện nhiều nhất là vào

1994-1995 (năm 1994 phát hiện các mỏ Hồng Ngọc, Phi Mã, Lan Đỏ, Lan Tây, Hướng Dương Bắc, HướngDương Nam, Rạng Đông; năm 1995 phát hiện mỏ Thanh Long và nhiều mỏ khác sau này) Mỏ Đại Hùngkhai thác 1994 sản lượng 16 vạn tấn/năm

Đang khai thác các mỏ dầu-khí: Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Lan Đỏ, LanTây, Nam Hồng Ngọc, Kewa và một số mỏ khí đốt ở bể trầm tích Thổ Chu-Mã Lai Ngoài Vietsopetro thìcác Công ty dầu khí của Ôtxtrâylia, Malaixia, Pháp, Nhật cũng đã ký kết hợp tác và đang bước vào khai thácdầu khí tại vùng thềm lục địa nước ta Riêng tại Đồng bằng sông Hồng, Công ty dầu khí của Ôtxtrâylia đãkhoan 2 giếng và tìm thấy dầu thô trong đá cácbônat trước tuổi đệ tam ở vùng trũng Hà Nội (Tháng10/2004 chúng ta đã tìm thấy dầu mỏ ở vùng biển Bắc Bộ, trữ lượng xác định ~ 800 triệu tấn, chuẩn bị khaithác) Trữ lượng dầu-khí theo dự báo khoảng 10 tỉ tấn, cho khai thác 4-5 tỉ tấn dầu (qui đổi) và 250-300 tỉ

m3 khí

Sản lượng khai thác dầu của nước ta tăng nhanh, năm 1986 là 4,0 vạn tấn, đến 2008 tăng lên > 14,9triệu tấn (xuất khẩu 13,75 triệu tấn), Việt Nam là 1/44 nước trên thế giới có khai thác dầu và đứng hàng thứ

4 ở ĐNÁ về sản lượng

+ Về khí đốt: Năm 1992, Vietsopetro xây dựng đường ống dẫn khí từ mỏ Bạch Hổ vào Bà Rịa và tới

tận Thủ Đức, dài 122,5km (1995 hoàn thành) cung cấp cho nhà máy điện Phú Mĩ 1 là 80 vạn m3 khí/năm (~

800 tấn dầu), đến năm 1996 lượng khí đã tăng gấp đôi (~ 160 vạn m3) Tháng 11/2002, đã đưa vào hoạtđộng đường ống dẫn khí từ 2 mỏ Lan Đỏ và Lan Tây (bể trầm tích Nam Côn Sơn), đường ống có chiều dài

399 km, công suất thiết kế là 7 tỉ m3/năm Trước mắt đưa vào đất liền 2,7 tỉ m3/năm, cung cấp khí đốt chonhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2, 3, 4

Bảng 3.6 Sản lượng dầu thô của nước ta qua các năm 1986 - 2008 (đơn vị: 1.000tấn)

Sản lượng 40,0 2700,0 7620,0 16291,0 18519,0 14904,0

+ Những hạn chế của ngành công nghiệp dầu - khí: Đây là ngành non trẻ cho nên mới dừng lại ở

việc xuất khẩu dầu thô, chưa có một cơ sở lọc dầu lớn (trừ một số cơ sở nhỏ như Cát Lái ở ngoại ô TP HCM

Trang 7

công suất ~ 40.000tấn/năm) Một điều bất cập lớn là trong khi chúng ta nhập hầu như tất cả các sản phẩm vềxăng-dầu, nhưng lại xuất khẩu toàn bộ dầu thô sản xuất ra, vì vậy cần xúc tiến xây dựng ngay các nhà máylọc dầu, để hạn chế việc nhập khẩu và tạo điều kiện phát triển ngành công nghiệp hoá dầu Tháng 01/1998,chúng ta khởi công xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Dung Quất, công suất 6,5 triệu tấn dầu thô (hoạtđộng 02/2009, chậm 7 năm theo kế hoạch), dự kiến sẽ xây dựng ở Nghi Sơn và một vài nơi khác

▪ Công nghiệp điện lực Hệ thống các nhà máy điện bao gồm thủy điện và nhiệt điện với qui mô

khác nhau được phân bố tương đối rộng rãi ở những khu vực có nhiều tiềm năng Sau 1975, ngành này pháttriển mạnh trên cơ sở mở rộng, nâng cấp các nhà máy hiện có và xây dựng mới hành loạt các nhà máy điệnvới công suất lớn Về sản lượng điện, năm 1975 chỉ mới đạt 2,4 tỉ kw/h, năm 2000 là 26,6 tỉ kw và đến năm

2008 đã lên trên 72,0 tỉ kw/h Về cơ cấu: thuỷ điện (3/4), nhiệt điện (16,8%), tuốc bin khí (7,8%), điêzen(2,7%), các nguồn khác (0.2%) Trong cơ cấu, thuỷ điện sẽ còn tiếp tục tăng lên trong những năm tiếp theo.Bảng 3.7 Sản lượng điện phát ra của cả nước thời kỳ 1975 - 2005 (triệu KW/h)

Sản lượng 2428,0 3680,0 5230,0 8790,0 14655,0 26683,0 52078,0 72100,0

▪ Các nhà máy thuỷ điện

- Ở phía Bắc: Lớn nhất là nhà máy thuỷ điện Hoà Bình công suất 1.920MW (1979 - 1994), đây là

“Công trình thế kỷ”của nước ta, công trình này tạo một hồ chứa dài 200km Nhà máy nằm ở TX Hòa Bình

trên sông Đà, cách Hà Nội 70km Thuỷ điện Thác Bà (110MW), trên sông Chảy thuộc H.Yên Bình (YênBái), XD 1962-1970, nhà máy có 3 tuốc bin (công suất mỗi tuốc bin 38.000KW), đã tạo ra một hồ chứanước có diện tích 23.400 ha (trong đó diện tích mặt nước 19.050 ha), phần còn lại là diện tích của 1.331 đảolớn nhỏ với chiều dài 80km, rộng 8-12km, có nơi sâu tới 42 m, là hồ lớn thứ 3 (sau hồ Hoà Bình và DầuTiếng) Đang XD thuỷ điện Na Hang (Tuyên Quang) 342 MW; Tạ Bú, Sơn La 2.400 MW, Bản Mai (NghệAn) 320MW

- Ở phía Nam: có thuỷ điện Trị An (400MW) trên sông Đồng Nai nơi hội lưu với sông Bé ngay

trong địa bàn chiến khu D trước đây Đa Nhim (160MW) lấy nước ở hồ Đơn Dương gần thành phố Đà Lạt,công trình này lợi dụng độ chênh của địa hình ở rìa cao nguyên Hàm Thuận - Đa Mi (475MW) trên S.LaNgà (Bình Thuận) Thác Mơ (150MW) trên S.Bé (Tây Ninh) Vĩnh Sơn trên S.Côn (66MW) Sông Hinhtrên sông Ba (70MW)

- Ở Tây Nguyên, tiềm năng về thủy điện tập trung ở phía Tây 2 tỉnh Kon Tum và Gia Lai Thượng

lưu sông Xê Xan có đến 6 khu vực có khả năng thủy điện, trong đó lớn nhất là thuỷ điện Yaly (720MW),khởi công xây dựng cuối 1995 trên sông Xê Xan, tổ máy số 1 phát điện cuối năm 1999 Ngoài ra, ở Tây

Nguyên còn có hàng loạt các nhà máy thuỷ điện khác như: Trên dòng Xê Xan: ngoài thuỷ điện Yali

(720MW), ở phía hạ lưu dòng Xê Xan có Xê Xan 3, Xê Xan 3A, Xê Xan 4, ở thượng lưu có Plây Krông,

tổng công suất lên tới 1500MW Trên dòng Srê Pôk có thuỷ điện Buôn Kuôp (280MW) khởi công 12/2003;

Buôn Tua Srah (85MW) khởi công cuối 2004; Xrê Pôk 3 (137MW), Srê Pôk 4 (33MW), Đức Xuyên

(58MW), Đ’rây H’linh mở rộng lên 28MW Trên lưu vực sông Đồng Nai (ở Tây Nguyên) đang xây dựng

thuỷ điện Đại Ninh (300MW), Đồng Nai 3 (180MW), Đông Nai 4 (340MW), sẽ đi vào hoạt động từ 2008đến 2010

Trang 8

Bảng 3.8 Một số nhà máy thuỷ điện hiện có (hoặc đang xây dựng) tính đến 2006.

MN’TD

PB’

Đang xây dựng

Trung

Bộ

3 nhà máy nàyđang XD, dựkiến hoạt độngvào 2008-2010

Lưu vưcSông XêXan

Hoạt động 2006

Xê Xan 3A

Đang xây dựng

Xê Xan 4Plây Krông

Lưu vực Sông XrêPôk Đang xây dựng

▪ Các nhà máy nhiệt điện

Ở phía Bắc: Nhiệt điện Phả Lại 1 công suất 440MW (hoàn thành 1986) và Phả Lại 2 công suất

600MW (2003), nằm gần khu mỏ Quảng Ninh nơi cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng, với TTCN Hà

Nội thuộc loại lớn nhất của cả nước có nhu cầu về điện năng cho sản xuất & sinh hoạt rất lớn Nhà máy điện Uông Bí - Quảng Ninh (150MW), đã nâng cấp lên 300MW, nhà máy nằm trên thị xã cùng tên ở rìa đông bằng châu thổ S.Hồng, phục vụ chủ yếu cho KCN khai thác than và cảng Hải Phòng Nhiệt điện Ninh Bình

(100MW) nằm ở khu vực núi Cánh Diều, phía Đông Nam châu thổ S.Hồng, phục vụ cho KCN của các tỉnh

Hà Nam, Ninh Bình và nhu cầu tưới tiêu ở vùng trũng của đồng bằng Nhiệt điện Cao Ngạn- Thái Nguyên (116MW) Na Dương - Lạng Sơn (110MW) Trong kế hoạch sẽ xây dựng nhiệt điện Cẩm Phả (Quảng Ninh)

600MW; nhiệt điện Hà Tĩnh… Ngoài ra, còn có hàng chục nhà máy nhiệt điện công suất từ 100–200MWđang hoạt động ở nhiều tỉnh thuộc miền Bắc

Ở phía Nam Các nhà máy điện phần lớn chạy bằng dầu FO tập trung xung quanh các TP lớn như

nhiệt điện Thủ Đức (165MW), Hiệp Phước (375MW), Chợ Quán (53MW), Chợ Lớn (20MW) đều ở

Trang 9

quanh TP HCM, Trà Nóc - Cần Thơ (35MW) Các nhà máy lớn chạy bằng khí như Bà Rịa (328MW), Phú

Mỹ 1, 2, 3, 4 (4164MW), Cà Mau (750MW)

Ở Miền Trung: đang khởi công xây dựng nhiệt điện Hà Tĩnh (thuộc loại lớn hiện nay)

Bảng 3.9 Một số nhà máy nhiệt điện đã hoạt động và đang xây dựng

xây dựng

Tp HCM

Đã hình thành ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện và tự giải quyết trang thiết bị, tuốc bin chocác nhà máy thủy điện từ 0,4 - 250MW với áp lực cột nước từ 10 - 130m Nhà máy công cụ số 1 Hà Nội đãchế tạo thành công tuốc bin nước 1.000KW cho các trạm thủy điện vừa như Bản Hoàng, Thông Gót (CaoBằng); S.Cùng, Đại Quang, Duy Sơn 2, Phú Ninh (Quảng Nam); Hảo Sơn (Phú Yên); Ea Tiêu (Đắc Lắc)

Đã chế tạo các loại biến áp từ 3.500 - 10.000KVA Đã thiết kế và xây dựng qui hoạch điều phối điện trênphạm vi cả nước, hình thành mạng lưới điện quốc gia thống nhất, khắc phục tình trạng mất cân đối về điệnnăng giữa các vùng

Về mạng lưới điện: chúng ta đã XD đường dây tải điện 500kv1 và 2 Đường dây tải điện 500kv IBắc - Nam dài 1.488km từ Hoà Bình – Plâycu - Đà Nẵng - Phú Lâm Khởi công 5/4/1992 - 11/1994 Hàngnăm đã chuyển tải khoảng 3,0 - 4,0 tỉ kwh điện cho miền Trung - Tây Nguyên và Nam Bộ Đây là côngtrình đồ sộ, với tổng số vốn 5.714 tỉ đồng, sử dụng 2,5 vạn lao động là kỹ sư, công nhân kĩ thuật (trong đó,

có trên 100 kỹ sư giỏi được đào tạo ở nước ngoài) Công trình này bao gồm 3 bộ phận: Bộ phận đường dây

đã sử dụng 2,6 vạn tấn dây điện; xây dựng 3.434 móng (~25 vạn m3 bê tông); dựng 3.434 cột (cột thấp nhất

18m, trung bình 42m, cột vượt cao 82m); sử dụng 6 vạn tấn thép Bộ phận xây lắp đã xây 4 trạm biến thế

lớn, trạm nâng thế đầu tiên ở Hoà Bình (220/500kv - 900MVA); Đà Nẵng (220/500kv - 450MVA); Plâycu

(220/500kv - 450MVA) và cuối cùng là trạm hạ thế Phú Lâm (500KV/220KV - 900MVA) Bộ phận kéo dây với chiều dài 1.488 km Trong đó 300 km đi qua địa hình núi cao, 64 lần vượt sông

Đường dây tải điện 500kv II (Plâycu - Phú Lâm) cũng đã đi vào hoạt động sau khi thuỷ điện Yaly đi

vào hoạt động ổn định tạo nên mạng lưới điện thống nhất trong cả nước, hỗ trợ đắc lực sản xuất và sinh hoạt

của xã hội

d Sự phân hoá lãnh thổ công nghiệp năng lượng

▪ Vùng CNNL Bắc Bộ

- Phạm vi: bao gồm các tỉnh phía Bắc đến phía Nam tỉnh Thanh Hoá Cơ sở năng lượng của vùng

(trước mắt) có từ 2 nguồn (than đá và thuỷ năng) Là vùng tiêu thụ năng lượng lớn nhất của cả nước Vùng

có 2 thế mạnh (tài nguyên và thị trường): Tài nguyên phục vụ cho ngành CNNL phong phú, dồi dào với

Trang 10

mức độ tập trung cao nhất trong cả nước (than Quảng Ninh, thủy năng trên hệ thống sông Hồng), ngoài ravùng có tiềm năng về dầu-khí (Tiền Hải) Thị trường tiêu thụ năng lượng trong vùng rất lớn, nhất là trong cơchế thị trường Các cơ sở sử dụng điện năng lớn như (công nghiệp khai thác than, apatit, luyện kim màu,VLXD); Các TTCN lớn; Các thành phố lớn, các ngành du lịch, dịch vụ kèm theo nó là hàng loạt cácKCNTT, KCX, KCN kỹ thuật cao; Cùng với nó là các vùng sản xuất nông nghiệp trong quá trình CNH’ nhucầu điện cũng ngày càng nhiều Ngoài ra, trong quá trình CNH’, nhiều đô thị cũ được mở rộng và nâng cấp,một số đô thị mới ra đời,… nhu cầu về điện năng ngày càng tăng lên.

- Các trung tâm khai thác năng lượng lớn

Về khai thác than: Quảng Ninh-Phả Lại, tập trung trên 90% sản lượng than cả nước (trong số đó

30% dùng cho SX điện lực và xi măng như nhiệt điện Uông Bí, Phả Lại I, II, Ninh Bình, Việt Trì, CaoNgạn ) Đang XD 3 nhà máy nhiệt điện mới là Hoành Bồ, Hồng Gai, Phả Lại

Về thuỷ điện: Có thuỷ điện Hoà Bình (1920MW) với 8 tổ máy hoạt động, hàng năm sản xuất hơn

chục tỉ kw/h điện Ngoài ra, còn có thuỷ điện Thác Bà (120MW) và nhiều trạm thuỷ điện nhỏ như Tà Sa, NàNgần, Thông Gót, Bản Hoàng, Suối Củn, Tràng Định (Cao Bằng); Vĩnh Tuy, Bắc Quang (Hà Giang) KhuổiSao (Lạng Sơn); Đầm Hà (Quảng Ninh); Sa Pa (Lao Cai); Phong Thổ, Thác Bay, Nậm Cẳn (Lai Châu) tương lai có thêm thủy điện Sơn La và Na Hang sẽ tạo thêm nguồn điện phục vụ sự nghiệp CNH’ và HĐH’đất nước

và một số nhà máy mới như Xêsan 3 và Xêsan 4

▪ Vùng CNNL Nam Bộ

Thế mạnh của vùng là thuỷ điện trên hệ thống S.Đồng Nai và dầu khí ở vùng thềm lục địa Đây làvùng có thị trường tiêu thụ cực lớn, nhưng vùng đang gặp hạn chế lớn giữa cung - cầu Đó là, trong vùng cóhàng loạt các ngành CNCB’sử dụng nhiều điện (CN hoá chất, CBTP, cơ khí, SX HTD, khai thác và dịch vụdầu khí); Nhu cầu điện sinh hoạt (trong đó có TP HCM), dịch vụ, bưu chính viễn thông,.v.v Gần kề đó,ĐBSCL là vùng cung cấp trên 1/2 SLLT và trên 80% sản phẩm gạo xuất khẩu nhu cầu về điện cũng rất lớn.Như vậy, nhu cầu về điện còn quá thiếu để thực hiện CNH’ Trong khi đó, từ năm 1986 bắt đầu khai thácdầu thô, tuy tốc độ ngày càng tăng, nhưng chưa có cơ sở lọc dầu lớn để bổ sung cho nhu cầu Việc khai thác

Trang 11

thuỷ năng trên sông Đồng Nai chủ yếu của các nhà máy thuỷ điện Đa Nhim, Trị An, Thác Mơ, Hàm Thuận

-Đa Mi (riêng thuỷ điện Trị An đôi khi không đủ nước do rừng đầu nguồn bị tàn phá mạnh) Việc khai tháckhí đồng hành từ các mỏ ngoài thềm lục địa vào Bà Rịa và Thủ Đức cung cấp cho các nhà máy điện tuốcbin khí (Phú Mĩ, Bà Rịa, Thủ Đức) cũng chỉ khai thác vài tỉ kwh Trước tình hình trên, vùng vẫn phải sửdụng nguồn năng lượng từ Hoà Bình tải vào và tiếp tục xây dựng thêm nhiều nhà máy mới và hoàn thiệncác đường dây tải điện đến các vùng

2 CÔNG NGHIỆP LUYỆN KIM VÀ CHẾ BIẾN KIM LOẠI (CNLK)

a Vai trò: Đây là ngành được coi là “bánh mì của công nghiệp”, ngành này phát triển khá sớm (từ

sau CM công nghiệp ở châu Âu) Hiện nay, do trình độ phát triển của KH-KT-CN, một số vật liệu mới xuấthiện có nhiều ưu thế hơn kim loại, giá thành hạ Song, sắt, thép và các kim loại khác không dễ gì thay thếđược, kim loại vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong các ngành chế tạo công cụ, máy móc, tàu thuỷ, máy bay, xe hơi,vật liệu xây dựng Ở nước ta, nhu cầu về kim loại trong xây dựng cơ bản rất lớn, đây chính là thị trườngtiêu thụ để cho ngành phát triển

b Sự phát triển và phân bố công nghiệp luyện kim - chế biến kim loại

▪ Về cơ sở nguyên liệu Ngành này bao gồm 2 bộ phận: Khai thác mỏ kim loại, luyện kim sản xuất

gang-thép (luyện kim đen) và các kim loại không có sắt như thiếc, đồng, chì, kẽm, nhôm, vàng (luyện kimmàu) Các mỏ của nước ta khá phong phú, song trữ lượng không đều

+ Về kim loại đen: Lớn nhất là mỏ sắt Thạch Khê (554 triệu tấn, tính đến độ sâu 750 m), hàm lượng

sắt TB 60%, nhưng vỉa quặng lại nằm khá sâu (-160m), nằm sát biển khai thác KK Các mỏ sắt ở Bắc Hà,Nga Mi (ở Tây Bắc) và Tòng Bá (Hà Giang), trữ lượng 120-140 triệu tấn, phần lớn các mỏ nằm ở lưngchừng núi cao, rất KK cho việc thiết kế khai thác Các mỏ ở Thái Nguyên (Trại Cau, Linh Nham, Cù Vân),trữ lượng hạn chế (20-50 triệu tấn) đã khai thác từ 1962 Các mỏ mangan ở Cao Bằng (1,5 triệu tấn) vàChiêm Hoá (Tuyên Quang) cùng với mỏ Núi Thành (Nghệ An) trữ lượng rất nhỏ Crôm ở Cổ Định-ThanhHoá là mỏ duy nhất có ở nước ta, trữ lượng 20,8 triệu tấn, quặng ở dạng sa khoáng trong lớp bồi tích ở chânnúi Nưa, dễ khai thác

+ Về kim loại màu.Bôxít, tập trung chủ yếu ở Bắc Bộ và nhiều nhất ở Tây Nguyên Bắc Bộ có ở Hà

Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn trên vùng núi đá vôi dưới dạng trầm tích, khai thác khó khăn, trữ lượng 50,0triệu tấn Ở Tây Nguyên, trữ lượng khá lớn khoảng vài tỉ tấn (Lâm Đồng, Đắc Nông), hàm lượng nhôm từ

38 - 45%.Thiếc-Vonfram ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), Sơn Dương (Tuyên Quang), Quỳ Hợp (Nghệ An) và NamTrung Bộ, trữ lượng khoảng 16,0 vạn tấn Đồng-Ni ken ở Bản Sang, Bản Phúc (Sơn La), lớn nhất là mỏSinh Quyền (Lào Cai) 60,0-70,0 vạn tấn Kẽm-Chì ở Chợ Điền, Chợ Đồn (Bắc Cạn) Vàng Bồng Miêu(Quảng Nam)

▪ Tình hình phát triển và phân bố

- Ở nước ta, ngành khai thác và luyện kim đã xuất hiện từ rất sớm Nghề luyện đồng có từ trước

công nguyên Nghề luyện sắt có cách đây 2.000 năm, cư dân thời Hùng Vương là người đầu tiên khai tháccác mỏ này (các di tích khảo cổ còn để lại qua 4 giai đoạn đó là Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun vàĐông Sơn) Thời Hùng Vương có những bước tiến mới về kỹ thuật đúc đồng, sắt (di sản để lại là các loại

Trang 12

trống đồng Ngọc Lũ) Thời An Dương Vương (từ nửa sau TK III trước Công nguyên) là thời đại đồ sắt bêncạnh những công cụ, vũ khí bằng đồng, vũ khí nỏ thần đã đi vào truyền thuyết và trên thực tế cũng đã tìmthấy một số kho vũ khí mũi tên làm bằng đồng hàng vạn chiếc ở cầu Vực, P.Nam thành Cổ Loa vào năm

1959 (Lê Quốc Sử, 1998) Thời kỳ phong kiến, nghề này tiếp tục phát triển phục vụ cho xây dựng & bảo vệ

số lò luyện gang và thép nhỏ ở Hà Nội, Hải Phòng, Hàm Rồng Bên cạnh đó, về khai thác thiếc cũng được

mở rộng và hiện đại hoá, với sản lượng ~ 400 tấn thiếc/năm CNLK chỉ thực sự ra đời khi chúng ta xâydựng khu LH gang thép Thái Nguyên vào năm 1962 Công suất thiết kế ban đầu là 20 vạn tấn gang, 10 vạntấn thép Hỗ trợ cho việc luyện gang-thép là các xí nghiệp khai thác than Phấn Mễ, Làng Cẩm, Quán Triều,Trại Cau; Điện Cao Ngạn, cơ khí Bắc Thái, VLXD, hóa chất Sau 1970, khu cán thép Gia Sàng và cơ khínông nghiệp Sông Công đã hoà nhập vào lãnh thổ này

- Ở miền Nam, do thiếu cơ sở nguyên liệu, vì vậy ngành này chủ yếu dựa vào nguồn nguyên liệu

nhập, hoặc sắt phế thải trong chiến tranh, hàng năm đã sản xuất ~ 5 vạn tấn thép thép các loại Trong đóđáng kể nhất là 3 hãng: Vietnam Steel (1,0vạn tấn/năm), Công ty Visaca (2,5 vạn tấn/năm) và hãng ĐôngNam Á (1,2 vạn tấn/năm) Xuất hiện một số xưởng cán đồng từ nguyên liệu nhập, sản xuất tôn tráng kẽmqui mô nhỏ

- Sau 1975, đặc biệt là từ sau công cuộc đổi mới, ngành này được quan tâm và chú trọng phát triển.

Việc phát triển tập trung vào một vài hướng chính: Thăm dò, đánh giá trữ lượng, đưa vào khai thác các mỏmới; mở rộng, hiện đại các mỏ cũ (như thiếc, crôm, bôxít, titan sa khoáng ) Trang bị công nghệ, kĩ thuậttiên tiến thông qua việc chuyển giao kĩ thuật, hợp tác đầu tư với nước ngoài trong các lĩnh vực có liên quannhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng ở trong nước, hạn chế nhập khẩu Sắp xếp lại tổ chức, quản lý nhằmthích ứng với các hoạt động đầu tư trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Kết quả là nhiềunguồn tài nguyên khoáng sản được khảo sát chi tiết hơn, sản lượng và sản phẩm tăng lên Đã thăm dò vàchuẩn bị đưa vào khai thác bôxít (ở Lâm Đồng), sa khoáng ti tan (Bình Định và Hà Tĩnh), khai thác sắtThạch Khê; mở rộng địa bàn khai thác thiếc Nhiều cơ sở luyện thép, cán thép được nâng cấp hoặc XDmới

Bảng 3.10 Tình hình sản xuất một số sản phẩm khai khoáng và luyện kim 1976 2008

Trang 13

-Sản phẩm 1976 1985 1990 1995 2000 2005 2008Thép cán (1000 tấn) 63,8 61,6 101,4 470,0 1583,0 3403,3 5037,0

Thiếc thỏi (tấn) 288,0 501,0 1774,0 1862,0 1803,0 1766,0 3566,0

c Định hướng phát triển: Theo Qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH VN đến năm 2010, định

hướng phát triển ngành công nghiệp này như sau:

▪ Đối với công nghiệp luyện kim đen (chủ yếu là thép): Cải tạo và xây dựng một số cơ sở luyện-cán

thép với qui mô vừa và nhỏ Tiến hành khai thác mỏ sắt Thạch Khê (công suất dự kiến 10 triệu tấnquặng/năm) Xây dựng tổ hợp luyện - cán thép ở miền Trung công suất 2 triệu tấn/năm (gắn với cảng nướcsâu thuận lợi cho vận tải qui mô lớn) Phấn đấu đến 2010, sản lượng thép đạt 7 - 8 triệu tấn Liên doanh vớinước ngoài trong việc xây dựng các cơ sở luyện thép vụn và cán thép tại các vùng có điều kiện thuận lợi vềcảng, GT như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Quãng Ngãi, Biên Hòa,.v.v Ngoài thép xây dựng, cầnchú trọng sản xuất các loại thép chế tạo, nhất là thép hợp kim phục vụ công nghiệp dân sinh và quốc phòng

▪ Đối với công nghiệp luyện kim màu: khai thác bôxít ở Lâm Đồng, XD nhà máy luyện nhôm công

suất 15-20 vạn tấn/năm và một số nhà máy luyện nhôm (5,0-7,0 vạn tấn/năm) ở một số nơi thích hợp (gầnnguồn nguyên liệu, nguồn điện và nguồn nước) Có thể XD một tổ hợp, bao gồm thuỷ điện - khai thác bôxit

- luyện nhôm, để hỗ trợ nhau và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn

▪ Về phân bố, CN LK và CB' kim loại phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố (nguyên liệu, nhiên liệu, động lực) và thị trường tiêu thụ Ở nước ta, các XN thường phân bố theo 2 hướng:

- Phân bố ngay trong vùng có tài nguyên Đó là trường hợp khai thác và CB’ kim loại màu như thiếc

(Tĩnh Túc), Sơn Dương (Cao Bằng), Quỳ Hợp (Nghệ An)

- Phân bố gần thị trường có nhu cầu sử dụng kim loại Đó là, việc xây dựng các nhà máy cán thép ở

Hải Phòng, Đà Nẵng, Bà Rịa, Biên Hoà, Cần Thơ, TP HCM Công suất mỗi nhà máy từ 12,0-20,0 vạntấn/năm) Ngoài ra, KCN gang thép Thái Nguyên, Gia Sàng cũng được nâng công suất từ 10,0 vạn tấn lên20,0 vạn tấn thép/năm Sự phân bố tổng hợp theo hướng thứ 2 đã tạo ra mạng lưới CB' thép rộng khắp cảnước

3 CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ

a Vai trò Công nghiệp cơ khí có nhiệm vụ cung cấp toàn bộ trang - thiết bị phục vụ cho nền

KTQD, AN-QP và đời sống nhân dân Nó đảm bảo việc SX công cụ, thiết bị, máy động lực cho tất cả cácngành sản xuất, kể cả sản xuất HTD cho nhu cầu của xã hội Vì vậy, cùng với ngành công nghiệp luyện kim,

Trang 14

công nghiệp cơ khí được coi là ngành trung tâm-chủ đạo-then chốt trong ngành công nghiệp, là “Máy cái của nền sản xuất xã hội” Với nước ta, trước yêu cầu của sự nghiệp CNH và HĐH, công nghiệp cơ khí phải

đủ mạnh để thực hiện các nội dung của cuộc cách mạng công nghiệp, phải từng bước trang bị kỹ thuật tiêntiến, hiện đại, tăng nhanh NSLĐ, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế

b Tình hình phát triển và phân bố

▪ Sự phát triển.

- Tiền thân của ngành công nghiệp cơ khí là các nghề thủ công tạo ra công cụ sản xuất, các binh

khí phục vụ công cuộc dựng nước và giữ nước Nếu hiểu theo cách này, thì nghề rèn, đúc đã xuất hiện từ

rất lâu đời, dưới thời Hùng Vương Đây là thời “Văn minh sông Hồng” của nước Văn Lang Mở đầu là thời

kỳ này là giai đoạn Phùng Nguyên (cách đây 4.000 năm) Tiếp theo là giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, ĐôngSơn (cách đây gần 3.000 năm) Đặc trưng của nó là chuyển từ thời kỳ đồ đá sang sơ kỳ đồng thau, rồi trung

kỳ và hậu kỳ đồng thau phát triển rực rỡ với đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn (tiêu biểu là trống đồng NgọcLũ) Các công cụ bằng đá nhường chỗ cho đồng thau, dẫn đến những biến đổi sâu sắc về sản xuất, xã hội,chấm dứt thời kỳ nguyên thủy và bước sang thời kỳ có giai cấp và nhà nước

- Dưới thời Pháp thuộc Mặc dù trong suốt quá trình lịch sử lâu dài, tuy các nghề này được phát

triển, nhưng chưa thể tạo ra được ngành cơ khí (theo đúng nghĩa của nó) Cũng trong thời Pháp thuộc, khi

mà ngành công nghiệp cơ khí trên TG đã phát triển ở trình độ cao, thì ở nước ta do chính sách đô hộ củathực dân, ngành cơ khí rất nhỏ bé, chưa có chức năng chế tạo máy móc, thiết bị; chỉ đóng khung ở mức độsửa chữa, lắp ráp một số phương tiện nhỏ như nhà máy xe lửa Gia Lâm (Hà Nội), Tràng Thi (Nghệ An), Dĩ

An (phụ cận Sài Gòn), sửa chữa tàu biển ở Ba Son (Sài Gòn) Lớn nhất là xưởng Ba Son với trang thiết bịtương đối khá và đội ngũ công nhân tương đối lành nghề

- Sau 1954, ở miền Bắc: Dựa vào cơ sở cơ khí từ căn cứ kháng chiến chuyển về, được sự giúp đỡ

của Liên Xô (cũ), năm 1958 chúng ta xây dựng ở Hà Nội nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo (chuyên sản xuấtđộng cơ các loại), sau đó là nhà máy cơ khí công cụ số 1 (chuyên sản xuất các máy công cụ hạng nhẹ vàhạng nặng), nhà máy này được coi là đứa con đầu lòng của ngành công nghiệp cơ khí ở miền Bắc lúc bấygiờ Tiếp theo, một số nhà máy cơ khí chuyên ngành cũng ra đời (cơ khí thiết bị mỏ, cơ khí lâm nghiệp, cơkhí nông nghiệp, cơ khí dệt ) Như vậy, từ chỗ hầu như với 2 bàn tay trắng (ngoại trừ xưởng sửa chữa xelửa Gia Lâm, Tràng Thi và xưởng sửa chữa tàu thủy ở Hải Phòng), sau một thời gian ngắn đã phát triểnthành một ngành với cơ cấu đa dạng từ chế tạo-sửa chữa; từ lắp ráp-sản xuất hoàn chỉnh các máy công cụ,

phương tiện vận tải; từ sản xuất đơn lẻ đến thiết bị toàn bộ Một số xí nghiệp quan trọng hàng đầu đã và đang phát huy tác dụng trong sản xuất và QP gồm: (1) Nhà máy công cụ số 1 Hà Nội, chuyên SX máy công

cụ (2) Nhà máy cơ khí trung tâm Cẩm Phả-Quảng Ninh, chuyên sản xuất phương tiện và thiết bị khai thác

mỏ (3) Nhà máy đóng tàu Hạ Long (Quảng Ninh) chuyên đóng tàu trọng tải 3.000tấn (4) Nhà máy sửa chữa tàu viễn dương Phà Rừng - Quảng Ninh (5) Nhà máy cơ khí Sông Công (Thái Nguyên) sản xuât động

cơ điêzen và hàng loạt các nhà máy khác như nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo (Hà Nội), nhà máy biến thế,

thiết bị lạnh (Hà Nội), nhà máy sản xuất máy bơm nước Hải Dương.v.v Ở miền Nam, ngành này chủ yếu là

gia công, sửa chữa, lắp ráp các thiết bị lẻ phục vụ đời sống như xe máy, máy khâu, tủ lạnh, máy thu thanh

Cơ khí chế tạo hầu như vắng mặt

Ngày đăng: 06/07/2014, 05:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.8. Một số nhà máy thuỷ điện hiện có (hoặc đang xây dựng) tính đến 2006. - Các ngành công nghiệp chủ yếu
Bảng 3.8. Một số nhà máy thuỷ điện hiện có (hoặc đang xây dựng) tính đến 2006 (Trang 8)
Bảng 3.9. Một số nhà máy nhiệt điện đã hoạt động và đang xây dựng - Các ngành công nghiệp chủ yếu
Bảng 3.9. Một số nhà máy nhiệt điện đã hoạt động và đang xây dựng (Trang 9)
Bảng 3.11. Tình hình sản xuất   một số sản phẩm của ngành công nghiệp cơ khí từ - Các ngành công nghiệp chủ yếu
Bảng 3.11. Tình hình sản xuất một số sản phẩm của ngành công nghiệp cơ khí từ (Trang 15)
Bảng 3.12. Một số sản phẩm   chủ yếu của ngành công nghiệp hoá chất từ 1995 - -2008. - Các ngành công nghiệp chủ yếu
Bảng 3.12. Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp hoá chất từ 1995 - -2008 (Trang 18)
Bảng 3.13. Tình hình sản xuất một số sản phẩm của ngành công nghiệp VLXD từ 1995 - Các ngành công nghiệp chủ yếu
Bảng 3.13. Tình hình sản xuất một số sản phẩm của ngành công nghiệp VLXD từ 1995 (Trang 20)
Bảng 3.14. Sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp chế biến lương thực – thực phẩm - Các ngành công nghiệp chủ yếu
Bảng 3.14. Sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp chế biến lương thực – thực phẩm (Trang 24)
Bảng 3.15. Một số sản phẩm chủ yếu của công nghiệp sản xuất HTD thời kỳ 1995 – 2005 - Các ngành công nghiệp chủ yếu
Bảng 3.15. Một số sản phẩm chủ yếu của công nghiệp sản xuất HTD thời kỳ 1995 – 2005 (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w